Tải bản đầy đủ

Tài liệu MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP ppt



1
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT
ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY
TĂNG CƯỜNG
*********

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH PHÂN BIỆT ĐƯỢC TỪ LÁY VÀ TỪ
GHÉP QUA CÁC TIẾT DẠY TĂNG CƯỜNG
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:
1/ Tầm quan trọng của phân môn luyện từ và câu trong môn học Tiếng
Việt bậc Tiểu học.
Trong chương trình Tiếng Việt sau năm 2000, tức là chương trình
đang hiện hành, hai phân môn từ ngữ và ngữ pháp trước đây được tích hợp thành một
phân môn có tên gọi là Luyện từ và câu. Phân môn này cung cấp toàn bộ kiến thức về
quy tắc cấu tạo từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏ nhất để thực
hiện chức năng giao tiếp. Luyện từ và câu cũng là một yếu tố quan trọng để phát triển
năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người học sinh . Vì vậy ngay từ
những ngày đầu đến trường, học sinh đã làm quen với luyện từ và câu qua việc học

âm, vần, tiếng từ ở lớp 1, các kiểu câu đơn giản ở lớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các
biện pháp tu từ nghệ thuật quen thuộc hoặc cấu trúc về câu, cụm từ, nghiã của từ v..v...
ở lớp 4 , 5. Cụ thể , luyện từ và câu giúp cho học sinh tiểu học có hiểu biết về quy tắc
câú tạo từ , nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp.
Trên cơ sở đó, học sinh nắm được các quy tắc chính tả , dấu câu, nắm chuẩn văn hoá
lời nói.


2
Trong thực tế , giáo viên tiểu học gặp nhiêù khó khăn khi dạy luyện từ
và câu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5. Năm học cuối cấp tiểu học, kiến thức về từ và
câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúc theo kiểu đồng tâm
mở rộng nên nếu không nắm được kiến thúc ở lớp dưới, các em sẽ khó tiếp thu được
kiến thức mới ở lớp trên . Sau đây, tôi xin trình bày một số hạn chế của học sinh lớp
5/2, lớp tôi đang giảng dạy trong việc học tập luyện từ và câu.
2/ Thực trạng của vi ệc học tập và vận dụng kiến thức về câu và từ để nghe
đọc, nói, viết cuả học sinh lớp 5/2 trường tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
Tình hình học tập của học sinh hiện nay so với học sinh các năm trước
có những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng giao tiếp. Học sinh đã tự tin hơn khi trình
bày ý kiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cái hay cái đẹp cuả các tác phẩm văn
học và được học nhiều kiến thức mới so với nội dung chương trình cũ như thuyết trình
tranh luận, phát biểu cảm nghĩ v..v... Tuy nhiên, về phần từ và câu, học sinh còn mắc
phải những hạn chế sau :
a/ Kĩ năng nhận diện từ , phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai
lệch
b/ Kĩ năng phân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn.
c/ Kĩ năng nhận diện và phân tích các thành phần câu chưa thật chính
xác.
d/ Kĩ năng xác định từ loại còn hạn chế.
Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục. Tuy nhiên , trong
phạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề . Đó là kĩ năng phân
loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế. Ở đơn vị kiến thức naỳ, học sinh
thường mắc các lỗi như sau:
 Học sinh còn xác định sai từ ghép khi cả hai tiếng có bộ phận cuả
tiếng giống nhau như các từ : nhân dân, mệt mỏi, buồn bực, chèo chống
v..v...


3
 Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặc biệt khuyết phụ âm
đầu thường là các từ tượng thanh, tượng hình.
 Học sinh không phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng
hợp trong các trường hợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ.
 Học sinh có vốn từ ghép và từ laý có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít
ỏi.
Vì sao học sinh lại mắc những tồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ
nội dung sách giáo khoa , phương pháp giảng dạy của giáo viên, điều kiện học
tập của học sinh và một số vấn đề có liên quan khác.

3/ Thực trạng của nội dung sách giáo khoa giảng dạy chương trình chính
khóa đang hiện hành và phương pháp giảng dạy của giáo viên:
a/ Mặt tích cực:
Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tích hợp,
quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh. Sự thể
hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõ ràng. Các kiến thức
học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng với kiến thức về câu, học sinh
vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làm quen với đơn từ. Kiến thức ở bài sau
được mở rộng hơn so với bài trước. Hệ thống kiến thức được cung cấp chú ý nhiều đến
việc rèn kĩ năng giao tiếp nên học sinh không những nghe đọc tốt hơn mà viết nói
cũng tốt hơn. Để giúp cho học sinh tiếp thu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử
dụng nhiều phương pháp dạy học, đặc biệt là phương pháp tích cực.
b/ Mặt hạn chế:
Tuy nhiên, sau một thơì gian thực dạy, bản thân tôi cũng nhận thấy những
hạn chế của nội dung chương trình, tuy không lớn nhưng phần nào đã ảnh hưởng đến
việc học tập và ghi nhớ kiến thức cuả học sinh. Đó là nếu không được học các lớp 2


4
buổi trong ngày thì giáo viên khó có thể luyện tập cho học sinh để đào sâu kiến thức.
Tôi có thể đưa ra một ví dụ như sau:
Trong chương trình cũ, bài tìm hiểu về từ láy được học trong 4 tiết, bài
tìm hiểu về từ ghép được học trong 4 tiết. Tổng cộng là 8 tiết và được học liên tục
trong khoảng 8 tuần. Trong chương trình mới, nội dung được tích hợp nên kiến thức
về từ đơn và từ phức được học trong 2 tiết, thêm 2 tiết tìm hiểu về từ ghép phân loại và
từ ghép tổng hợp . Tổng cộng chỉ có 4 tiết. Vì thế khi lên lớp 5, nhiều em đã quên kiến
thức này, khi luyện tập thực hành, học sinh đạt kết quả không cao. Chính vì thế, tôi đã
tận dụng các tiết học tăng cường Tiếng Việt, xây dựng 1 thiết kế bài dạy một cách
khoa học nhất nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức về từ .
II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Sử dụng tiết tăng cường để củng cố kiến thức được học trong chương
trình chính khoá.
* Vì sao không thể dùng tiết chính khoá để dạy củng cố cho học sinh
phần kiến thức về cấu tạo từ ?
Câu hỏi này có thể được lí giải như sau: Các bài học trong nội dung
chương trình đã đạt chuẩn về kiến thức cần đạt. Giáo viên không được quyền cắt xén
thêm bớt hay thay thế . Vả laị nếu muốn mở rộng hoặc củng cố cho sâu, cho vững
cũng không đủ thời gian mà tiết học chính khóa sẽ trở nên nặng nề. Vì thế cách giúp
GV xử lí tốt nhất là dạy củng cố trong tiết học tăng cường. Và đó cũng chính là yêu
cầu của việc dạy học 2 buổi / ngày. Mặt khác , kiến thức về cấu tạo từ , các em đã
được học ở lớp 4. Việc củng cố mở rộng thêm kiến thức để học sinh tiếp thu có thể
tiếp thu tốt bài học mới là việc làm cần thiết mà GV lớp 5 phải đảm nhận.
Sau đây , tôi xin trình bày các thiết kế bài dạy tôi đã áp dụng để củng cố
kiến thức về cấu tạo từ cho HS lớp 5/2
2/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ láy :
I/ Mục tiêu:


5
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ láy .
* Nhận dạng được từ láy.
* Tìm được từ láy có cùng một tiếng gốc cho trước.
* Biết sử dụng từ láy để viết đoạn văn có nội dung cho trước.
II/ Chuẩn bị:
 4 lọ hoa trong đó có gắn các thẻ hoa ghi sẵn các kiểu từ láy .
 Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm.
III/ Các hoạt động dạy học:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
A/ Giới thiệu bài: Giáo viên nêu mục đích
yêu cầu tiết học.
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Nhận dạng từ láy và từ
ghép:
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội dung sau:
Xếp những từ được in đậm trong đoạn
văn sau đây vào 2 nhóm: từ láy và từ ghép:
Biển luôn thay đổi theo màu sắc của mây
trời. Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như
dâng cao lên chắc nịch. Trời âm u , mây mưa,
biển xám xịt, nặng nề. Trời ầm ầm giông gió,
biển đục ngầu giận dữ. Như một con người biết
- HS nghe.

- HS đọc đề và tìm hiểu
đề bài.
- HS thảo luận nhóm
đôi.







6
buồn vui, biển lúc tẻ nhạt, lạnh lùng, lúc sôi nổi,
hả hê, lúc đăm chiêu, gắt gỏng.
GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm đôi
trong thời gian 2 phút.
- Yêu cầu HS trình bày kết quả thảo luận
thông qua trò chơi: Ai nhanh hơn.
- GV treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2 nhóm từ .
HS nối tiếp nhau ghi từ vào các cột cho đúng. Đội
nào nhanh hơn và đúng sẽ là đội thắng cuộc.
GV nhận xét, chấm chữa và công bố đội
thắng.
GV chốt : Từ phức được chia thành 2 loại:
từ láy và từ ghép. Từ láy là những từ có bộ phận
của tiếng được láy lại giống nhau . Từ ghép là từ
có nhiều tiếng được ghép lại với nhau để tạo nên
một nghiã chung. Từ âm u là từ láy đặc biệt. Đây
là từ láy tượng hình khuyết phụ âm đầu( chỉ có
vần) .
GV yêu cầu HS tìm thêm các từ láy đặc
biệt.
Hoạt động 2: Ôn về các kiểu từ láy:
GV hỏi: Có mấy kiểu từ láy?
GV tổ chức trò chơi : Cắm hoa
GV xếp lên bàn một giỏ hoa lớn trong đó
có nhiều bông hoa ghi sẵn từ và 4 lọ hoa đính sẵn
các kiểu từ láy trên thành lọ . Cho HS thi cắm hoa
- HS tham gia
trò chơi
Từ láy từ ghép
Âm u
Xám xịt
Nặng
nề
Ầm ầm
Hả hê
Lạnh
lùng
Thay
đổi
Màu
sắc
Đục
ngầu
Xanh
thắm
Mây
mưa
Đăm
chiêu



- HS: ồn ào, inh ỏi, ú ớ,
êm ái, ủn ỉn, ì ạch...
- Có 4 kiểu từ láy: láy
âm , láy vần , láy âm và vần ,


7
vào lọ sao cho mỗi lọ chứa đúng kiểu từ láy được
ghi trên thành lọ hoa.
Cho HS tham gia trò chơi trong 2 phút.
GV chấm chọn đôị thắng cuộc và đặt
những câu hỏi để học sinh ghi nhớ sự khác biệt
của các kiểu từ láy.
Hoạt động 3: Ôn về các dạng từ láy
GV : Ngoài số từ láy có 2 tiếng, Tiếng
Việt còn có một số lượng từ láy có 3, 4 tiếng rất
phong phú.
GV yêu cầu học sinh nêu những từ láy có
3 ,4 tiếng mà học sinh đã biết.
GV ghi bảng và dưạ vào các từ này để chốt
ý:
Từ láy có 3 tiếng thường được cấu tạo như
sau: A ( Tiếng gốc) A’ A’’
Ví dụ: Xốp xồm xộp, tí tì ti, chút chùn
chun...
Từ láy có 4 tiếng được cấu tạo như sau:
Dạng 1: AB’AB: Khập khà khập khiễng,
lon ta lon ton, lủng cà lủng củng...
Dạng 2: A A BB: Cười cười nói nói, buồn
buồn vui vui, chi chi chành chành, ....
Hoạt động 4: Viết đoạn văn khoảng 4,5
láy tiếng.
HS tham gia trò chơi
Lọ 1: Láy âm: hồng
hào, vắng vẻ, chậm chạp, cần
cù.
Lọ 2: Láy vần : lon ton,
lao xao, linh tinh, lộn xộn.
Lọ 3: Láy âm và vần:
cuồn cuộn, trăng trắng, im ỉm,
tim tím
Lọ 4: Láy tiếng: xanh
xanh, cào cào, chuồn chuồn,
vui vui.


- HS nêu.
- HS tìm thêm
các ví dụ về từ láy 3, 4
tiếng có cấu tạo như GV
vừa nêu.


HS làm bài cá nhân.



8
câu có sử dụng từ láy để tả giờ chơi.
GV cho HS làm bài và tổ chức cho học
sinh trình bày bài làm , sửa chưã theo quy trình.
C/ Củng cố:
Trò chơi: Tìm từ láy có tiếng gốc cho
trước.
GV phát phiếu học tập nhóm cho HS. Yêu
cầu các em tìm từ láy có tiếng gốc sau:
Vui,nhanh, tròn, xa , trắng.
Nhận xét và tuyên dương nhóm giỏi nhất.
Nhận xét và dặn dò cho tiết ôn tập sau:
xem lại kiến thức về từ ghép.
HS tham gia trò chơi:
Vui vui, vui vẻ vui vầy.
Nhanh nhanh, nhanh nhẹn,
nhanh nhảu.
Xa xa, xa xăm , xa xôi.
trắng trẻo, trăng trắng,
Tròn trịa, tròn trĩnh, tròn
tròn.

3/ Thiết kế tiết dạy củng cố kiến thức về từ ghép.
I/ Mục tiêu:
* Giúp học sinh ôn lại kiến thức đã học về từ ghép .
* Nhận dạng được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại.
* Tìm được từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại có cùng một tiếng gốc
cho trước.
* Biết sử dụng từ ghép để viết đoạn văn có nội dung cho trước.
II/ Chuẩn bị:
 Bảng phụ ghi đoạn văn, bảng phụ ghi kết quả bài làm.


9
III/ Các hoạt động dạy học:
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
A/ Giới thiệu : GV nêu mục
đích yêu cầu tiết học.
B/ Bài mới:
Hoạt động 1: Nhận diện từ
ghép.
GV treo bảng phụ ghi sẵn nội
dung sau:
Xếp những từ được in đậm
trong đoạn văn sau đây vào 2 nhóm:
từ láy và từ ghép:
Núi đồi , làng bản chìm trong
biển mây mù. Trước bản, rặng đào đã
trút hết lá. Trên những cành khẳng
khiu đã lấm tấm những lộc non và lơ
thơ những cánh hoa đỏ thắm. Lá thông
vi vu một điệu đàn bất tuyệt. Xen lẫn
vào giưã những đám lá tai mèo, những
nương đỗ, nương mạch xanh um,
trông như những ô bàn cờ. Chốc chốc,
một điệu hát Hmông lại vút lên trong
trẻo.
GV yêu cầu học sinh thảo luận
nhóm đôi trong thời gian 2 phút.
- Yêu cầu HS trình bày kết quả
HS nghe





HS thảo luận nhóm đôi để thực hiện.
Từ
ghép
Từ láy
Làng
bản
Khẳng
khiu
Núi đồi Lấm
tấm
Đỏ
thắm
Vi vu
Tai mèo Trong
trẻo


10
thảo luận thông qua trò chơi: Tiếp sức
- GV treo 2 bảng phụ kẻ sẵn 2
nhóm từ . HS nối tiếp nhau ghi từ vào
các cột cho đúng. Đội nào nhanh hơn
và đúng sẽ là đội thắng cuộc.
GV nhận xét, chấm chữa và
công bố đội thắng.
GV chốt ý: Từ láy là những từ
có bộ phận của tiếng được láy lại
giống nhau. Từ ghép là từ có nhiều
tiếng được ghép lại với nhau để tạo
nên nghĩa chung. Trong từ ghép lại
có 2 kiểu : Từ ghép có nghiã tổng hợp
và từ ghép phân loại.
Hoạt động 2: Phân biệt từ
ghép tổng hợp và từ ghép phân loại:
GV yêu cầu học sinh tìm từ
ghép phân loại và từ ghép tổng hợp
trong các từ ghép vừa tìm được ở bài
tập 1.
Cho HS trình bày.
GV cho HS thảo luận nhóm đôi,
trả lời câu hỏi sau: Tìm những tiếng có
nghĩa rõ ràng trong các từ ghép.
Cho HS trình bày.
GV hỏi: Dựa vào số lượng tiếng
có nghĩa rõ ràng cuả mỗi từ , em hãy
Xanh
um

Điệu
hát



HS nghe



HS tìm từ ghép TH và PL

Từ
ghép PL
Từ
ghép TH
Xanh
um
Làng
bản
Đỏ
thắm
Núi đồi
Tai mèo

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×