Tải bản đầy đủ

Quản lý thu thuế GTGT ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn Q. Ba Đình.doc

LỜI NÓI ĐẦU
Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ
quan trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc
dân. Như vậy, có thể thấy rằng Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước.
Song để biện pháp đó đạt hiệu quả sẽ rất cần đến một bộ phận chuyên trách, chất
lượng trong quá trình quản lý và hành thu.
Nhận thức được điều này, đồng thời để bắt nhịp được với bước chuyển
biến về cơ cấu, thành phần kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi cải cách hệ
thống Thuế bước hai. Trong đó, nổi bật nhất là việc thay thế 2 sắc thuế Doanh
thu và thuế Lợi tức bằng thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp
được thông qua tại kỳ họp thứ 11 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999. Đây là
bước đi vô cùng quan trọng, thể hiện sự mạnh dạn của Đảng ta trong công cuộc
đổi mới nền kinh tế. Tuy nhiên sự khởi đầu nào cũng đều có những chắc trở
không thể tránh khỏi, nhất là ở khu vực kinh tế cá thể cả nước nói chung và đặc
biệt ở Quận Ba Đình nói riêng. Để có thể tháo gỡ được những khó khăn này và
tìm ra hướng đi mới là cả một vấn đề nan giải đối với Bộ Tài chính, Tổng cục
Thuế và các cơ quan hữu quan.
Quận Ba Đình là một trong 7 Quận nội thành của thành phố Hà
nội. Quận Ba Đình không rộng về diện tích nhưng có nhiều trụ sở, cơ quan trung
ương của Đảng, chính phủ, các cơ quan ngoại giao, đại sứ quán. Tuy nhiên hoạt
động sản xuất kinh doanh ở đây cũng rất phong phú. Qua thời gian thực tập ở

Chi cục Thuế quận Ba đình, được sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo và
các cán bộ công tác tại Chi cục, tôi đã đi sâu nghiên cứu và phân tích tình hình
thực tế quản lí thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa
bàn Quận Ba đình trong những tháng đầu triển khai luật thuế mới này.Từ đó
cũng xin được đưa ra một số phương hướng nhằm tăng cường công tác quản lí
thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể, góp phần tăng thu cho Ngân
sách nhà nước.
Trang 1
Bắt nguồn từ những lí do trên nên đề tài có tên gọi là: “Bàn về công tác
quản lí thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể trên địa bàn quận Ba
đình" .
Toàn bộ đề tài được trình bày theo kết cấu sau:
Phần I: Sự cần thiết phải quản lý thuế giá trị gia tăng đối với thành
phần kinh tế cá thể hiện nay.
Phần II: Tình hình quản lý thu thuế giá trị gia tăng ở khu vực kinh tế
cá thể trên địa bàn quận Ba đình trong quý I năm 2003
Phần III: Một số phương hướng tăng cường quản lý thu thuế giá trị
gia tăng ở khu vực kinh tế cá thể ở quận Ba đình.
Vì thời gian thực tập và trình độ hạn hẹp nên bài viết không thể tránh
khỏi khiếm khuyết, sai sót. Rất mong được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô,
các cán bộ thuế và những người quan tâm.
Xin chân thành cảm ơn.


Trang 2
MỤC LỤC
PHẦN I: SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN KINH TẾ CÁ THỂ HIỆN NAY.
I. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG:
1. Khái niệm, đặc điểm của thuế.
2. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:
1. Sự cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị gia tăng thay cho thuế
Doanh thu.
2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm nổi bật.
3. Nội dung cơ bản của luật thuế giá trị gia tăng.
I. Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÁ THỂ:
1. Vị trí, vai trò của kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị
trường.
2. Ý nghĩa của việc tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng đối với
khu vực kinh tế cá thể.
PHẦN II: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG Ở KHU VỰC KINH TẾ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA
ĐÌNH QUÝ I NĂM 2003.
I. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU
THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH:
1. Một số nét về đặc điểm kinh tế xã hội.
2. Công tác tổ chức bộ máy thu thuế trên địa bàn quận Ba Đình.
Trang 3
II. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VỚI
CÁC HỘ KINH TẾ CÁ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN BA ĐÌNH
TRONG NHỮNG THÁNG ĐẦU THỰC HIỆN LUẬT THUẾ MỚI:
1. Quản lý đối tượng nộp thuế.
2. Quản lý căn cứ tính thuế.
3. Quản lý khâu thu nộp tiền thuế.
PHẦN III: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THU THUẾ Ở KHU VỰC KINH TẾ CÁ
THỂ TẠI QUẬN BA ĐÌNH.
I. QUẢN LÍ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ:
1. Quản lý những hộ đã quản lý được .
2. Quản lý những hộ chưa quản lý được.
II. QUẢN LÝ VỀ CĂN CỨ TÍNH THUẾ:
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THU NỘP TRÊN THUẾ:
1. Công tác xây dựng kế hoạch.
2. Công tác đôn đốc thu nộp thuế.
3. Công tác kiểm tra và thanh tra thuế.
4. CÁC BIỆN PHÁP VỀ TỔ CHỨC CÁN BỘ:
1. Chấn chỉnh bộ máy hoạt động của Chi cục thuế Quận Ba Đình.
2. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ một cách có hệ thống.
3. Có chính sách về lương thoả đáng đối với cán bộ thuế.
4. Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cơ quan thuế và các cấp,
các ngành có liên quan.
Trang 4
V. MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHÁC:
1. Từng bước đưa khoa học kỹ thuật vào quản lý thu thuế như ứng
dụng công cụ tin học.
2. Làm thay đổi thói quen của người dân về việc sử dụng hoá đơn,
chứng từ.
3. Kiến nghị về văn bản luật, chính sách của Nhà nước.
PHẦN I
SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI
VỚI THÀNH PHẦN KINH TẾ CÁ THỂ.
I. THUẾ VÀ VAI TRÒ CỦA THUẾ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG:
1. Khái niệm, đặc điểm của Thuế:
Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển tồn
tại của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Nhà nước sử dụng thuế như một công cụ
để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Lịch sử
càng phát triển, các hệ thống thuế khoá, các hình thức thuế khoá và pháp luật
thuế ngày càng đa dạng và hoàn thiện cùng với sự phát triển của kinh tế thị
trường, các khoản đóng góp của người dân cho Nhà nước được xác định và
được quy định công khai bằng luật pháp của Nhà nước .
Các khoản thuế đóng góp của dân tạo thành quỹ tiền tệ của Nhà nước.
Cùng với sự hoàn thiện chức năng của Nhà nước, phạm vi sử dụng quỹ tiền
tệ của Nhà nước ngày càng mở rộng. Nó không chỉ đảm bảo chi tiêu để duy
trì quyền lực của bộ máy Nhà nước, mà còn để chi tiêu cho các nhu cầu phúc
lợi chung và kinh tế. Như vậy gắn liền với Nhà nước, thuế luôn là một vấn đề
thời sự nóng bỏng đối với các hoạt động kinh tế xã hội và với mọi tầng lớp
dân cư.
Trang 5
Có rất nhiều các quan điểm nhìn nhận thuế dưới nhiều hình thức khác
nhau, nhưng đứng trên góc độ tài chính, có thể xem xét thuế dưới khái niệm
như sau:
Thuế là một trong những biện pháp tài chính bắt buộc nhưng phi
hình sự của Nhà nước nhằm động viên một số bộ phận thu nhập từ lao
động, từ của cải, từ vốn, từ các chi tiêu hàng hoá và dịch vụ, từ tài sản của
các thể nhân và pháp nhân nhằm tập trung vào tay Nhà nước để trang trải
các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và các nhu cầu chung của xã hội.
Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng luật.
Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các
hình thức phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:

Đặc điểm thứ nhất : Thuế là một biện pháp tài chính của
Nhà nước mang tính quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng
sự bắt buộc này là phi hình sự.
Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình
chuyển đổi quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể
nhân thành quyền sở hữu của Nhà nước. Do đó Nhà nước phải dùng quyền
lực để thực hiện quyền chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là
một tất yếu khách quan, nhưng vì các hoạt động thu nhập của thể nhân và
pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên tính bắt buộc này là phi hình sự.
Vì vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính hình phạt.
Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, việc
đóng góp thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc
đối với công dân. Mọi công dân làm nghiã vụ đóng thuế theo những luật
thuế được cơ quan quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị
cưỡng chế theo những hình thức nhất định.
* Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nước mang
tính bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh
tế-xã hội của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa
đựng các yếu tố kinh tế xã hội.
Trang 6
+ Yếu tố kinh tế thể hiện : Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu
nhập bình quân đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận
động của cơ cấu kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà
nước. Cùng với yếu tố đó còn phải kể đến phạm vi, mức độ chi tiêu của Nhà
nước nhằm thực hiện các chức năng kinh tế của mình.
+ Yếu tố xã hội thể hiện : Hệ thống thuế phải dựa trên phong tục, tập
quán của quốc gia, kết cấu giai cấp cũng như đời sống thực tế của các thành
viên trong từng giai đoạn lịch sử. Mặt khác thuế còn thực hiện phân phối lại
thu nhập xã hội đảm bảo công bằng xã hội.
Như vậy mức động viên qua thuế trong GDP của một quốc gia phụ
thuộc vào nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các vấn đề kinh tế, xã hội của
quốc gia đó.
* Đặc điểm thứ ba: Thuế là một khoản đóng góp không mang tính chất
hoàn trả trực tiếp. Nghiã là khoản đóng góp của công dân bằng hình thức
thuế không đòi hỏi phải hoàn trả đúng bằng số lượng và khoản thu mà nhà
nước thu từ công dân đó như là một khoản vay mượn. Nó sẽ được hoàn trả
lại cho người nộp thuế thông qua cơ chế đầu tư của Ngân sách nhà nước cho
việc sản xuất và cung cấp hàng hoá công cộng.
Đặc điểm này làm nổi rõ sự khác nhau giữa thuế và lệ phí. Lệ phí được
coi là một khoản đối giá giữa Nhà nước với công dân, khi công dân thừa
hưởng những dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp phải trả một phần thu
nhập của mình cho nhà nước. Tuy nhiên việc trao đổi này thường không tuân
thủ theo hình thức trao đổi ngang giá dựa trên quy luật của thị trường.
Tóm lại, Thuế là một biện pháp kinh tế của mọi Nhà nước, nó được thực
thi khi hoạt động kinh tế tạo ra thu nhập hoặc sử dụng nguồn thu nhập tạo ra.
Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường vai trò của Nhà nước ngày càng trở nên
quan trọng thì vai trò của thuế cũng chiếm vị trí không thể thiếu được trong
công tác quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
2. Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trường:
Trang 7
Sử dụng cơ chế thị trường để giải quyết 3 vấn để cơ bản của nền kinh tế
(sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai) là phát kiến vĩ đại của nhân loại, cơ chế
thị trường thông qua những yếu tố của nó đã tạo ra động lực thúc đẩy sản
xuất phát triển, kích thích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hiệu
quả, thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập
trung hoá sản xuất.
Bên cạnh những ưu điểm đó, cơ chế thị trường có nhược điểm là gây
cho xã hội những lãng phí về lao động, tài nguyên, vốn dẫn đến độc quyền
thủ tiêu cạnh tranh. Với cơ chế phân phối qua thị trường thường khoét sâu hố
ngăn cách giữa người giầu và người nghèo, tạo sự bất ổn định về kinh tế xã
hội.
Từ những ưu, nhược điểm đó cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà
nước vào quá trình kinh tế -xã hội để phát huy những mặt tích cực của cơ chế
thị trường và hạn chế tối đa những nhược điểm của chúng. Để quản lý, điều
hành vĩ mô nền kinh tế xã hội, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ như: Kế
hoặch hoá, pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ..vv.. Trong các công cụ
trên thì chính sách tài chính tiền tệ đóng vai trò quan trọng nhất và Thuế là
một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính tiền tệ, thuế được nhà
nước sử dụng để thực hiện vai trò quản lý vĩ mô kinh tế xã hội.
Có thể thấy rõ vai trò của Thuế nổi bật ở các mặt sau:
* Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước:
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu
từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều
được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như:
vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác..vv.. Song
thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi
nhiều điều kiện. Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản
thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản
thu này càng tăng. Ở nước ta, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của
Trang 8
Ngân sách Nhà nước từ năm 1990. Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số
thuế trong tổng thu ngân sách .
Biều 1: Tình hình tỉ lệ thuế và phí trong tổng thu ngân sách nhà nước
ta trong thời gian qua ( Tài liệu của Tổng cục thuế ).
Năm Tổng số thuế và phí (
tỷ đồng)
% So với tổng thu
NSNN
% So với GDP
1990 5906 73.7 14.0
1991 9844 92.7 12.83
1992 18514 88.0 16.75
1993 28695 90.5 21.0
1994 36629 89.6 21.51
Qua biểu trên ta thấy số thu thuế và phí đã chiếm phần chủ yếu trong
tổng thu NSNN và tăng nhanh qua các năm, đã bảo đảm về cơ bản yêu cầu
chi thường xuyên ngày càng tăng của NSNN, giảm bội chi ngân sách, giảm
lạm phát, từng bước góp phần ổn định trật tự xã hội, giành một phần để tăng
chi cho tích luỹ. Như vậy, chứng tỏ thuế là nguồn thu quan trọng nhất của
NSNN.

* Thuế, một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của
Nhà nước:
Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần
cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng
việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản
xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng
phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các
mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là
nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc
quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu
Trang 9
cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi. Bốn mục tiêu đó
là:
- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý .
- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.
- Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.
-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan
trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực.
1. Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc
làm:
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà
nhà nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồn hai
mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách
linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc tác động vào cung-cầu
nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế
thị trường.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu
dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích
tiêu dùng.
- Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng
sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư
vào sản xuất.
- Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu
dùng.
- Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào
đầu tư, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và
thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào
đầu tư, sản xuất kinh doanh.
Trang 10
Khi nền kinh tế hưng thịnh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế
“nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng
thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song
việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo
vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉnh cơ cấu ngành nghề hợp lý.
Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua
thuế, Nhà nước thực hiện định hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có
định hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà
giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã
hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các
chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp
và tỷ lệ lạm phát, sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn
việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững
là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh
doanh, đưa giá cả về mức ổn định.
2. Thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính, góp
phần đảm bảo công bằng xã hội:
Kinh tế thị trường làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo, sự phân hoá này
có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội. Do vậy,
cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự
phân hoá này, làm lành mạnh xã hội.
Nhà nước dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa người giàu và
người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng.
Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong
lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới
công bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh
thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
Giá trị gia tăng.
Trang 11
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho
người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt. Trái lại
những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một
bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội. Tuy nhiên, khi sử dụng công
cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên xây dựng hợp lý tránh tình trạng
điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng làm giàu của nhà kinh doanh và giảm
khả năng tăng trưởng kinh tế của đất nước.
3. Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng
hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉnh
lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng
thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm
thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm
nhiều hơn. Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu.
Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát
triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí
bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động.
4. Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều
kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới:
Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh
khốc kiệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước. Điều
này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản
xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước
đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích
xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô.
Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước
Trang 12
chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc
thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ.
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong
khu vực và trên thế giới. Sự ưu đãi, các hiệp định về thuế, tính thông lệ quốc
tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số
quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế.
Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt
các chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính
sách thuế khoá. Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế Giá trị gia
tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay
thế cho Luật thuế doanh thu, lợi tức. Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như
các đối tượng sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉnh
2 luật thuế này giúp cho Thuế ngày càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong
nền kinh tế thị trường.
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG THUẾ THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY:
1. Sự cần thiết phải áp dụng thuế Giá trị gia tăng thay cho thuế Doanh
thu:
Chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật chất cho xã hội và nguồn thu cho
NSNN. Do đó, Nhà nước có trách nhiệm quan tâm, tạo môi trường thuận lợi
cho sản xuất phát triển, lưu thông được thông suốt. Một môi trường đầu tư
được coi là thuận lợi nếu trong đó, những cơ chế chính sách được quy định
phù hợp, rõ ràng, ổn định, ít có biến động để tạo cho doanh nghiệp yên tâm
bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh.
Ở nước ta, đến thời điểm này, Nhà nước thấy cần thiết phải áp dụng
thuế Giá trị gia tăng để thay thế cho thuế doanh thu vì các lý do sau:
Trang 13
Với Việt Nam, Thuế doanh thu đã được áp dụng từ rất lâu, trước đây
có tên là Thuế doanh nghiệp, từ khi cải cách thuế bước một (từ năm 1990)
được đổi tên là Thuế doanh thu. Thuế doanh thu có đặc trưng cơ bản là có
nhiều mức thuế suất, phân biệt theo nghành hàng và mặt hàng. Thuế thu hàng
tháng và tính trên tổng doanh thu bán hàng, không có khấu trừ thuế đã nộp ở
khâu trước. Thuế suất được quy định thấp.
Thuế doanh thu có ưu điểm là tính toán đơn giản, thu dứt điểm từng
lần bán hàng mà không phải theo dõi thoái trả số thuế đã nộp ở khâu trước.
Vì vậy, nguồn thu của các cấp ngân sách và giữa các địa phương cũng tương
đối ổn định.
Tuy nhiên, thuế doanh thu có nhiều nhược điểm, trong đó, nhược
điểm lớn nhất là thu thuế trùng lắp. Thuế doanh thu quy định cứ mỗi lần bán
hàng là một lần phải nộp Thuế doanh thu nên càng chuyên môn hoá sâu thì
càng phải nộp nhiều thuế. Ngược lại, nếu tổ chức sản xuất khép kín kiểu tự
cấp tự túc thì phải nộp ít thuế hơn. Do đó, thuế doanh thu không phù hợp với
yêu cầu Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá. Mặt khác, cơ chế thuế có nhiều mức
thuế suất để bảo hộ đến từng ngành hàng, mặt hàng chỉ phù hợp với thời kỳ
kế hoặch hoá, thời kì mà giá cả đại bộ phận hàng hoá đều do Nhà nước thống
nhất quản lý.Việc quy định quá nhiều thuế suất làm cho sắc thuế phức tạp,
tạo kẽ hở để trốn thuế, lách thuế. Mặt khác thuế Doanh thu quy định quá
nhiều các trường hợp miễn giảm thuế, nhiều khi không đúng tính chất của
thuế gián thu, gây phức tạp cho quá trình thực hiện, quản lý.
Sang cơ chế kinh tế thị trường, giá cả hàng hoá do cung- cầu trên thị
trường quyết định, nếu vẫn duy trì cơ chế nhiều thuế suất thì chỉ làm tăng
thêm khó khăn, phức tạp trong quản lý và tạo nhiều kẽ hở cho trốn lậu thuế...
Chính vì vậy, trong cải cách thuế bước II này, Quốc hội đã quyết định ban
hành thuế Giá trị gia tăng để áp dụng từ 1/1/2003 thay thế cho thuế doanh
thu.
2. Thuế Giá trị gia tăng và những ưu điểm nổi bật:
Trang 14
Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình từ sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng.
Vì chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng
khâu bán hàng, không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước, cho
nên cách tính thuế Giá trị gia tăng là rất khoa học, rất cần thiết đối với phát
triển sản xuất theo hướng Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá và phù hợp với yêu
cầu hội nhập quốc tế.
Với bản chất đó, Thuế Giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm hơn so với
thuế doanh thu, như sau:
+ Thuế Giá trị gia tăng không thu trùng lắp cho nên góp phần khuyến
khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm.
+ Thuế Giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm, không
tính vào vốn, nên góp phần khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn ra đầu
tư phát triển sản xuất, kinh doanh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế
ở nước ta trong thời gian tới.
+ Thuế Giá trị gia tăng góp phần khuyến khích mạnh mẽ việc sản
xuất hàng xuất khẩu, vì hàng hoá xuất khẩu chẳng những không phải chịu
thuế Giá trị gia tăng ở khâu xuất khẩu mà còn được thoái trả lại toàn bộ số
thuế đã thu ở các khâu trước.
+ Thuế Giá trị gia tăng được thu tập trung ngay ở khâu đầu tiên là
khâu sản xuất hoặc khâu nhập khẩu hàng hoá và thu ở mỗi khâu đều có thể
kiểm tra được việc thu nộp thuế ở khâu trước, cho nên hạn chế được thất thu
hơn so với thuế doanh thu.
+ Thuế Giá trị gia tăng được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo
nguyên tắc căn cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để khấu trừ số thuế đã nộp ở
khâu trước. Điều đó có nghĩa là, nếu không có hoá đơn mua hàng ghi rõ số
thuế Giá trị gia tăng đã nộp ở khâu trước thì không được khấu trừ thuế. Vì
vậy, Thuế Giá trị gia tăng khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh khi
Trang 15
mua hàng phải đòi hoá đơn, và khi bán hàng phải có hoá đơn theo đúng quy
định. Với nguyên tắc thuế thu ở khâu sau được khấu trừ số thuế đã nộp ở
khâu trước, Thuế Giá trị gia tăng sẽ góp phần hạn chế được những sai sót,
gian lận trong việc ghi chép hoá đơn. Hoạt động mua-bán hàng hoá, cung
ứng lao vụ, dịch vụ có hoá đơn, chứng từ được đưa vào nề nếp thành thói
quen trong nền kinh tế sẽ là tiền đề cho việc tin học hoá quá trình quản lý sản
xuất kinh doanh, hạn chế bớt những sai sót, tiêu cực và mang lại nhiều lợi ích
cho nền kinh tế.
+ Thuế Giá trị gia tăng phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện
cho Việt nam hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Rõ ràng, thuế Giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm nổi trội hơn thuế
doanh thu. Mục đích chủ yếu của việc áp dụng thuế Giá trị gia tăng là tạo
thêm thuận lợi cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh phát triển, chứ không
nhằm tăng mức động viên, càng không phải là làm cho doanh nghiệp khó
khăn.
2. Nội dung cơ bản của Luật thuế Giá trị gia tăng:
Theo luật thuế Giá trị gia tăng đã được quốc hội khoá IX thông qua tại
kỳ họp thứ 11.
Nghị định số 28/2003/NĐ-CP.
Thông tư số 89/2003/TT-BTC.
• Phạm vi áp dụng :
a. Đối tượng chịu thuế : Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt nam là đối tượng chịu thuế Giá trị gia tăng, trừ các
đối tượng không thuộc diện chịu thuế đã quy định trong luật.
Do những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định trong từng thời kỳ, luật
thuế Giá trị gia tăng quy định 26 nhóm, mặt hàng không thuộc diện chịu thuế
Trang 16
Giá trị gia tăng. Đặc điểm của những hoạt động không phải chịu thuế Giá trị
gia tăng là:
- Những hoạt động nhà nước cần khuyến khích phát triển nhưng
đang gặp khó khăn. Ví dụ: Nhà ở thuộc sở hữu nhà nước do nhà
nước bán cho người đang thuê.
- Những hoạt động liên quan đến vốn đầu tư. Ví dụ: Dịch vụ tín
dụng và quỹ đầu gồm hoạt động cho vay vốn, cho thuế tài chính..
- Những hoạt động sản xuất hàng hoá dịch vụ thiết yếu. Ví dụ: Sản
phẩm trồng trọt, chăn nuôi chưa qua chế biến hoặc chỉ sơ chế..
- Những hoạt động không mang tính kinh doanh. Ví dụ: Vũ khí, khí
tài phục vụ quốc phòng an ninh..
- Những hoạt động cần ưu đãi nhưng ở mức độ vừa phải. Ví dụ:
Hàng miễn thuế bán tại cảng, ga, sân bay..
- Những hàng hoá mang tính chất xử lý về mặt kĩ thuật đánh thuế. Ví
dụ: Hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
- Những hàng hoá không mang tính chất gia tăng, tiêu dùng tại Việt
nam hoặc theo những quan hệ kinh tế đối ngoại. Ví dụ: Hàng
chuyển khẩu, quá cảnh..
Những hàng hoá thuộc diện chịu thuế Giá trị gia tăng không phải nộp
thuế Giá trị gia tăng đầu vào, nhưng không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT
đầu ra.
b. Đối tượng nộp thuế: Các tổ chức cá nhân, sản xuất kinh doanh hàng
hóa dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và
tổ chức cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế Giá trị gia tăng ( gọi
chung là người nhập khẩu) là đối tượng nộp thuế Giá trị gia tăng.
• Căn cứ tính thuế và phương pháp tính thuế:
Trang 17
a. Căn cứ tính thuế Giá trị gia tăng : là giá tính thuế và thuế suất:
- Giá tính thuế :
Nguyên tắc chung: Giá tính thuế là giá chưa có thuế Giá trị gia
tăng
+ Đối với hàng hoá dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra hoặc
cung ứng cho đối tượng khác, giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá bán chưa có
thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế
nhập khẩu.
+ Đối với hàng hoá dịch vụ để trao đổi sử dụng nội bộ biếu tặng, giá
tính thuế Giá trị gia tăng được xác định theo giá tính thuế của từng hàng hoá
dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các loại hoạt
động này.
+ Đối với hoạt động cho thuê tài sản, giá tính thuế Giá trị gia tăng là
tiền cho thuê trong từng kỳ.
+ Đối với gia công hàng hoá, giá tính thuế Giá trị gia tăng là giá gia
công chưa có thuế bao gồm: Tiền công, tiền nhiên liệu, động lực vật liệu phụ
và chi phí khác để gia công.
+ Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt giá tính thuế Giá trị gia tăng là
giá xây dựng, lắp đặt chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ hưởng tiền công hoặc tiền
hoa hồng, giá tính thuế Giá trị gia tăng là tiền công hoặc tiền hoa hồng đựơc
hưởng chưa trừ khoản phí tổn nào.
+ Đối với hoạt động vận tải, bốc xếp giá tính thuế Giá trị gia tăng là
giá cước vận tải, bốc xếp chưa có thuế Giá trị gia tăng.
+ Đối với hàng hoá, dịch vụ đặc thù được xác định như sau:
Giá tính Giá thanh toán
thuế = -------------------------------------
giá trị gia tăng 1+ Thuế suất(%) thuế GTGT
Trang 18
- Thuế suất :
Luật thuế Giá trị gia tăng quy định 4 mức thuế suất:
0%,5%,10%,20%.
Mục đích của việc quy định 4 mức thuế suất này là nhằm khắc phục
nhược điểm của thuế Doanh thu, là một bước giảm bớt đáng kể sự phức tạp
và kém hiệu quả của cơ chế đa thuế suất. Đồng thời thể hiện chính sách điều
tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ của nhà nước.
+ Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu.
+ Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ thiết yếu,
phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng.
+ Mức thuế suất 10% là thuế suất phổ thông áp dụng đối với hàng hoá
dịch vụ thông thường nhằm đảm bảo số thu cho NSNN.
+ Mức thuế suất 20% áp dụng đối với hàng hoá dịch vụ không thiết
yếu mà nhà nước cần điều tiết:
. Vàng bạc đá quý do cơ sở kinh doanh mua vào bán ra.
. Khách sạn du lịch ăn uống
. Xổ số kiến thiết.
. Đại lý tàu biển.
. Dịch vụ môi giới.
b. Phương pháp tính thuế:
Có 2 phương pháp tính thuế Giá trị gia tăng:
Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp trên Giá trị gia
tăng.
@ Phương pháp khấu trừ thuế:
- Đối tượng và điều kiện áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế được
áp dụng cho tất cả các cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về
Trang 19
mở và ghi sổ kế toán, chấp hành đầy đủ các quy định của chế độ hoá đơn,
chứng từ.
- Cách tính thuế GTGT phải nộp:
Thuế Giá trị gia tăng Thuế GTGT Thuế GTGT
phải nộp = đầu ra - đầu vào
Thuế Giá trị gia tăng Giá tính thuế của Thuế suất thuế
đầu ra = HH,DV bán ra x gtgt HH,DV đó.
Thuế Giá trị gia tăng Tổng thuế GTGT đã thanh toán ghi trên
= hoá đơn GTGT mua hàng hoá dịch vụ
đầu vào hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng hoá,
nhập khẩu
@ Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:
- Đối tượng và điều kiện áp dụng: Là các cá nhân, tổ chức kinh
doanh chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để
làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ, các cơ sở kinh doanh mua
bán vàng, bạc, đã quý, ngoại tệ. Giá bán hàng hoá, dịch vụ ghi trên hoá đơn
bán hàng là giá đã có thuế GTGT.
- Cách tính thuế :
Số thuế GTGT GTGT của hàng hoá Thuế suất GTGT
phải nộp = dịch vụ chịu thuế x của hàng hoá DV
Trong đó:
GTGT của hàng hóa Giá thanh toán của Giá TT của hàng hoá
= -
dịch vụ hàng hoá DV bán ra DV mua vào tương ứng
c. Khấu trừ thuế Giá trị gia tăng đầu vào:
Trang 20
+ Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh
hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng thì được khấu trừ toàn bộ .
+ Thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ dùng đồng thời cho sản xuất
kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng và không chịu thuế
giá trị gia tăng thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hoá dịch vụ
dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ chịu thuế Giá trị gia tăng.
+ Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi
xác định số thuế phải nộp của tháng đó.
+ Thuế đã trả cho hàng hoá, vật tư, tài sản cố định, dịch vụ mua
vào để sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế
Giá trị gia tăng thì không được khấu trừ.
+ Riêng với tài sản cố định, nếu có số thuế đầu vào được khấu trừ
lớn thì được phép khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế.
d. Hoàn thuế:
Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng chỉ áp dụng cho các đối tượng nộp
thuế theo phương pháp khấu trừ thuế trong các trường hợp sau:
+ Được xét hoàn thuế khi cơ sở kinh doanh có số thuế Giá trị gia
tăng đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế Giá trị gia tăng đầu ra phát sinh
3 tháng liên tục.Việc hoàn thuế Giá trị gia tăng đầu vào được thực hiện trong
đầu quý tiếp theo.
+ Được hoàn thuế Giá trị gia tăng theo từng kỳ hoặc theo tháng
khi cơ sở kinh doanh xuất khẩu mặt hàng theo thời vụ hoặc xuất khẩu theo
từng lần với số lượng lớn phát sinh số thuế đầu vào được khấu trừ lớn.
+ Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp
khấu trừ thuế có đầu tư, mua sắm tài sản cố định có số thuế Giá trị gia tăng
đầu vào được khấu trừ lớn thì được xét hoàn thuế:
. Cơ sở đầu tư mới, đã đăng ký nộp thuế Giá trị gia tăng nhưng
chưa có phát sinh doanh thu bán hàng để tính thuế Giá trị gia tăng đầu ra.
Nếu thời gian đầu tư từ một năm trở lên, thuế Giá trị gia tăng đầu vào sẽ
Trang 21
được xét hoàn thuế theo từng năm. Trường hợp cơ sở kinh doanh xác định
số thuế phải hoàn có số thuế Giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư được
hoàn lớn, thuế Giá trị gia tăng đầu vào sẽ được xét hoàn thuế theo từng quý.
. Cơ sở kinh doanh đầu tư mở rộng, đầu tư theo chiều sâu, có số
thuế Giá trị gia tăng đầu vào của tài sản đầu tư đã được khấu trừ trong 3
tháng ( kể từ tháng phát sinh thuế đầu vào của tài sản đầu tư) mà vẫn chưa
được khấu trừ hết thì số thuế Giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ sẽ
được hoàn lại.
+ Cơ sở kinh doanh quyết toán thuế khi sát nhập, chia tách, giải
thể, phá sản có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa.
+ Cơ sở kinh doanh có quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
e. Miễn giảm thuế:
Đơn vị những cơ sở sản xuất, vận tải, xây dựng, thương mại, du
lịch, ăn uống trong những năm đầu áp dụng thuế Giá trị gia tăng mà bị lỗ do
số thuế GTGT phải nộp lớn hơn số thuế tính theo mức thuế doanh thu trước
đây thì được xét giảm thuế GTGT phải nộp. Mức thuế được xét giảm đối
với từng cơ sở kinh doanh tương ứng với số lỗ do nguyên nhân nêu trên
nhưng tối đa không quá số thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh phải nộp của
năm được xét giảm thuế.
Cơ sở kinh doanh hàng hoá, dịch vụ dưới đây khi tính thuế
GTGT đầu ra được giảm 50% mức thuế quy định:
- Than đá.
- Máy cày, máy kéo, máy bơm nước, máy công cụ, máy động lực.
- Một số chất hoá học được quy định rõ tại Thông tư 175/1998 TT-
BTC.
- Hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt của các cơ sở kinh doanh thương
mại nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế mua vào, bán ra.
- Khách sạn, du lịch, ăn uống.
Trang 22
- Dịch vụ, phần mềm và sản phẩm phần mềm
Cơ sở kinh doanh khi bán hàng hoá, dịch vụ phải ghi thuế GTGT
của hàng hoá, dịch vụ này trên hoá đơn GTGT theo mức thuế đã được giảm.
Thực hiện giảm ngay 50% mức thuế GTGT phải nộp khi nhập khẩu
đối với các sản phẩm nhập khẩu:
- Than đá.
- Máy kéo, máy bơm nước, máy công cụ, máy động lực.
- Một số chất hoá học được quy định rõ tại Thông tư số 20/1999 TT/
BTC.
- Dịch vụ phần mềm và sản phẩm phần mềm.
Thuế GTGT phải nộp kê khai trên tờ khai hải quan và thông báo
thuế của cơ quan HảI quan là số thuế GTGT tính theo mức thuế đã giảm
50%.
III. Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ CÁ THỂ :
1. Vị trí, vai trò của kinh tế cá thể trong nền kinh tế thị trường:
Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội đã được
Đại hội lần thứ VI chỉ rõ: “ Nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, kinh tế
xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế gia
đình và các thành phần kinh tế khác gồm kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh
tế tư bản tư nhân”. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII tiếp tục khẳng định “
Thành phần kinh tế chủ yếu trong thời kỳ quá độ ở nước ta là kinh tế quốc
doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản
Nhà nước”. Trong đó, kinh tế cá thể gồm những đơn vị kinh tế và những hoạt
động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động chủ yếu.
Hộ kinh tế cá thể kinh doanh cố định là những hộ sản xuất kinh doanh
dịch vụ ( những hoạt động kinh doanh mà pháp luật cho phép ) có địa điểm
kinh doanh cố định ở một nơi nào đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế,
Trang 23
kinh tế cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước, hoạt động trong mọi ngành
nghề sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ..
Đặc điểm của kinh tế cá thể là tính tư hữu về tư liệu sản xuất người
chủ kinh doanh tự quyết định từ quy trình sản xuất kinh doanh đến phân phối
tiêu thụ sản phẩm. Do đó hoạt động của kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao,
tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, sức lao động, tự lo về phương án sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm. Kinh tế cá thể rất linh hoạt, nhạy bén trong kinh doanh, tuy
nhiên nó cũng bộc lộ nhiều hạn chế gây lộn xộn cho thị trường như: Kinh
doanh trái phép, làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế nhằm thu lợi nhuận cao.
Nếu như thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vai trò chi phối nền
kinh tế, thì thành phần kinh tế cá thể nói riêng và thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh nói chung, tuy chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng càng ngày càng
phát triển và chiếm một vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân. Khu vực
kinh tế này không những chiếm một khối lượng sản phẩn tương đối trong
tổng sản phẩm xã hội mà nguồn thu từ thành phần kinh tế này cũng chiếm
một tỷ trọng tương đối lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước. Đồng thời
còn thu hút một lực lượng lao động lớn mà thành phần kinh tế quốc doanh
chưa đảm bảo hết. Kinh tế cá thể đã tận dụng được lực lượng dồi dào, nhất là
lao động có tay nghề cao, đồng thời giải quyết được công ăn việc làm cho
nhiều lao động dư thừa, tạo thu nhập và từng bước góp phần nâng cao đời
sống của các tầng lớp dân cư. Phương pháp kinh doanh của hộ cá thể cũng
rất phong phú và đa dạng, thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia, do đó
trình độ chuyên môn, tay nghề của họ cũng rất đa dạng.
Ở nước ta hơn 10 năm mở cửa phát triển kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa đã khẳng định được vai trò của thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh nói chung và kinh tế cá thể nói riêng.Thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh bổ sung hỗ trợ cho thành phần kinh tế quốc doanh, nhất là
khu vực thành phần kinh tế chưa thực sự chiếm vị trí chủ đạo trong nền kinh
tế quốc dân.
Trang 24
Thực tế, trong những năm gần đây số thuế thu được từ kinh tế cá thể
có tỷ trọng theo xu hướng tăng lên trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Theo
số liệu của Tổng cục Thuế thì:
+ Năm 1992 tổng thu nộp vào ngân sách Nhà nước là 21.023 tỷ thì
thuế đạt 16.074 tỷ đồng; trong đó thu từ thành phần kinh tế cá thể là 589 tỷ
(chiếm 2,8% trong tổng thu Ngân sách và chiếm 3,7% so với tổng thu thuế).
+ Năm 1993 tổng thu nộp vào ngân sách Nhà nước là 31.840 tỷ thì
thuế đạt 25.572 tỷ đồng; trong đó thu từ thành phần kinh tế cá thể là 893
tỷ(chiếm 2,8% trong tổng thu Ngân sách và chiêm 3,5% so với tổng thu
thuế).
Tóm lại, hoạt động kinh tế ngoài quốc doanh nói chung và hoạt động
kinh tế cá thể nói riêng là hoạt đọng tồn tại khách quan do đòi hỏi của sản
xuất và đời sống xã hội. Với quan điểm đó hoạt động của thành phần kinh tế
này ngày càng trở nên quan trọng trong nền kinh tế quốc dân cả trong hiện tại
và trong tương lai.
2. Ý nghĩa của việc tăng cường quản lý thuế Giá trị gia tăng đối với khu
vực kinh tế cá thể:
Thuế GTGT là một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế nước ta.
Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu sẽ đảm bảo tập trung một
số thu lớn cho NSNN. Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, do
nhu cầu chi tiêu phát triển kinh tế rất lớn nên đã xẩy ra tình trạng thiếu hụt
ngân sách. Do vậy chúng ta phải tìm mọi biện pháp để tăng thu ngân sách
Nhà nước.Với đường lối đổi mới kinh tế tạo điều kiện cho các thành phần
kinh tế cùng phát triển, cùng bình đẳng trước pháp luật thì việc quản lý khu
vực kinh tế nào cũng quan trọng. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nói
chung và kinh tế cá thể nói riêng lại đang phát triển cả về qui mô và số
Trang 25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×