Tải bản đầy đủ

Tài liệu Giáo trình Chẩn đoán Ung thư tế bào gan (HCC) docx

Chẩn đoán Ung thư tế bào gan (HCC)


Hình ảnh HCC
Chẩn đoán Ung thư tế bào gan (HCC) dựa trên xét nghiệm máu (Alpha-
Fetoprotein), chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI) và sinh
thiết khối u gan để phân loại về mặt mô học. Bước kế tiếp là phân giai đoạn của khối u
để có thể hoạch định một chiến lược điều trị thích hợp.

Các bước để chẩn đoán HCC
A- Alpha-Fetoprotein (AFP)
Lượng Alpha-fetoprotein đo bằng cách xét nghiệm máu. Alpha-fetoprotein
(AFP) là một chỉ điểm ung thư thường tăng ở từ 60% đến 70% bệnh nhân ung thư tế
bào gan (hepatocellular carcinoma= HCC). Bình thường, AFP ở mức < 10 ng/ml,
nhưng thường tăng đến mức giới hạn (10 đến 100 ng) ở những bệnh nhân viêm gan
mãn. Tuy nhiên, tất cả những bệnh nhân có trị số AFP tăng cao đều nên được tầm soát
HCC (bằng siêu âm bụng, CT scan hoặc MRI) đặc biệt khi AFP tăng hơn so với trị số
căn bản ở các xét nghiệm đã làm trước đây. Theo kinh nghiệm, khi trị số AFP tăng lên
đều đặn thì chẩn đoán HCC hầu như chắc chắn. Độ chuyên biệt của AFP rất cao nếu
trị số vượt qua 400 ng/ml. Các carcinom quái (teratocarcinoma) không biệt hoá và
carcinom tế bào phôi thai (embryonal cell carcinoma) của tinh hoàn hay buồng trứng

có thể cho kết quả dương tính giả, nên chúng cần phải được đưa vào phần chẩn đoán
phân biệt tăng AFP.
Thời gian để trị số AFP tăng gấp đôi là từ 60 đến 90 ngày. Do đó, nên kiểm tra
AFP mỗi 3 đến 4 tháng để tầm soát HCC ở các bệnh nhân xơ gan có nguy cơ cao
(viêm gan C, viêm gan B, và bịnh máu nhiễm sắt hemochromatosis).
B- Chẩn Đoán Hình Ảnh
Độ chính xác trong chẩn đoán của siêu âm, CT, MRI và chụp động mạch tuỳ
thuộc nhiều yếu tố: tính chuyên nghiệp của bác sĩ (đặc biệt đối với siêu âm), độ tinh
xảo của trang thiết bị và kỹ thuật, sự hiện diện của xơ gan và, quan trọng nhất là kinh
nghiệm của người đọc kết quả. Đối với những u nhỏ (<2 cm), độ chính xác của chẩn
đoán dao động từ 60–80%. Độ chính xác của chẩn đoán sẽ tăng đáng kể song song với
gia tăng kích thước của khối u, có thể lên đến 100% với những khối u to.

Hình ảnh HCC trên phim CT scan
C- Sinh thiết gan và phân loại mô học
Sinh thiết gan được chỉ định khi nghi ngờ chẩn đoán. Nếu AFP cao đáng kể và
đã tìm thấy một khối u trong gan, việc thừa nhận chẩn đoán HCC là hợp lý và sinh
thiết gan không còn cần thiết nữa
Tổ Chức Y Tế Thế Giới gợi ý rằng HCC có thể được phân loại thành nhiều type
mô học dựa trên cấu trúc của tế bào khối u: type hình bó hoặc hình xoang (trabecular
or sinusoidal), type giả tuyến (pseudoglandular) hoặc type nang tuyến (acinar type), và
type đặc hay type xơ cứng (scirrhous sclerosing). Khối u còn có thể phân loại dựa trên
độ biệt hoá của tế bào: biệt hoá tốt, trung bình hoặc kém.

Ngoài ra, còn một phương pháp phân loại quen thuộc của UICC (Liên Hiệp
Quốc Tế Chống Ung Thư = International Union Against Cancer) dựa trên số lượng,
kích thước, độ xâm nhập vào mạch máu của khối u và di căn.
Phân giai đoạn TNM:
Tumor: kích thước và độ xâm nhập vào mạch máu của khối u, Node: di căn
hạch, Metastasis: di căn xa.
Do đa số các trường hợp ung thư gan đều đi kèm với tình trạng xơ gan, rất cần
thiết phải đánh giá tình trạng của bệnh gan trước khi hoạch định một chiến lược điều
trị. Bảng tính điểm Child-Pugh xác định độ nặng của bệnh gan dựa trên các yếu tố
albumin huyết thanh, bilirubin, prothrombin time, INR, cổ trướng và bệnh lý não
(encephalopathy).
Dựa trên Thang điểm Child-Turcotte-Pugh (CTP) để đánh giá độ trầm trọng của
bệnh gan
Tài Liệu Tham Khảo:
Hepatocellular Carcinoma- April 2008 THE JOHNS HOPKINS UNIVERSITY.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×