Tải bản đầy đủ

Đánh giá hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng của công ty TNHH vương đô

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Lý do chọn đề tài
Khi đất nước chuyển mình cùng với sự phát triển chung của thế giới thì diện mạo
đất nước cũng thay đổi, như sự phát triển về kinh tế, cơ cấu hạ tầng được nâng cao,
chất lượng cuộc sống cũng được nâng cao hơn. Có thể quan sát thấy trực tiếp đó là sự
mọc lên của các công trình công nghiệp và dân dụng đáp ứng yêu cần của công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một đất nước với những tòa nhà cao ốc,
những khu công nghiệp, những khu chung cư, sẽ là bức tranh toàn cảnh về đất nước
đó có thịnh vượng hay không? Tuy nhiên, những công trình xây dựng chỉ phản ánh
một mặt vấn đề xã hội, khi nhu cầu xây dựng, kiến thiết càng cao thì rất dễ xảy ra tình
trạng chất lượng các công trình yếu kém, nguyên nhân có thể do công tác chuẩn bị đầu
tư, tư vấn thiết kế chưa tốt, chưa đầy đủ, thiết kế phải khảo sát lại; nhiều nhà thầu năng
lực tài chính kém nhưng nhìn một cách tổng thể thì còn một nguyên nhân cốt lõi
khiến chất lượng công trình thi công yếu kém là do công tác quản lý công trình của các
cán bộ, quản lý dự án. Phải chăng chúng ta nên quan tâm đúng mức hơn nữa đến vấn
đề nâng cao chất lượng công trình? Đúng vậy, vấn đề này đã trở nên cấp thiết hơn bao
giờ hết trong toàn xã hội, trong đó doanh nghiệp xây dựng giữ vai trò hết sức quan

trọng bởi họ chính là những người trực tiếp thực hiện các công trình. Do vậy, các
doanh nghiệp cần chủ động hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý
chất lượng để tránh xảy ra những tình trạng đáng tiếc. Nâng cao chất lượng các công
tác xây dựng là một việc vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Mặt khác, với sự hội nhập kinh tế thì sẽ đi cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa
các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề. Và ngành xây dựng cũng không phải là
ngoại lệ, trong khi Ninh Bình đang trên đà phát triển thì các doanh nghiệp xây dựng sẽ
cạnh tranh gay gắt để có đươc những hợp đồng xây dựng cho mình. Một trong những
yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng không chỉ là quy mô,
tính chất công trình mà còn là chất lượng công trình xây dựng. Trên thực tế hiện nay,
đã xảy ra không ít sự cố liên quan tới chất lượng công trình xây dựng mà hậu quả của
chúng là vô cùng to lớn, không chỉ về tài sản mà còn về con người. Những doanh
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 2
nghiệp thực sự quan tâm, biết đến lợi ích cơ bản, lâu dài của hoat động chất lượng “sản
phẩm”, xây dựng chiến lược về nâng cao chất lượng sản phẩm, nó sẽ hỗ trợ tăng
cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao thương hiệu sản phẩm, uy tín
của doanh nghiệp trên thị trường. Công ty TNHH Vương Đô là một doanh nghiệp đã
có được uy tín và thương hiệu trên lĩnh vực xây dựng và đã đem đến cho công ty rất
nhiều những dự án xây dựng lớn. Bên cạnh những kết quả đạt được thì công ty cũng
còn một số tồn tại trong công tác quản trị chất lượng tại các công trình xây dựng. Xuất
phát từ những thực trạng trên tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hoạt động quản lý chất
lượng công trình xây dựng của công ty TNHH Vương Đô”. Để nêu lên được thực
trạng hoạt động quản lý chất lượng công trình tại công ty, nêu ra được vấn đề còn tồn
tại, và chỉ ra được nguyên nhân của tồn tại đó, để đề ra một số biện pháp nhằm hoàn
thiện hơn cho công tác quản trị chất lượng các công trình do công ty thực hiện. Khóa
luận gồm các phần chính sau:
Chương 1: Tổng quan về quản lý chất lượng công trình.
Chương 2: Đánh giá hoạt động quản lý chất lượng công trình tại Công ty TNHH
Vương Đô.
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý chất
lượng công trình tại Công ty Vương Đô .
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn, các kiến thức liên quan đến chất
lượng, quản lý chất lượng, quản lý chất lượng công trình xây dựng, hoạt động xây dựng.
- Đánh giá được hoạt động quản lý chất lượng của công ty thông qua các yếu tố
quản lý bên trong công ty: nhân sự, thông tin, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, môi
trường và phương pháp quản lý.
- Đề ra một số giải pháp để củng cố và nâng cao trong hoạt động quản lý chất
lượng công trình.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quản lý chất lượng các công trình xây dựng
của công ty TNHH Vương Đô
 Đối tượng điều tra: cán bộ quản lý trực tiếp tại các công trình đang thực hiện.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 3
 Phạm vi nội dung: các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý chất
lượng công trình xây dựng.
 Phạm vi không gian: Công ty TNHH Vương Đô
 Phạm vi thời gian:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập các dữ liệu trong những năm 2009- 2011 thời gian
tháng 3-2012
- Dữ liệu sơ cấp : Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian tháng 3 đến tháng 4
năm 2012 bằng cách phát bảng hỏi để thu thập. Nhập và xử lý số liệu từ ngày 5 tháng
4 đến ngày 8 tháng 4 năm 2012.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp thu thập số liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Từ phòng Kế toán- Tài chính, phòng Kỹ thuật, phòng Tổ
chức- Hành chính của Công ty như: sơ lược về Công ty, tình hình kết quả kinh doanh,
công tác xây dựng, Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ sách báo, tạp chí,
Internet, liên quan tới Quản trị chất lượng, công trình xây dựng,
- Dữ liệu sơ cấp: Ngoài các số liệu thứ cấp nói trên để có cơ sở khách quan cho
việc phân tích, đánh giá, sâu hơn các yếu tố bên trong tổ chức ảnh hưởng tới chất
lượng công trình, tôi tổ chức lấy ý kiến đánh giá đối với cán bộ quản lý, giám sát của
Công ty qua phiếu điều tra được soạn sẵn. Thang điểm sử dụng cho các ý kiến đánh
giá là từ 1 đến 5 tương ứng với từ rất không đồng ý tới rất đồng ý (Phụ lục số 2)
- Phương pháp lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Do các dự án công trình Công ty
đấu thầu thành công chủ yếu được giao khoán gọn việc tổ chức thi công cho Đội (từng
giai đoạn hoặc cả công trình). Công ty sẽ cử các cán bộ kỹ thuật kiêm giám sát, quản
lý trực tiếp tại các công trình hiện Công ty đang thi công theo đúng như hợp đồng giao
khoán và đảm bảo kỹ thuật cho công trình. Hoặc các dự án do Đội thợ của Công ty
cùng với cán bộ kỹ thuật tiến hành thi công. Tiến hành điều tra toàn bộ số đối tượng
này hiện tại là 43 người.
- Phương pháp điều tra: Do đối tượng điều tra là các cán bộ quản lý thuộc công ty
đi theo công trình tại các địa điểm thi công khác nhau. Hơn nữa, theo quy định của
Công ty hàng tuần sẽ phải lên Công ty báo cáo lại tình hình thi công để Ban lãnh đạo
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 4
nắm bắt và có biện pháp thích hợp trong trường hợp có sự cố. Do vậy, bảng hỏi được
tiến hành điều tra vào thời gian ngày cuối tuần để có thể tiếp xúc được đối tượng điều
tra. Đồng thời, trong quá trình điều tra bằng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn trực tiếp
để tìm hiểu thêm thông tin.
 Phương pháp phân tích:
 Tiến hành điều tra thử 30 mẫu tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo
bằng Cronbach- Alpha.
 Sử dụng thống kê mô tả để thống kê ý kiến đánh giá, sử dụng bảng tần số và đồ
thị để thể hiện từ đó khái quát lên được việc quản lý các yếu tố bên trong Công ty, ưu
điểm và mặt hạn chế, đưa ra kết luận, sử dụng.











Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 5
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm
1.1.1. Chất lượng sản phẩm
1.1.1.1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất
phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, để hiểu rõ và đầy đủ
về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn giản. Bởi đây là một phạm trù
phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những
góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra
những quan niệm về chất lượng sản phẩm thành những nhóm chủ yếu sau:
 Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của
sản phẩm.
Quan niệm này khá trừu tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể xác định một
cách chính xác.
 Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm là tổng hợp
những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, phản giá trị sử
dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu định trước cho nó, trong những
yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng đơn
thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.
Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất lượng
không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn đến kết quả là
tiêu thụ sản phẩm kém.
 Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiều chuyên gia
nổi tiếng như:
 Theo W.E.Deming- được coi là cha đẻ của quản lý chất lượng: “ Chất lượng là
mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và
được thị trường chấp nhận”.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 6
 Theo Philip B.Crosby- một chuyên gia bậc thầy về quản lý chất lượng, trong quyển
“Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.
 Theo Armand V. Feigenbaum- người sáng tạo ra thuật ngữ Kiểm soát Chất
lượng Toàn diện: “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm dịch vụ mà
khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được mong đợi của khách hàng”.
Hầu hết các tác giả đều khẳng định chất lượng sản phẩm chính là mức độ thỏa
mãn nhu cầu hay sự phù hợp với những đòi hỏi của khách hàng. Từ đó mà mức độ đáp
ứng nhu cầu là cơ sở đánh giá trình độ chất lượng sản phẩm đạt được. Chất lượng sản
phẩm không chỉ là các chỉ tiêu kỹ thuật mà cả về những yêu cầu về mặt kinh tế xã hội.
Điểm đặc biệt nổi bật của quan niệm này là ở chỗ chất lượng sản phẩm luôn gắn bó
chặt chẽ với nhu cầu và xu hướng vận động của nhu cầu thị trường nên sản phẩm phải
thường xuyên cải tiến, đổi mới phù hợp cho thích ứng với đòi hỏi của khách hàng.
- Ngoài ra, xuất phát từ việc nhấn mạnh đến mục tiêu chủ yếu của từng doanh
nghiệp theo đổi nhằm thích ứng với đòi hỏi của thị trường như lợi thế cạnh tranh, tính
hoàn thiện không ngừng của sản phẩm, khả năng vượt những đòi hỏi của khách
hàng,…ta còn có các quan điểm khác về chất lượng sản phẩm như:
 Quan niệm của tổ chức tiêu chuẩn chất lượng của nhà nước Liên Xô (IOCT:
15467:70): “Chất lượng sản phẩm là tổng thể những thuộc tính của nó quy định tính
thích hợp sử dụng của sản phẩm để thỏa mãn những nhu cầu phù hợp với công dụng
của nó”.
 Quan niệm của tổ chức tiêu chuẩn chất lượng Quốc tế ISO: “Chất lượng là
tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong
những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người
tiêu dùng mong muốn.”
Cho tới nay quan niệm chất lượng sản phẩm tiếp tục được mở rộng hơn nữa,
“Chất lượng là sự kết hợp giữa các đặc tính của sản phẩm thỏa mãn những nhu cầu của
khách hàng trong giới hạn chi phí nhất định. Trong thực tế ta thấy rằng các doanh
nghiệp không theo đuổi chất lượng cao với bất cứ giá nào mà luôn đặt nó trong một
giới hạn về công nghệ, kinh tế, xã hội.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 7
1.1.1.2. Phân loại chất lượng sản phẩm
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đã đưa ra 6
loại chất lượng sản phẩm như sau:
 Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản
phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản xuất, chất
lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu cầu về vật liệu chế
tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu cầu về bảo quản, về thử nghiệm
và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính
sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có
đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
 Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phê
duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là các cơ quan quản lý
và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượng này
trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
 Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm
và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản phẩm.
 Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn
và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý chất
lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp đồng giữa đôi
bên quy định.
 Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thị trường
trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất. Nó nói lên mối quan hệ
giữa chất lượng sản phẩm và chi phí.
 Chất lượng toàn phần: là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữa hiệu
quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản xuất và sử
dụng sản phẩm đó.
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng ta có thể chia thành
hai nhóm yếu tố chủ yếu. Đó là nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong.

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 8
Nhóm yếu tố bên ngoài:
 Nhu cầu của nền kinh tế:
Ở bất cứ trình độ nào, với mục đích sử dụng gì, chất lượng sản phẩm bao giờ
cũng bị chi phối, rằng buộc bởi hoàn cảnh, điều kiện nhu cầu nhất định của nền kinh
tế, được thể hiện ở những mặt sau:
+ Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng.
Trước khi tiến hành thiết kế, sản xuất sản phẩm, cần phải tiến hành nghiêm túc, thận
trọng công tác điều tra nghiên cứu nhu cầu thị trường, phân tích môi trường kinh tế -
xã hội, nắm bắt chính xác các yêu cầu chất lượng cụ thể của khách hàng cũng như
những thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán, văn hóa lối sống, khả năng thanh toán
của khách hàng để có đối sách đúng đắn.
+ Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: đảm bảo chất lượng luôn là vấn đề nội tại
của bản thân nền sản xuất xã hội nhưng việc nâng cao chất lượng không thể vượt ra
ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế.
+ Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm nào đó cũng
như mức thỏa mãn các loại nhu cầu được thể hiện trong các chính sách kinh tế có tầm
quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
 Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Trong thời đại ngày nay, trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn
liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là sự ứng dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hướng chính của việc áp dụng các kỹ
thuật tiến bộ hiện nay là: Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế hoặc cải tiến
hay đổi mới công nghệ hoặc cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới.
 Hiệu lực của cơ chế quản lý:
Có thể nói rằng khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức
phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi nước.
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng
sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi
của nhà sản xuất và người tiêu dung.

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 9
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến chất
lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động
các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp quản lý chất
lượng hiện đại.
Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm ( được biểu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- M1- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả thành
viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Chất lượng sản phẩm
phụ lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác của
các thành viên trong bộ phận doanh nghiệp.
- M2- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản
lý và tổ chức sản xuất của tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo và nâng
cao chất lượng sản phẩm. Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ quản lý
và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác tốt nhất các nguồn
lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh.
- M3- Machines (máy móc thiết bị): khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị
của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc nâng
cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao động.
- M4- Materials (nguyên vật liệu): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ
chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên nhiên liệu
được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời
hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ngoài bốn yếu tố cơ bản trên, chất lượng sản phẩm còn chịu ảnh hưởng của các
yếu tố khác như: I- Information, E- Environment:
- I- Information (thông tin): hệ thống và các biện pháp quản lý thông tin hoạt
động hiệu quả, kịp thời, phù hợp với những biến đổi sẽ giúp cho hoạt động của doanh
nghiệp phát triển tốt, đạt hiệu quả cả trong sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm.
- E- Environment (môi trường): môi trường bao gồm: môi trường làm việc của
nhân viên, môi trường sản xuất, an toàn lao động, vệ sinh, chính sách bảo vệ môi
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 10
trường,… Yếu tố này có tác động lớn đến hiệu quả làm việc của người lao động cũng
như chất lượng sản phẩm làm ra.
1.1.2. Quản lý chất lượng
1.1.2.1. Khái niệm về quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một khái niệm rộng xét từ khái niệm “quản lý” và “chất
lượng”. Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) nêu trong Tiêu
chuẩn Quốc tế ISO 9000:2000:
- Chất lượng là mức độ đáp ứng yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có.
- Quản lý chất lượng được hiểu là các hoạt động nhằm điều chỉnh và kiểm soát
một cơ quan, tổ chức về (vấn đề) chất lượng.
Theo các định nghĩa này ta có thể thấy phạm vi quản lý là rất rộng. Tuy nhiên,
đứng ở phạm vi quốc gia quản lý chất lượng được thực hiện chủ yếu ở hai cấp độ
chính là Nhà nước và Doanh nghiệp. Xét về đối tượng, đối tượng của quản lý chất
lượng chính là các sản phẩm của tổ chức, trong đó bao gồm hàng hóa, dịch vụ hoặc
quá trình.
1.1.2.2. Các phương pháp quản lý chất lượng gồm
 Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection- QI) với mục tiêu để sàng lọc các sản
phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản
phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm
bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
 Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo
ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát các yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình tạo ra chất lượng sản phẩm, bao gồm:
- Kiểm soát con người thực hiện.
- Kiểm soát phương pháp và quy trình sản xuất.
- Kiểm soát nguyên vật liệu đầu vào.
- Kiểm soát bảo dưỡng thiết bị.
- Kiểm soát môi trương làm việc.
Việc kiểm soát nhằm chủ yếu vào quá trình sản xuất để khắc phục những sai sót
ngay trong quá trình thực hiện.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 11
 Đảm bảo chất lượng (Quanlity Assurance- QA) là hoạt động có kế hoạch, có hệ
thống được hình thành trong một hệ thống chất lượng và được kiểm định chất lượng
sản phẩm sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu đã quy định đối với chất lượng. Nội dung cơ
bản của các hoạt động đảm bảo chất lượng là người cung cấp phải xây dựng một hệ
thống đảm bảo chất lượng có hiệu lực, hiệu quả, đồng thời làm thế nào để chứng tỏ
khách hàng biết được điều đó.
 Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control - TQC) với mục tiêu
kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra trước
và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch,
phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển, phân phối, bán hàng và dịch
vụ sau khi bán hàng.
 Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) với mục tiêu
của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt nhất có
thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản lý và cải
tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của tất cả các
cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.
Các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự phát triển của
hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ra trong hàng thế kỷ qua,
thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong tiến trình phát triển
kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới.
 Ngoài ra trên thế giới còn Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 về quản lý chất
lượng được thông qua lần đầu tiên vào năm 1987 (ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ
tiêu chuẩn này đã được sửa đổi bổ xung lần thứ ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là
sự thay đổi về chất đối với bộ tiêu chuẩn này, đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm
bảo chất lượng” bằng “quản lý chất lượng”. Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ
dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất
cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện, viện nghiên
cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là có thể áp
dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nhằm
đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 12
mình. Khái niệm sản phẩm ở đây theo đó cũng hết sức rộng: ‘nó là kết quả của một
quá trình hoạt động của con người’
 Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001),
nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét áp dụng,
như ISO 14001 - hệ thống quản lý môi trường, HACCP - Hệ thống Phân tích các nguy
cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, GMP - Quy
chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 - Hệ
thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội
và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống
quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa
dầu - Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầu đối
với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước
cũng được quan tâm. Điều này chứng tỏ quản lý chất lượng ngày càng trở nên quan
trọng và được áp dụng sâu rộng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
1.1.2.3. Các nguyên tắc quản lý chất lượng
 Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu những nhu
cầu hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà còn vượt cao hơn sự
mong đợi của họ.
 Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh
nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn
toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
 Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia
đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp.
 Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt
động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 13
 Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan lẫn
nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp.
 Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh
nghiệp. Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh nghiệp
phải liên tục cải tiến.
 Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh muốn
có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông tin.
 Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.
Doanh ngiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ tương hỗ
cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.
1.2. Quản lý chất lượng công trình
1.2.1. Khái niệm quản lý chất lượng công trình
Thông thường, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng
sản phẩm xây dựng:
- Chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng,
độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an
toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời gian (thời gian
phục vụ của công trình).
Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ
từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả
trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan khác. Một
số vấn đề cơ bản trong đó là:
- Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ trong khi hình
thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát,
thiết kế, thi công đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết
thời hạn phục vụ. Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây
dựng, chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng
các bản vẽ thiết kế
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 14
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên
vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng
mục công trình.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định
nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện
các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư
lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng.
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ
hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công
nhân, kỹ sư xây dựng.
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể
phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai
thác, sử dụng.
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải
chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các
hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các
yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu
tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.
Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để quản lý
được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện pháp kỹ thuật và áp dụng
các tiêu chuẩn tiên tiến.
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
1.2.2.1. Về con người.
Để quản lý chất lượng công trình tốt thì nhân tố con người là hết sức quan trọng,
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình. Cán bộ phải là những kỹ sư chuyên
ngành có nhiều kinh nghiệm trong công tác, có phẩm chất, đạo đức tốt, có ý thức trách
nhiệm cao. Và công nhân phải có tay nghề cao, có chuyên ngành, có sức khỏe tốt và có
ý thức trách nhiệm cao và đều là công nhân được đào tạo cơ bản qua các trường lớp.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 15
Nếu kiểm soát tốt chất lượng cán bộ, công nhân thì sẽ kiểm soát được chất lượng công
trình góp phần vào việc quản lý tốt chất lượng công trình. Nội dung về quản lý nguồn
nhân lực gồm có:
- Nguồn nhân lực phải có năng lực dựa trên cơ sở được giáo dục, đào tạo, có kỹ
năng và kinh nghiệm thích hợp.
- Đảm bảo sắp xếp công việc sao cho phù hợp với chuyên môn của mỗi cán bộ,
công nhân, để phát huy tối đa năng lực của họ.
- Lập báo cáo đánh giá năng lực của các cán bộ kỹ thuật, công nhân hàng năm
thông qua kết quả làm việc để từ đó có kế hoạch cụ thể trong việc xắp xếp công việc
phù hợp với năng lực của từng người. Đồng thời đó sẽ là cơ sở để xem xét việc tăng
lương, thăng chức cho các cán bộ, công nhân.
- Lưu giữ hồ sơ thích hợp về trình độ, kỹ năng, kinh ngiệm chuyên môn, hiệu quả
làm việc của mỗi người lao động. Sau này sẽ dựa vào đó để xem xét lựa chọn người
được cử đi học chuyên tu nâng cao chuyên môn, tay nghề.
- Công ty cần có chính sách đãi ngộ hợp lý cho các bộ cán bộ,công nhân để có
thể khuyến khích họ làm việc hăng say và có trách nhiệm trong công việc. Việc
khuyến khích phải tuân theo nguyên tắc:
+ Gắn quyền lợi với chất lượng công việc. Lấy chất lượng làm tiêu chuẩn đánh
giá trong việc trả lương, thưởng và các quyền lợi khác.
+ Kết hợp giữa khuyến khích vật chất và khuyến khích tinh thần. Thiên lệch về
một phía thì sẽ dễ gây ra tác động ngược lại.
- Ngoài ra, Công ty cần lập kế hoạch cụ thể cho việc tuyển dụng lao động để đảm
bảo về số lượng cũng như chất lượng nguồn lao động để tránh tình trạng thừa lao động
nhưng lại thiếu lao động có tay nghề cao. Kế hoạch tuyển dụng có thể tiến hành hàng
năm hoặc 5 năm 1 lần, tùy theo nhu cầu của Công ty, và tính chất công việc.
Việc tuyển dụng cần được thực hiện như sau:
+ Lập hồ sơ chức năng: nêu rõ những yêu cầu, tính chất công việc cần tuyển dụng.
+ Dự kiến trước nội dung thi và cách thức tổ chức, đánh giá và tuyển chọn.


Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 16
1.2.2.2. Về vật tư
Vật tư bao gồm vật liệu xây dựng, cấu kiện, bán thành phẩm, linh kiện…được
đưa vào quá trình xây lắp tạo ra các công trình hoàn thiện. Vật tư có vai trò quan trọng,
là điều kiện tiên quyết trong việc đảm bảo chất lượng công trình. Quản lý và sử dụng
đúng các chủng loại vật liệu, đảm bảo chất lượng và số lượng các loại vật tư sẽ góp
phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng. Để là được điều đó thì cần phải thực
hiện quản lý toàn bộ quá trình từ khi tìm kiếm, khai thác nguồn cung cấp vật tư cho
đến khi đưa vật tư vào sản xuất và thi công, bao gồm:
- Nhà cung cấp uy tín có địa chỉ rõ ràng, có đăng ký chất lượng hàng hoá.
- Kho tàng đạt tiêu chuẩn.
- Thủ kho tinh thông nghiệp vụ và phẩm chất tốt.
- Phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép.
- Hệ thống sổ sách, chứng từ xuất, nhập đúng quy định, cập nhật thường xuyên,
phản ánh đúng đủ số lượng, chủng loại, phẩm cấp chất lượng và nguồn gốc vật liệu.
- Hệ thống lưu mẫu các lô vật tư nhập vào kho kèm theo các biên bản nghiệm
thu vật tư.
- Ta cũng cần quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các phòng chức năng và các
đơn vị thành viên:
+ Phòng kế hoạch - kỹ thuật có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc xét duyệt tiến
độ cung ứng vật tư, tổng mặt bằng thi công (trong đó thể hiện phương án quản lý vật
liệu). Kiểm tra quy trình quản lý chất lượng vật liệu tại công trình như: Kho tàng, hệ
thống sổ sách, chứng từ phản ánh nguồn gốc chất lượng, phẩm cấp vật tư, biên bản
nghiệm thu.
+ Phòng tài chính tham mưu cho Giám đốc Công ty xét duyệt tiến độ cấp vốn
đồng thời đảm bảo kinh phí theo tiến độ được duyệt, quản lý các hợp đồng cung cấp
vật tư, kiểm tra độ tin cậy của nguồn gốc vật tư, hướng dẫn các đơn vị lập hệ thống sổ
sách mẫu biểu quản lý vật tư, kiểm tra tính pháp lý các chứng từ thanh toán mua vật tư
và các công việc liên quan khác.
+ Các tổ đội là đơn vị trực tiếp thực hiện việc quản lý và sử dụng vật tư, chịu
trách nhiệm trực tiếp về chất lượng, chủng loại vật tư đưa vào công trình. Có nhiệm
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 17
vụ, lập tổng mặt bằng thi công, tiến độ thi công, tiến độ cung ứng vật tư, tiến độ cấp
vốn, tìm nguồn cung ứng vật tư đáp ứng yêu cầu về chất lượng và số lượng, phù hợp
điều kiện thi công tại khu vực, tiến hành kiểm tra vật tư trước khi đưa vào thi công (chỉ
đưa vào sử dụng các vật tư, cấu kiện bán thành phẩm có chứng chỉ xác nhận phẩm cấp
chất lượng sản phẩm). Tổ chức lưu mẫu các lô vật tư nhập về, tổ chức lưu giữ chứng
từ xuất nhập, chứng chỉ xuất xưởng, kết quả thí nghiệm vật tư, biên bản nghiệm thu…
theo đúng các quy định hiện hành.
1.2.2.3. Về máy móc thiết bị
Máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất là yếu tố quan trọng trong quá trình thi
công, quyết định đến tiến độ và chất lượng công trình xây dựng. Nội dung quản lý chất
lượng thiết bị, dây chuyển sản xuất của Công ty gồm:
- Xây dựng kế hoạch đầu tư các máy móc thiết bị, phương tiện và dây chuyền sản
xuất tiên tiến, phù hợp với trình độ hiện tại của công nhân.
- Xây dựng hệ thống danh mục, trình độ công nghệ của máy móc thiết bị sao cho
phù hợp với tiêu chuẩn chất lượng do Nhà nước quy định.
- Định kỳ tiến hành các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng các thiết bị phương tiện
theo đúng quy định của ngành.
- Xây dựng và quản lý hồ sơ của từng máy móc thiết bị, phương tiện, dây chuyển
sản xuất theo từng năm. Tiến hành ghi sổ nhật ký tình hình sử dụng, sửa chữa, bảo
dưỡng các máy móc thiết bị và đánh giá định kỳ hàng năm.
- Quản lý định mức, đơn giá máy thi công, ban hành các quy trình, quy phạm sử
dụng máy.
- Bên cạnh đó cần tiến hành phân cấp quản lý cho từng bộ phận, xí nghiệp thành viên:
+ Phòng kế hoạch kỹ thuật có nhiệm vụ tổng hợp xây dựng kế hoạch đầu tư thiết
bị, phương tiện Công ty hàng năm và dự báo nhu cầu đầu tư máy móc thiết bị trung và
dài hạn. Thực hiện việc quản lý thống kê, đánh giá năng lực máy theo định kỳ, đề xuất
việc điều phối phương tiện, thiết bị giữa các xí nghiệp thành viên.
+ Các phòng chức năng khác tuỳ thực hiện nhiệm vụ tương ứng với chức năng
của mình.
+ Các xí nghiệp là đơn vị chịu trách nhiệm trước giám đốc Công ty về việc bảo
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 18
toàn, khai thác hiệu quả máy móc thiết bị. Cụ thể các xí nghiệp phải thực hiện các
công việc:
 Xây dựng kế hoạch đầu tư thiết bị phục vụ sản xuất, thi công của “xí nghiệp”
hàng năm phù hợp kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị, lựa chọn đầu tư những
thiết bị, phương tiện phù hợp công nghệ và tiên tiến nhất.
 Thực hiện quá trình đầu tư đúng trình tự, thủ tục theo quy định hiện hành của
Nhà nước, đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư cao nhất.
 Xây dựng định mức hạch toán chi phí nội bộ cho từng loại thiết bị, phương tiện
được giao quản lý đề nghị Công ty phê duyệt.
 Sử dụng các thiết bị, máy móc, phương tiện đúng mục đích, đúng quy trình vận
hành, tính năng theo tài liệu hướng dẫn sử dụng. Không được khai thác quá công suất
tối đa cho phép. Đối với mỗi loại thiết bị, phương tiện phải xây dựng bảng chỉ dẫn quy
trình vận hành.
 Xây dựng kho, lán đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh, an toàn, có hệ thống
phòng chống cháy nổ để lưu giữ, bảo quản thiết bị, phương tiện.
 Hàng năm thực hiện công tác kiểm kê, lập báo cáo kiểm kê định kỳ, đánh giá
chất lượng và phân cấp thiết bị, phương tiện theo hướng dẫn của các phòng chức năng.
 Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, phương tiện theo chế độ quy định đối với từng loại.
Đối với những loại thiết bị, phương tiện có giá trị lớn hoặc hiếm, Công ty khuyến
khích mua bảo hiểm tài sản cho suốt đời máy hoặc trong thời gian cần thiết. Thực hiện
kiểm định thiết bị, phương tiện định kỳ và đột xuất theo yêu cầu của chủ đầu tư.
 Xây dựng hệ thống quản lý hồ sơ, lý lịch máy, mở sổ nhật ký theo dõi lịch trình
hoạt động của thiết bị, phương tiện.
1.2.2.4. Về phương pháp
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng nói riêng là một trong
những nhân tố cơ bản góp phần đẩy mạnh tốc độ cải tiến, hoàn thiện chất lượng công
trình. Trong đó quản lý thi công công trình là một khâu quan trọng trong quản lý chất
lượng công trình. Phương pháp công nghệ thích hợp, hiện đại, với trình độ tố chức
quản lý tốt thì sẽ tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 19
Quản lý thi công công trình là tổng hợp các hoạt động từ xây dựng hình thức tổ
chức thi công thể hiện tính khoa học và kinh tế đến quản lý quy phạm, quy trình kỹ
thuật, định mức khối lượng, …, quản lý hệ thống hồ sơ công trình theo quy định.
1.2.2.5. Về yếu tố thông tin
Hệ thống thông tin nội bộ đóng vai trò trao đổi giữa các thành viên trong tổ chức.
Trao đổi thông tin là một quá trình chuyển tin từ người truyền thông tin đến người
nhận, khi trao đổi thông tin có thể sử dụng các phương tiện và hình thức khác nhau
như: bằng miệng, fax, thư điện tử,… Một tổ chức có hai phương thức thông tin:
phương thức dọc và phương thức ngang. Phương thức dọc được trao đổi giữa Ban
giám đốc với bộ phận cấp dưới. Phương thức ngang đề cập đến việc truyền thông tin
giữa các cấp, các cá nhân trong cùng một cấp. Việc trao đổi thông tin hiệu lực khi mỗi
thành viên của Công ty chịu tác động của cả hai hệ thống trên sao cho giúp đỡ việc cải
tiến hiệu năng của tổ chức đạt mục tiêu.
1.2.2.6. Về yếu tố môi trường
Bao gồm môi trường làm việc vật chất và môi trường làm việc tinh thần. Đảm
bảo điều kiện làm việc với trang thiết bị an toàn lao động với việc cung cấp đầy đủ
trang thiết bị bảo hộ lao động, các quy chế đảm bảo nhằm thực hiện tốt nhất yếu tố an
toàn. Đồng thời thực hiện giám sát chặt chẽ công tác an toàn trên công trường nhằm
giảm thiểu tới mức thấp nhất những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
1.2.3. Nội dung cơ bản của quy trình quản lý thi công
1.2.3.1. Các hình thức tổ chức thi công
Có 03 hình thức tổ chức thi công chính:
 Quản lý tập trung có giao khoán chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho CNCT (Chủ
nhiệm công trình)
 Giao khoán gọn việc tổ chức thi công cho Đội thi công (từng giai đoạn hoặc cả
công trình).
 Giao khoán toàn bộ hợp đồng cho Đội thi công.
1.2.3.2. Nội dung, trình tự thực hiện quy trình
Chuẩn bị tổ chức thi công:
- Ký hợp đồng giao khoán cho tổ đội thi công -> Theo Quy trình hợp đồng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 20
- Ký hợp đồng lao động thời vụ -> Theo quy trình ký kết hợp đồng.
- Phòng Tổ chức hành chính và CNCT lập danh sách BCH (Ban chỉ huy) công
nhân, đăng ký tạm trú, tạm vắng.
- Phòng Kế hoạch vật tư thực hiện việc xây dựng lán trại, văn phòng, nhà kho, hệ
thống cấp điện thi công, cấp nước thi công -> Theo quy trình Quản lý Mua và Thuê và
Quy trình ký kết hợp đồng
- BCH công trường và Phòng Tổ chức hành chính thực hiện các nội dung sau (BCH
công trường thực hiện, Phòng Tổ chức hành chính hướng dẫn và nhắc nhở đôn đốc):
+ Nhận bàn giao mặt bằng xây dựng công trình (diện tích, mốc, cao độ), lập biên
bản giao nhận
+ Lập danh mục Hệ thống hồ sơ Pháp lý - kỹ thuật trong nhật ký nội bộ và bảo
quản bảo mật tại công trường.
+ Chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ, tài liệu, biểu mẫu… phục vụ thi công theo quy định
về các văn bản, biểu mẫu.
+ Tổ chức cho công nhân học tập về nội quy, an toàn lao động trên công trường.
Lập danh sách xác nhận đã được học ATLĐ.
+ Kiểm tra điều kiện văn phòng, lán trại, kho tàng, đường giao thông, hệ thống
điện, nước, vệ sinh môi trường, kế hoạch vật tư, tài chính. Lập biên bản xác nhận đủ
điều kiện phục vụ thi công.
Triển khai tổ chức thi công:
 Lập kế hoạch, tiến độ thi công chi tiết:
- Căn cứ biện pháp kỹ thuật thi công được duyệt, BCH công trường và các tổ đội
thi công bàn bạc, thống nhất phân chia tiến độ cho từng giai đoạn thi công (thể hiện rõ
thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc) hoặc phân chia khối lượng công việc theo từng
tháng (xác định rõ khối lượng đầu tháng, khối lượng cuối tháng) tuỳ trường hợp cụ
thể. Đồng thời tính toán số lượng nhân lực cùng với thiết bị và nguyên vật liệu chính
cần thiết cho từng giai đoạn, từng tháng. Nội dung này phải được thực hiện vào thời
điểm trước mỗi giai đoạn thi công hoặc cuối tháng trước, thể hiện theo biểu mẫu bảng
tiến độ giai đoạn hoặc tháng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 21
- Căn cứ kế hoạch cung ứng vật liệu (thời điểm) để ký các hợp đồng cung cấp vật
tư, dịch vụ.
 Quản lý kỹ thuật tiến độ:
- Căn cứ tiến độ từng giai đoạn hoặc tiến độ hàng tháng, CNCT giao nhiệm vụ,
khối lượng thi công hàng ngày cho các tổ đội thi công và trợ lý kỹ thuật trong cuộc
họp công trường vào cuối ngày hôm trước. Nội dung cuộc họp được ghi lại bằng Nhật
ký nội bộ.
- Việc thực hiện thi công phải theo đúng trình tự, biện pháp chi tiết của Biên bản
kỹ thuật đã được phê duyệt.
- Căn cứ nhiệm vụ được giao, trợ lý kỹ thuật kiểm tra, tính toán khối lượng công
việc thực hiện được trong mỗi ngày, ghi chép vào Sổ theo dõi công việc hàng ngày để
báo cáo CNCT vào buổi họp cuối mỗi ngày (kể cả công việc không tính toán cụ thể
được thì đánh giá tỉ lệ % hoàn thành). Song song với việc kiểm soát khối lượng, việc
kiểm tra chất lượng phải được thực hiện và báo cáo hàng ngày bằng các cập nhật vào
sổ theo dõi công việc hàng ngày.
- Tất cả mọi vấn đề (khối lượng công việc thực hiện được, chất lượng thi công,
nhân lực) thực tế khác với kế hoạch hàng ngày đều phải được ghi nhận, cộng dồn và
dự đoán để báo cáo CNCT vào buổi họp cuối ngày. Nội dung phải được ghi hàng ngày
vào nhật ký nội bộ kể cả khi CNTC vắng mặt.
- Căn cứ vào kết quả công việc hàng ngày, CNCT sẽ quyết định duy trì hoặc điều
chỉnh mức độ công việc để công trường hoạt động đúng kế hoạch đề ra. Khi có sự sai
khác vượt mức độ kiểm soát của CNCT, CNCT phải lập báo cáo đột xuất để đề xuất
xin ý kiến xử lý về Ban giám đốc để có biện pháp điều chỉnh, kiểm soát lại công tác thi
công tại công trường.
 Nghiệm thu công việc nội bộ:
- Quá trình nghiệm thu được thực hiện liên tục song song với công tác thi công
của công nhân trên công trình. Trợ lý kỹ thuật có trách nhiệm đo đạc, kiểm tra, nhắc
nhở sửa chữa (nếu có sai sót) trong suốt quá trình thao tác thi công của công nhân.
- Khi tổ đội thi công hoàn thành một bộ phận hay một công việc, Ban chỉ huy
công trường sẽ xác nhận và cho phép thi công công việc tiếp theo bằng phiếu nghiệm
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 22
thu trong phiếu nghiệm thu phải thể hiện khối lượng và chất lượng kỹ thuật của công
việc hoàn thành hoặc số lượng, quy cách mẫu sản phẩm được lấy để làm kiểm nghiệm.
- Mỗi phiếu nghiệm thu được lập thành 02 bản, mỗi bản đính kèm cho hồ sơ
thanh toán nội bộ của tổ đội thi công. Một bản lưu ở công trường để phục vụ công tác
theo dõi khối lượng ở công trường và việc kiểm soát nội bộ.
- Sau khi thực hiện công tác nghiệm thu nội bộ mới thực hiện việc mời Tư vấn
giám sát, Kỹ thuật A nghiệm thu theo quy định hiện hành.
- Thanh toán nội bộ: Căn cứ vào Hợp đồng giao khoán (thông thường 02 tuần 1
lần vào cuối ngày thứ năm hàng tuần), CNCT nghiệm thu và đề nghị thanh toán cho tổ
đội thi công dựa trên khối lượng từ phiếu nghiệm thu công việc và đơn giá giao khoán
khi cần.
 Quản lý vật tư, máy móc, thiết bị
- Phòng KH-VT căn cứ phiếu yêu cầu của Ban chỉ huy công trình để điều động
nhân viên cung ứng vật tư hoặc nhà cung cấp cung cấp các loại vật tư, vật liệu, thiết bị,
dịch vụ để công trường theo tiến độ yêu cầu của công trường.
- Kiểm tra chất lượng vật liệu: Được thực hiện theo quy trình quản lý mua và
thuê, ghi chép vào Phiếu kiểm tra hàng hoá.
- Nhập - Xuất vật liệu, máy móc, thiết bị: (theo hướng dẫn nhập xuất dành cho
thủ kho):
+ Nhập kho: Hàng hoá vật liệu khi đưa đến công trường, thủ kho phải yêu cầu trợ
lý kỹ thuật kiểm tra về chất lượng, quy cách để cho Lệnh nhập kho. Thủ kho kiểm,
đếm số lượng và nhập kho theo quy định, ghi chép vào phiếu nhập kho, Sổ kho theo
mẫu in sẵn. Các phiếu nhập kho phải được cán bộ kỹ thuật hoặc CNCT ký ngay sau
khi nhập.
+ Xuất kho: Hàng hoá, vật liệu xuất kho để sử dụng thi công do Trợ lý kỹ thuật ghi
lệnh vào Phiếu xuất kho (theo mẫu in sẵn) căn cứ trên dự kiến công việc hàng ngày.
+ Báo cáo Nhập - Xuất - Tồn vật liệu: Hàng tháng vào ngày 30, Thủ kho lập
báo cáo trình CNCT ký xác nhận để gửi về Phòng Kế hoạch- Vật tư trước ngày 5
tháng sau.

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 23
 Quản lý an toàn lao động, vệ sinh môi trường
- CNCT phân chia khu vực vào giao nhiệm vụ quản lý an toàn lao động, vệ sinh
môi trường cho từng cán bộ chuyên trách hoặc trợ lý kỹ thuật.
- Mỗi công nhân thi công trên công trường đều phải được hướng dẫn, huấn luyện
về an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Kết quả của việc hướng dẫn, huấn luyện
phải được cập nhật vào biên bản và danh sách.
- Ban chỉ huy công trình lập phiếu đề nghị cấp trang thiết bị an toàn lao động và
tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng trang thiết bị an toàn lao động, vệ sinh môi
trường mỗi tháng 1 lần. Kết quả kiểm tra đánh giá được ghi vào biên bản kiểm tra có
xác nhận của cán bộ an toàn lao động và CNCT.
- Công tác kiểm tra an toàn lao động, vệ sinh môi trường của cán bộ được phân
công được thực hiện liên tục trong suốt thời gian thi công của công trường, kết quả
kiểm tra được báo cáo hàng ngày vào nhật ký nội bộ.
- Trước khi triển khai một số công tác như: Đổ bê tông, lắp đặt cấu kiện bê tông,
kết cấu sắt thép, lợp mái, lắp đặt hệ thống kỹ thuật và một số công tác có nguy cơ mất
an toàn lao động cao như tháo dỡ coffa, hoàn thiện bên ngoài phải tiến hành kiểm tra
các điều kiện về an toàn và lập biên bản kiểm tra.
 Quản lý các công việc phát sinh:
- Các công tác phát sinh do yêu cầu của Chủ đầu tư:
Ban chỉ huy công trình phải thực hiện đúng những việc sau:
+ Lập biên bản xử lý hiện trường xác nhận nguyên nhân, nội dung, khối lượng
phát sinh có đủ chữ ký A, B, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát.
+ Theo dõi, thực hiện đôn đốc quy trình trình duyệt hồ sơ phát sinh. Từ chủ
trương, thiết kế, dự toán đến khi ra quyết định chỉ định thầu cho đơn vị thi công.
+ Báo cáo về Công ty (phòng Tổ chức- Hành chính) các kết quả của từng bước
duyệt hồ sơ phát sinh.
+ Khi cần sự hỗ trợ của Công ty phải báo cáo. Tuy nhiên BCH công trường vẫn
là đầu mối trực tiếp giải quyết các công việc cho đến khi ra văn bản phê duyệt dự toán
phát sinh và chỉ định thầu thi công.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 24
Việc triển khai các bước thi công tiếp theo cho công tác phát sinh thực hiện theo
đúng Quy trình : Biện pháp lỹ thuật, tiến độ, giá cả, giao khoán và Quy trình: ký phụ
lục hợp đồng với Chủ đầu tư, ký hợp đồng giao khoán cho đội.
- Công tác phát sinh nội bộ
+ Với những phát sinh lớn ảnh hưởng đến kỹ thuật kinh tế, BCH công trường
xem xét, đề xuất xử lý báo cáo ngay về Công ty khi phát hiện.
+ Phòng QLTC, phòng KH-VT xem xét đề xuất phương án trình Giám đốc duyệt
+ Với những phát sinh nhỏ, BCH công trường chủ động giải quyết và báo cáo
ngay về Công ty trong báo cáo hàng tháng.
 Thu hồi vốn
Công tác thu hồi vốn được Ban chỉ huy công trường, phòng Quản lý thi công,
phòng Tài chính kế toán phối hợp thực hiện theo các thời điểm đã được duyệt theo
biện pháp kinh tế kỹ thuật. Trường hợp phát sinh phải thực hiện đột xuất theo kế hoạch
vốn được phân bổ của Chủ đầu tư thì các phòng ban và Ban chỉ huy công trường phải
có biện pháp phân công hoặc bố trí thêm thời gian ngoài giờ nhằm đảm bảo hoàn
thành công tác thu hồi vốn đồng thời vẫn đảm bảo các công tác triển khai thi công ở
công trường cũng như công tác quản lý chất lượng.
- Ban chỉ huy công trường.
+ Tập hợp các công việc được nghiệm thu
+ Lập bảng tổng hợp giá trị công việc hoàn thành căn cứ trên khối lượng công
việc được nghiệm thu và giá dự thầu.
+ Hệ thống toàn bộ biên bản nghiệm thu (Công việc, giai đoạn) và các chứng
chỉ chất lượng vật liệu, chứng chỉ kiểm nghiệm sản phẩm hoàn thành đóng thành tập.
+ Lập bản vẽ hoàn công các công việc hoàn thành được nghiệm thu.
+ Lập phiếu đề nghị kiểm tra hồ sơ. Chuyển hồ sơ thanh toán gồm 3 nội dung
trên về phòng quản lý thi công để kiểm tra, trình ký.
+ Sau khi nhận được hồ sơ đã kiểm tra (hoặc Công ty đã ký) thì tiếp tục đề nghị
các bên liên quan (tư vấn giám sát, chủ đầu tư) ký đồng ý cho thanh toán khối lượng
công việc hoàn thành.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 25
+ Chuyển hồ sơ thanh toán đã đầy đủ pháp lý, phiếu giá thanh toán đến bộ phận
kế toán của Chủ đầu tư, lập phiếu giao nhận hồ sơ và chuyển một bản của phiếu giao
nhận hồ sơ cho Phòng tài chính - Kế toán.
- Phòng quản lý thi công
+ Kiểm tra hồ sơ thanh toán do Ban chỉ huy công trình chuyển về theo đúng
các quy định đã thống nhất với Chủ đầu tư và Nghị định về quản lý chất lượng của
Nhà nước.
+ Xác nhận vào phiếu đề nghị kiểm tra và trình ký
+ Trường hợp hồ sơ còn thiếu sót thì yêu cầu và phối hợp với Ban chỉ huy công
trường để hoàn chỉnh trong thời gian sớm nhất.
- Phòng Tài chính kế toán:
+ Khi nhận được phiếu giao nhận hồ sơ giữa Ban chỉ huy công trường và cơ
quan thanh toán vốn, Phòng tài chính kế toán đưa vào danh mục theo dõi nguồn vốn
chuẩn bị được thu hồi.
+ Liên hệ cơ quan thanh toán vốn để đôn đốc việc thanh toán vốn. Trường
hợp hồ sơ thanh toán còn gặp vướng mắc thì phối hợp với Ban chỉ huy công trường
để giải quyết.
+ Khi thu hồi được nguồn vốn, tổng hợp và báo cáo trong các hội nghị giao ban
của Công ty.
 Kiểm soát nội bộ
Việc kiểm soát chất lượng nội bộ được thực hiện ở 2 cấp. Cấp công trường và cấp
Công ty.
- Đối với cấp công trường:
+ CNCT kiểm tra các trợ lý, nhân viên, công nhân dưới sự quản lý của mình thực
hiện đúng quy trình công việc đối với nhiệm vụ được giao.
+ Cán bộ kỹ thuật kiểm tra, giám sát đội thi công, công nhân thực hiện đúng yêu
cầu kỹ thuật, định mức sử dụng, quản lý vật tư, công tác an toàn lao động, vệ sinh môi
trường đúng quy trình làm việc, nội quy công trường.
+ Yêu cầu cao nhất của cấp kiểm soát này là mọi công việc, thành phần hoặc
phân đoạn công việc đều phải được kiểm tra, chấp nhận trước khi chuyển sang công
việc, thành phần công việc hoặc phân đoạn công việc tiếp theo.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×