Tải bản đầy đủ

Đánh giá rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt Nam

Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
2.2.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ....................................90
2.2.3.3 Dự kiến rủi ro phát hiện trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ......................................95
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.2.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ....................................90
2.2.3.3 Dự kiến rủi ro phát hiện trên số dư khoản mục và loại hình nghiệp vụ ......................................95
LỜI NÓI ĐẦU
Dịch vụ kiểm toán đã phát triển từ rất lâu trên thế giới, song tại Việt
Nam mới bắt đầu hình thành từ năm 1991. Ra đời muộn nhưng đã nhanh
chóng có một chỗ đứng quan trọng, góp phần đắc lực trong việc thúc đẩy phát
triển nền kinh tế đất nước về mọi mặt. Công ty TNHH Deloitte Việt Nam là
một trong những Công ty có lịch sử lâu đời nhất tại Việt Nam. Hơn 15 năm
hình thành và phát triển, Deloitte Việt Nam luôn thể hiện là một trong những
Công ty hàng đầu trong các dịch vụ kiểm toán, tư vấn và giải pháp doanh
nghiệp, tư vấn thuế, đào tạo và quản lý nguồn nhân lực.
Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷ
trọng lớn trong doanh thu của các Công ty kiểm toán hiện nay. Trước xu thế
hội nhập như ngày nay các Công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phải

đặt ra yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh với các Công ty kiểm
toán nước ngoài.
Trong đó đánh rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan trọng để
giúp cho các Công ty kiểm toán xây dựng một kế hoạch kiểm toán hợp lý góp
phần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay việc đánh giá rủi ro ở các Công ty vẫn còn nhiều điểm chưa
hoàn thiện do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình độ phán xét của kiểm
toán viên. Được đánh giá là một trong những Công ty có quy trình đánh giá
rủi ro kiểm toán khá hoàn chỉnh và tiêu chuẩn, trong thời gian thực tập tại
Deloitte Việt Nam tôi đã có cơ hội tiếp xúc và so sánh giữa lý thuyết và thực
tế và nhận ra được rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm quý báu. Chính
vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
Luận văn tốt nghiệp
toán báo cáo tài chính tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Deloitte Việt
Nam” để nghiên cứu và phát triển thành luận văn tốt nghiệp của mình.
Từ những kiến thức đã học, tham khảo tài liệu chuyên ngành, qua tìm
hiểu thực tế, cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS. Nguyễn Phương
Hoa, thầy giáo TH.S Phan Trung Kiên, các anh chị trong công ty, tôi đã cố
gắng hoàn thành Luận văn tốt nghiệp của mình.
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán
trong kiểm toán BCTC;
Chương 2: Thực trạng quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong
quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam;
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện trình tự đánh giá rủi ro
trong quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Deloitte Việt Nam.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
3
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM
TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Khái quát về rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.1.1 Khái niệm rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
Theo nghĩa chung nhất, rủi ro là khái niệm chỉ khả năng mà một sự
kiện không thuận lợi nào đó sẽ xuất hiện. Rủi ro được nhắc đến như một sự
ám chỉ về một điều không chắc chắn, một hậu quả với những tình huống
không thể lường trước được, nó có thể xảy ra, nếu xảy ra có thể không như
chúng ta mong đợi, hoặc mang lại kết quả không tốt đẹp. Rủi ro ứng với sai
lệch giữa dự kiến và thực tế. Trong lịch sử đã có nhiều quan niệm tranh luận
về rủi ro. Theo quan niệm về rủi ro của Pháp, người ta đơn thuần coi rủi ro chỉ
liên quan đến các thiệt hại - rủi ro không đối xứng. Quan điểm của Mỹ thì cho
rằng rủi ro liên quan đến cả thiệt hại và may mắn - rủi ro đối xứng. Còn sau
đây là một số quan điểm được chọn lọc từ cuốn sách “Bảo hiểm quốc tế,
nguyên tắc và thực hành” do Học viện Hoàng gia Anh xuất bản năm 1993:
- Rủi ro là khả năng xảy ra một số sự cố không may;
- Rủi ro là sự kết hợp các nguy cơ;
- Rủi ro là sự không thể đoán trước một tình huống, một khuynh hướng
dẫn đến kết quả thực tế khác với kết quả dự toán;
- Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất;
- Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất.
Những định nghĩa trên đây là các quan điểm khác nhau, tuy nhiên
nghiên cứu các quan điểm này cho thấy giữa chúng có mối quan hệ logic với
nhau. Các định nghĩa đều đề cập đến một sự không chắc chắn mà chúng ta coi
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
4
Luận văn tốt nghiệp
là bất ngờ trong tương lai. Bên cạnh đó, các định nghĩa này cũng ám chỉ
những cấp độ hay mức độ rủi ro khác nhau. Ngoài ra các định nghĩa đều nói
đến hậu quả do một hay nhiều nguyên nhân gây ra. Điều này dường như có mối
quan hệ chặt chẽ với định nghĩa mà chúng ta đã sử dụng trước đó, theo định
nghĩa này rủi ro là không chắc chắn về hậu quả trong một tình huống cụ thể.
Tại Việt Nam, từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Sài Gòn xuất bản
năm 2005 giải thích: “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến”.
Và theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam xuất bản năm 2003 thì: “Rủi ro là hậu
quả gây thiệt hại ít nhiều có thể dự kiến được của một hành vi mà việc thực
hiện không chỉ phụ thuộc vào ý chí của các bên đương sự. Người thực hiện
hành vi phải chịu trách nhiệm về thiệt hại gây nên cho người kia”. Từ điển
Thuật ngữ Kiểm toán - Kế toán Nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 2002
cho rằng: “Rủi ro là khả năng bị thua lỗ hay bị tổn hại có thể đo lường được.
Rủi ro khác với bất trắc ở chỗ sự bất trắc không thể đo lường được.”
Trên thực tế, các hoạt động kinh tế thường gặp những rủi ro đặc trưng.
Mỗi ngành nghề có một rủi ro riêng, chẳng hạn: rủi ro hối đoái, rủi ro đầu tư,
rủi ro kinh doanh,… và kiểm toán cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Rủi ro hối đoái là rủi ro do biến động về tỷ giá gây ra. Rủi ro này
thường có đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Doanh nghiệp có thể gặp rủi ro khi không chắc chắn về một khoản thu nhập
hoặc chi trả do sự biến động về tỷ giá gây ra.
Rủi ro đầu tư là rủi ro khi tiến hành hoạt động đầu tư (như đầu tư vào
thị trường chứng khoán, đầu tư vào thị trường bất động sản,…). Rủi ro đầu tư
là cao khi các nhà đầu tư không lường trước được các khả năng có thể xảy ra
và các nhân tố tác động.
Rủi ro kinh doanh là các khả năng có thể xảy ra khi tiến hành hoạt động
kinh doanh. Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào cũng có thể xảy ra rủi ro.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
Trong lĩnh vực kiểm toán, có khá nhiều loại rủi ro được đề cập đến
như: rủi ro kinh doanh, rủi ro kiểm toán, rủi ro chọn mẫu…
Rủi ro kiểm toán là rủi ro mà KTV sẽ kết luận là các BCTC được trình
bày trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, và do đó một ý kiến
chấp nhận toàn phần sẽ được công bố, trong khi, trên thực tế chúng bị sai sót
trọng yếu.
Rủi ro chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu là hai loại rủi ro có thể ảnh
hưởng đến các bộ phận của rủi ro kiểm toán.
Rủi ro kinh doanh (engagement risk) là rủi ro mà KTV và công ty
kiểm toán sẽ phải chịu thiệt hại vì mối quan hệ với khách hàng cho dù báo
cáo kiểm toán cung cấp cho khách hàng là đúng, là rủi ro liên quan đến trách
nhiệm của KTV bao gồm ba nhân tố:
- Những vấn đề liên quan đến khách hàng, ví dụ: tình hình tài
chính, khả năng thu lợi nhuận và danh tiếng của khách hàng
trong tương lai, đặc điểm và tính chính trực của ban quản lý và
của người chủ doanh nghiệp khách hàng trong tương lai.
- Những vấn đề liên quan đến kinh doanh, ví dụ: rủi ro chi phí
(liệu có bất kỳ lí do nào cho thất bại trong kiểm toán hay
không) như việc thực hiện chi trả các phí và liệu việc hợp tác
của ta với một khách hàng nào đó trong tương lai có gây tác hại
cho hình ảnh của công ty chúng ta xét về mặt chuyên môn hay
không.
- Những vấn đề liên quan đến kiểm toán, ví dụ: những khó khăn
dự kiến trong việc thu lượm bằng chứng kiểm toán
Qua đó ta thấy sự khác nhau cơ bản giữa rủi ro kiểm toán và rủi ro kinh
doanh. Sự kiểm soát chặt chẽ rủi ro kiểm toán là yếu tố chủ yếu của quá trình
kiểm soát rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán. Do đó, trong các loại rủi
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
6
Luận văn tốt nghiệp
ro trên thì rủi ro kiểm toán là rủi ro được đề cập đến nhiều nhất và quan trọng
nhất.
Theo Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán”, trong Mục 9 Liên đoàn Kiểm toán Quốc tế soạn thảo định nghĩa rủi ro
kiểm toán như sau: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà KTV có thể mắc
phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và
đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ KTV có thể đưa ra ý kiến chấp nhận
toàn bộ về một BCTC mà không biết rằng các báo cáo này có những sai phạm
nghiêm trọng”.
Ở Việt Nam, kiểm toán ra đời tương đối muộn. Tuy nhiên, những
chuẩn mực về kiểm toán được ban hành kịp thời phục vụ cho quá trình phát
triển của kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400)
“Đánh giá rủi ro và kiểm toán nội bộ” đã giải thích rủi ro kiểm toán như sau:
“Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý
kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn
còn chứa đựng những sai sót trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ
phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện”
Trong thực tế, bất kì cuộc kiểm toán nào cũng chứa đựng và tồn tại rủi
ro. Rủi ro luôn có nguy cơ xảy ra cho dù các kiểm toán viên và công ty kiểm
toán đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc kiểm toán. Trong mọi cuộc kiểm toán,
người ta không đảm bảo chắc chắn 100% các báo cáo tài chính đã kiểm toán
không còn chứa đựng các sai phạm trọng yếu. Vì vậy, trong các cuộc kiểm
toán, kiểm toán viên chỉ có thể kì vọng một mức rủi ro kiểm toán có thể chấp
nhận được và mở mức rủi ro kiểm toán chấp nhận được kiểm toán viên sẽ
đảm bảo các sai sót trọng yếu không có cơ hội xảy ra. Do đó khái niệm rủi ro
kiểm toán mong muốn thường được các kiểm toán viên sử dụng.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
Ở tất cả các công ty kiểm toán và trong mọi cuộc kiểm toán, vấn đề xác
định rủi ro kiểm toán mong muốn là cần thiết và quan trọng. Có xác định
được rủi ro kiểm toán mong muốn kiểm toán viên mới có những cơ sở để xác
định được mức trọng yếu có thể chấp nhận. Rủi ro kiểm toán luôn được kiểm
toán viên và công ty kiểm toán xác định trước khi lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán. Xác định rủi ro kiểm toán trước khi lập kế hoạch và thực hiện
kiểm toán nhằm mục đích: Tìm hiểu đánh giá sơ bộ về khách hàng, xem xét
có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng và hỗ trợ cho việc lập kế hoạch kiểm
toán.
Trong thực tế, rủi ro kiểm toán thường xảy ra do giới hạn về mặt quản
lý, về kiểm toán, mà trực tiếp là chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng cần
thu thập). Thậm chí, ngay cả khi bằng chứng kiểm toán đã đủ thì rủi ro kiểm
toán vẫn có khả năng xảy ra. Chi phí kiểm toán (số lượng bằng chứng kiểm
toán) và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với nhau. Số lượng bằng
chứng kiểm toán càng lớn thì rủi ro kiểm toán càng thấp và tiến dần về mức
rủi ro kiểm toán mong muốn.
1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Thứ nhất, Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại những sai phạm trong bản thân của
các đối tượng kiểm toán mà chưa tính đến bất kì một sự tác động nào của hoạt
động kiểm toán kể cả hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm toán”
cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là những yếu điểm của số dư tài khoản hoặc của
một loại nghiệp vụ, đối với những sai sót này có thể đơn lẻ hoặc có thể kết
hợp với các sai sót ở những số dư, các nghiệp vụ khác (ở đây giả định là
không có các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan). Rủi ro tiềm tàng nằm
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
8
Luận văn tốt nghiệp
trong chức năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong môi trường
kinh doanh cũng như trong bản chất của số dư tài khoản hoặc các nghiệp vụ”.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) “Đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro tiềm tàng là loại rủi ro tiềm ẩn, vốn có do
khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng
những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không
có hệ thống kiểm soát nội bộ.”
Như vậy, về bản chất, rủi ro tiềm tàng là mức độ mà KTV ước tính là
có một sai số cao hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận trước khi xét
đến tính hiệu quả của các quá trình kiểm soát nội bộ về kế toán. Mức độ rủi ro
tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình kinh doanh của khách thể kiểm
toán, loại hình kinh doanh và năng lực nhân viên của khách thể kiểm toán.
Mức rủi ro này còn tuỳ thuộc vào đặc điểm từng loại tài sản, nghiệp vụ. KTV
không tạo ra, cũng không kiểm soát được rủi ro tiềm tàng mà họ chỉ có thể
đánh giá chúng. Rủi ro tiềm tàng có quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập. Có nghĩa là nếu rủi ro tiềm tàng càng cao thì số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều và ngược lại.
Thứ hai, Rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng
không phát hiện, không ngăn chặn và không thể sửa chữa kịp thời các sai
phạm có tính chất trọng yếu. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm
có tính chất trọng yếu. Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng
yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động
hiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này. Rủi ro
kiểm soát có liên quan mật thiết đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng. Cũng như rủi ro tiềm tàng, kiểm toán viên không thể tạo
ra và kiểm soát được rủi ro kiểm soát, KTV chỉ có thể thông qua tìm hiểu hệ
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng qua đó đưa ra đánh giá mức độ rủi ro
kiểm soát.
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 Mục 14 cho rằng: “Rủi ro
kiểm soát là rủi ro xác định sai, nó có thể xảy ra đối với một số dư tài khoản
hoặc nghiệp vụ và cũng có thể là sai sót nghiêm trọng. Những sai sót này xảy
ra đơn lẻ hoặc được kết hợp với các sai sót của các số dư, hoặc các nghiệp vụ
khác mà hệ thống kiểm soát nội bộ đã không ngăn chặn hoặc không phát hiện
kịp thời. Rủi ro kiểm soát luôn xuất hiện và khó tránh khỏi những hạn chế có
tính bản chất của bất kì một hệ thống kiểm soát nội bộ nào”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc gộp lại mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không
ngăn chặn hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”
Như vậy rủi ro kiểm soát là mức độ mà KTV ước tính là có sai số cao
hơn mức có thể chấp nhận trong một bộ phận mà cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng không ngăn chặn được. Rủi ro kiểm soát là loại rủi ro có liên quan
đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ. Cơ cấu kiểm soát nội bộ của
khách hàng càng hiệu quả thì rủi ro kiểm soát càng thấp và ngược lại.
Rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập và quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Rủi ro
kiểm toán luôn luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của
bất kì hệ thống kiểm soát nội bộ nào.
Thứ 3, Rủi ro phát hiện
Theo cách đơn giản, rủi ro phát hiện là loại rủi ro liên quan đến khả
năng các thủ tục kiểm toán do kiểm toán viên và các công ty kiểm toán đã tiến
hành nhưng không phát hiện được các sai phạm trọng yếu.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
10
Luận văn tốt nghiệp
Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số 25 “Trọng yếu và rủi ro kiểm
toán” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán viên không
phát hiện ra các sai sót hiện có trong các số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ.
Các sai sót này là có thể là các sai sót nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể
kết hợp với các sai sót trong số dư các nghiệp vụ khác. Mức rủi ro phát hiện
có quan hệ trực tiếp với những phương pháp của kiểm toán viên.”
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” cho rằng: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng
yếu trong từng nghiệp vụ và từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm
toán không phát hiện được.”
Những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện như sau:
Thứ nhất: Các bước kiểm toán không thích hợp. Điều này xảy ra với
các kiểm toán viên thiếu kinh nghiệm hoặc quá trình lập kế hoạch kiểm toán
không được thực hiện một cách đúng đắn, khiến cho việc thực hiện các quy
trình kiểm toán đối với mỗi phần hành trở nên không hợp lí;
Thứ hai: Kiểm toán viên đã tìm được bằng chứng, nhưng do không tìm
được nguyên nhân gây sai sót dẫn đến kết luận sai về bản chất của khoản mục
hoặc nghiệp vụ đó;
Thứ ba: Các báo cáo tài chính bản thân cũng chứa đựng các sai sót,
nhưng sự sai sót đó là do bên trong doanh nghiệp đã có sự thông đồng để làm
sai các chính sách làm cho kiểm toán viên càng khó phát hiện hơn các sai
phạm.
Rủi ro phát hiện là mức độ mà KTV sẵn sàng chấp nhận là bằng chứng
kiểm toán phải thu thập cho một bộ phận sẽ không phát hiện ra các sai số cao
hơn có thể chấp nhận, nếu những sai sót đó tồn tại. Như vậy, rủi ro phát hiện
có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
thử nghiệm do KTV thực hiện. Mức rủi ro phát hiện sẽ giảm xuống nếu KTV
tăng các thử nghiệm chi tiết trên số dư hoặc nghiệp vụ, mở rộng phạm vi kiểm
tra hoặc tăng cường cỡ mẫu của các thử nghiệm. Do đó, ngược lại với rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV phải có trách nhiệm thực hiện các thủ tục
thu thập bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý rủi ro phát hiện. Một số rủi ro
phát hiện sẽ thường vẫn xảy ra cho dù có kiểm tra 100% các số dư và các loại
nghiệp vụ vì KTV có thể lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm toán
không phù hợp, áp dụng sai các phương pháp kiểm toán thích hợp, hoặc giải
thích sai hay nhận định sai các kết quả kiểm toán.
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro – Mô hình rủi ro kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện là những bộ phận
cấu thành rủi ro kiểm toán, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát là hai loại rủi ro tồn tại độc lập, khách quan,
kiểm toán viên không tạo ra và cũng không thể kiểm soát được chúng. Kiểm
toán viên chỉ có thể thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán tại đơn vị
khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình để đánh giá mức độ của chúng.
Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mức độ lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn
vào ngành nghề kinh doanh cũng như môi trường pháp lí mà khách hàng đang
hoạt động. Không những thế, hai loại rủi ro này còn phụ thuộc vào bản chất
của các số dư tài khoản và nghiệp vụ kinh tế đặc thù tương ứng với ngành
nghề kinh doanh của khách hàng. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối
quan hệ tỷ lệ nghịch nên trong các cuộc kiểm toán, kiểm toán viên thường kết
hợp cùng một lúc đánh giá mức độ của hai loại rủi ro này. Ngược lại, KTV có
thể kiểm soát được rủi ro phát hiện thông qua việc điều chỉnh nội dung, thời
gian và phạm vi của các thử nghiệm. Do vậy, cần phải thiết kế các thủ tục
kiểm toán hợp lý để giảm thấp rủi ro kiểm toán như mức mong muốn với chi
phí hợp lý.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
12
Luận văn tốt nghiệp
Mối quan hệ giữa rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
với rủi ro kiểm toán được thể hiện qua mô hình rủi ro kiểm toán như sau:
DAR = IR x CR x DR (1)
Trong đó:
DAR: Rủi ro kiểm toán
IR: Rủi ro tiềm tàng
CR: Rủi ro kiểm soát
DR: Rủi ro phát hiện
Các loại rủi ro kiểm toán có thể được đánh giá cụ thể bằng các con số
theo tỷ lệ phần trăm hoặc được đánh giá một cách khái quát theo yếu tố định
tính như: thấp, trung bình, cao.
Hai mô hình trên có cùng bản chất và giá trị song mô hình (2) được ưa
chuộng hơn để xác định rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng thích hợp.
1.1.4 Vai trò của đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính
Rủi ro kiểm toán chủ yếu được KTV xác định trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400) “Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” đã quy định: “Rủi ro kiểm toán được xác định
trước khi lập kế hoạch kiểm toán và trước khi thực hiện kiểm toán”.
Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần đánh giá tổng thể rủi
ro kiểm toán căn cứ vào hiểu biết của KTV về đặc điểm kinh doanh của khách
hàng cũng như tìm hiểu về ngành nghề, quản lý môi trường kiểm soát và hoạt
động. Sự đánh giá như vậy cung cấp thông tin sơ bộ về chiến lược chung đối
với hợp đồng kiểm toán, nhân sự cần thiết cho nhóm kiểm toán, thời gian
kiểm toán và khuôn khổ đánh giá rủi ro kiểm toán ở từng giai đoạn, từng loại
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
Hay DR =
DAR
IRxCR
(2)
13
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp vụ và từng số dư tài khoản và cuối cùng là thiết kế các thủ tục thích
hợp cho các khoản mục trên BCTC
Thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu quả nghiệp vụ là vấn đề
rất rộng và trên thực tế không thể kiểm toán được tất cả các thông tin đã thu
được và chưa thu được của hoạt động tài chính và nghiệp vụ phải kiểm toán.
Mặt khác, người sử dụng thông tin cũng chỉ quan tâm đến bản chất của thực
trạng hoạt động tài chính và hiệu quả hoạt động. Điều đó dẫn tới tính tất yếu
phải lựa chọn nội dung, phương pháp, thủ tục kiểm toán tối ưu để vừa đánh
giá đúng bản chất đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của
người quan tâm với giá phí kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện đủ những thủ
tục kiểm toán cần thiết.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA - 300) “Lập kế hoạch
kiểm toán” cho thấy vai trò của việc đánh giá rủi ro kiểm toán trong quá trình
lập kế hoạch: “Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm
đảm bảo phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc
kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn” và “khi xây dựng chương trình
kiểm toán, KTV phải xem xét các đánh giá về rủi ro tiềm tang, rủi ro kiểm
soát, cũng như mức độ đảm bảo phải đạt được thông qua thử nghiệm cơ bản”.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 (VSA – 530) “Lấy mẫu kiểm
toán và các thủ tục lựa chọn khác” quy định về cỡ mẫu như sau: “Kiểm toán
phải đảm bảo rủi ro kiểm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống
mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi
mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận được càng thấp, thì
cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn”. Như vậy rủi ro kiểm toán có ảnh hưởng một
cách trực tiếp đến cỡ mẫu đồng thời ảnh hưởng tới quá trình thu thập bằng
chứng, cũng như ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả cuộc kiểm toán. Trong quá
trình thu thập bằng chứng kiểm toán, KTV phải sử dụng khả năng xét đoán
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
14
Luận văn tốt nghiệp
nghề nghiệp để đánh giá rủi ro tiềm tàng xuống thấp đến mức có thể chấp
nhận được.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA – 240) “Gian lận và sai
sót” cũng quy định: “Khi lập kế hoạch và khi thực hiện kiểm toán, KTV và
công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro về những gian lận và sai sót có thể có,
làm ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC và phải trao đổi với Giám đốc (hoặc
người đứng đầu đơn vị) về mọi gian lận hoặc sai sót quan trọng phát hiện
được”.
Như vậy có thể nói rủi ro kiểm toán được đề cập đến trong suốt cuộc
kiểm toán, cho thấy tầm quan trọng và mức ảnh hưởng của nó tới công việc
kiểm toán BCTC. Chính vì vậy mà công việc đánh giá rủi ro kiểm toán là rất
quan trọng và cần phải được thực hiện bởi những kiểm toán viên có trình độ
cao.
1.2 Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính
1.2.1 Khái quát về quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
Theo nguyên lý chung, quy trình kiểm toán BCTC cũng trải qua 3 giai
đoạn cơ bản: Chuẩn bị kiểm toán, thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán
Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán: Từ thư mời (hoặc lệnh) kiểm toán, KTV
tìm hiểu khách thể kiểm toán với mục đích hình thành hợp đồng hoặc kế
hoạch chung cho cuộc kiểm toán. Tiếp đó, kiểm toán viên cần thu thập các
thông tin, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm
toán để xây dựng kế hoạch kiểm toán. Để thực hiện những công việc trên, các
trắc nghiệm chủ yếu được thực hiện là trắc nghiệm mức đạt yêu cầu của công
việc và trắc nghiệm phân tích. Đồng thời với công việc kiểm toán cần chuẩn
bị cả phương tiện và lực lượng giúp việc (nếu cần) cho việc triển khai kế
hoạch và chương trình kiểm toán đã xây dựng.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
15
Luận văn tốt nghiệp
Bước 2: Thực hiện công việc kiểm toán: Đây là quá trình sử dụng các
trắc nghiệm chủ yếu là trắc nghiệm cơ bản, vào các thông tin phản ánh trên
bảng khai tài chính. Trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm này trước hết tùy
thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ở bước 1. Nếu hệ thống
kiểm soát nội bộ được đánh giá là không có hiệu quả thì các trắc nghiệm độ
tin cậy sẽ được thực hiện ngay với số lượng lớn. Ngược lại, nếu hệ thống
kiểm soát nội bộ được đánh giá có hiệu lực thì trước hết trắc nghiệm đạt mức
yêu cầu được sử dụng để xác định khả năng sai phạm và tiếp đó, các trắc
nghiệm độ tin cậy được ứng dụng với số lượng ít để xác minh những sai sót
có thể có. Nếu trắc nghiệm mức đạt yêu cầu lại cho kết quả là hệ thống kiểm
soát nội bộ có hiệu lực thì trắc nghiệm độ tin cậy sẽ lại thực hiện với số lượng
lớn. Quy mô cụ thể của các trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết
hợp giữa chúng phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và kĩ năng phán đoán
của KTV với mục đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phí
kiểm toán thấp nhất.
Bước 3: Hoàn tất công việc kiểm toán: Kết quả các trắc nghiệm trên
phải được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ
với các sự việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập bảng khai
tài chính. Chỉ trên cơ sở đó mới đưa được kết luận cuối cùng và lập báo cáo
kiểm toán.
1.2.2 Trình tự đánh giá rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.2.1 Phương pháp tiếp cận kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 330 (VSA – 330) “Thủ tục
kiểm toán trên cơ sở đánh giá rủi ro”: “Để giảm rủi ro kiểm toán xuống mức
thấp nhất có thể chấp nhận được, KTV và công ty kiểm toán phải đưa ra
phương pháp tiếp cận tổng quát trên cơ sở đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
16
Luận văn tốt nghiệp
trong BCTC; phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán để xử lý các rủi
ro có sai sót trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu.”
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần đưa ra phương pháp tiếp cận
tổng quát để xác định rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC. Phương pháp
tiếp cận tổng quát đòi hỏi KTV phải giữ thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong
quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán, bổ nhiệm KTV có nhiều
kinh nghiệm hoặc có các kĩ năng chuyên môn đặc biệt; sử dụng các chuyên
gia, giám sát nhiều hơn hoặc kết hợp các yếu tố bổ sung cho các vấn đề không
thể dự đoán trước khi lựa chọn thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. KTV
và công ty kiểm toán có thể thay đổi nội dung, lịch trình và phạm vi của các
thủ tục kiểm toán. Ví dụ: việc thực hiện các thử nghiệm cơ bản vào giai đoạn
cuối kỳ thay vì vào giai đoạn giữa kỳ.
Hiểu biết của KTV về môi trường kiểm soát của đơn vị được kiểm toán
có ảnh hưởng đến việc đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong BCTC. Môi
trường kiểm soát hiệu quả giúp KTV tin tưởng hơn vào hệ thống kiểm soát
nội bộ và độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán thu thập được trong nội bộ
đơn vị được kiểm toán, từ đó cho phép KTV tiến hành một số thủ tục kiểm
toán ở giai đoạn giữa kỳ thay vì vào giai đoạn cuối kỳ. Nếu phát hiện thấy
những điểm yếu trong môi trường kiểm soát của đơn vị, KTV sẽ tiến hành
thêm các thủ tục kiểm toán vào giai đoạn cuối kỳ chứ không phải vào giai
đoạn giữa kỳ. KTV cần thu thập thêm bằng chứng kiểm toán từ thử nghiệm
cơ bản, thay đổi nội dung các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập thêm bằng
chứng kiểm toán có sức thuyết phục cao hoặc mở rộng phạm vi cuộc kiểm
toán.
Những xem xét trên có ảnh hưởng quan trọng đến phương pháp kiểm
toán chung của KTV. Ví dụ, tập trung thực hiện thử nghiệm cơ bản (phương
pháp cơ bản), hoặc kết hợp thử nghiệm kiểm soát với thử nghiệm cơ bản
(phương pháp kết hợp).
KTV và công ty kiểm toán phải thiết kế và thực hiện thêm các thủ tục
kiểm toán bổ sung mà nội dung, lịch trình và phạm vi của các thủ tục này phụ
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
17
Luận văn tốt nghiệp
thuộc vào kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu
nhằm thể hiện sự liên hệ rõ ràng giữa nội dung, lịch trình và phạm vi của các
thủ tục kiểm toán với việc đánh giá rủi ro. Khi thiết kế các thủ tục kiểm toán,
KTV và công ty kiểm toán cân nhắc các vấn đề sau:
- Mức độ quan trọng của rủi ro;
- Khả năng có thể xảy ra sai sót trọng yếu;
- Đặc trưng của loại nghiệp vụ, số dư khoản mục hoặc các giải
trình liên quan;
- Nội dung hoạt động kiểm soát cụ thể mà đơn vị kiểm toán được
sử dụng, đặc biệt là hoạt động kiểm soát này được thực hiện
thủ công hay tự động;
- KTV có kỳ vọng thu thập được bằng chứng kiểm toán để xác
định liệu các hoạt động kiểm soát của đơn vị có hiệu quả trong
việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu hay
không.
1.2.2.2 Xác định rủi ro kiểm toán mong muốn
Rủi ro kiểm toán mong muốn là mức rủi ro được xác định một cách chủ
quan: Khi quyết định mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn, KTV muốn
chắc chắn hơn để có được các báo cáo (quyết định) kiểm toán không bị sai
phạm trọng yếu.
Mức rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định phụ thuộc vào hai yếu
tố cơ bản:
• Mức độ quan tâm của những người sử dụng bên ngoài đến BCTC:
Khi có nhiều người bên ngoài quan tâm đến BCTC, mức rủi ro kiểm
toán phải giảm vì những sai lệch trọng yếu trên BCTC đã kiểm toán
dễ gây tác hại trên phạm vi rộng.
• Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn tài chính sau khi báo cáo
kiểm toán được công bố: Nếu một số khách hàng buộc phải xin phá
sản hoặc phải chịu một sự thiệt hại lớn sau khi báo cáo kiểm toán
được công bố thì KTV phải bảo vệ kết quả cuộc kiểm toán. Vì thế,
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
18
Luận văn tốt nghiệp
rủi ro kiểm toán mong muốn sẽ thấp cho dù chi phí kiểm toán cao
hơn.
Thông thường, rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định cho từng bộ
phận trong suốt cuộc kiểm toán. Trong trường hợp rủi ro kiểm toán mong
muốn ở mức trung bình (vì số lượng người sử dụng báo cáo tài chính hạn chế
và vì lợi nhuận ở mức bình thường), có thể sử dụng mức rủi ro kiểm toán
mong muốn trung bình cho tất cả các khoản chủ yếu. Tuy nhiên, mức rủi ro
kiểm toán mong muốn thấp hơn mức đã xác định đối với một số khoản mục
trên BCTC cũng có thể được sử dụng nếu các khoản mục đó có tính trọng yếu
cao hơn. Ví dụ, mức rủi ro kiểm toán mong muốn trung bình được xác định
đối với toàn bộ cuộc kiểm toán nhưng có thể sử dụng mức rủi ro kiểm toán
mong muốn thấp hơn đối với hàng tồn kho nếu hàng tồn kho được sử dụng
như một vật thế chấp cho một khoản vay ngắn hạn,…
1.2.2.3 Đánh giá rủi ro tiềm tàng
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” quy định: “Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTV và công ty
kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm tang cho toàn bộ BCTC của đơn vị được
kiểm toán. Khi lập chương trình kiểm toán, KTV phải xác định cụ thể mức độ
rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở
dẫn liệu”.
Như vậy, đánh giá rủi ro tiềm tàng cần được thực hiện trên hai mức độ:
Đánh giá rủi ro tiềm tàng đối với toàn bộ BCTC và đánh giá rủi ro tiềm tàng
trên số dư tài khoản và các loại nghiệp vụ.
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng, KTV dựa vào các yếu tố ảnh hưởng sau:
• Bản chất kinh doanh của khách hàng: rủi ro tiềm tàng thường bị
tăng lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó có thể
bị tạo nên những khó khăn cho kiểm toán hoặc những khoản không
chắc chắn do đó có thể làm tăng những gian lận hoặc những sai sót
trên BCTC. Ví dụ, khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm
sẽ đặc biệt khó khăn trong hạch toán doanh thu, do đó việc kiểm
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
19
Luận văn tốt nghiệp
toán doanh thu sẽ khó khăn hơn đối với các xí nghiệp sản xuất thông
thường.
• Tính trung thực của Ban Giám Đốc: Ban Giám Đốc không thể xem
là hoàn toàn trung thực trong mọi trường hợp. Khi Ban Giám Đốc bị
kiểm soát bởi một hoặc một số ít các các nhân thiếu tính trung thực
thì khả năng các BCTC bị báo cáo sai nghiêm trọng sẽ tăng lên rất
cao, do vậy việc rủi ro tiềm tàng được đánh giá ở mức cao.
• Kết quả các lần kiểm toán trước: Đối với tài khoản được phát hiện
có sai phạm trong các lần kiểm toán của năm trước, rủi ro tiềm tàng
được xác định ở mức cao. Lý do nhiều loại sai phạm có tính chất hệ
thống và các đơn vị thường chậm chạp không tiến hành các biện
pháp sửa chữa chúng trên các sai phạm đã sảy ra trong năm trước có
thể vẫn tiếp tục xảy ra trong năm nay.
• Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn: Trong
các hợp đồng kiểm toán lần đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và
kinh nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường
đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với hợp đồng kiểm toán gia
hạn.
• Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: Các nghiệp vụ này có
khả năng bị vào số sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày
do khách hàng thiếu kinh nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó.
• Các ước tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh
các ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự
phòng giảm giá hàng tồn kho,…) thường được đánh giá là cao vì
việc vào sổ đúng đắn các khoản mục này không những đòi hỏi sự
hiểu biết về bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quan mà còn cả
kinh nghiệm và sự phán xét chủ quan của người có trách nhiệm.
• Số lượng tiền của các số dư tài khoản: Các tài khoản có số dư bằng
tiền lớn thường được đánh giá là rủi ro tiềm tàng cao hơn so với tài
khoản có số dư bằng tiền nhỏ.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
20
Luận văn tốt nghiệp
Do vậy KTV cần đánh giá lần lượt các yếu tố trên và quyết định mức
rủi ro tiềm tàng thích hợp đối với từng khoản mục trên BCTC.
1.2.2.4 Đánh giá rủi ro kiểm soát
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400) “Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” quy định: “KTV phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng
thể và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả. KTV phải sử dụng khả
năng xét đoán chuyên môn của mình để đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định
các thủ tục kiểm toán nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp tới mức có thể”.
Hệ thống kiểm soát nội bộ có mối quan hệ rất chặt chẽ với rủi ro kiểm
soát: Mức độ hiệu quả của việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
quyết định mức rủi ro kiểm soát. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và
vận hành hiệu quả, ngăn ngừa được những sai sót trọng yếu có thể xảy ra thì rủi
ro kiểm soát bằng hoặc gần bằng không. Tuy nhiên, trên thực tế điều này khó có
thể xảy ra vì bản than hệ thống kiểm soát nội bộ luôn có những hạn chế tiềm
tàng như: Chi phí cho hệ thống kiểm soát nội bộ không vượt quá lợi ích mà hệ
thống đó mang lại; Phần lớn các thủ tục kiểm soát được thiết kế cho những
nghiệp vụ thường xuyên, các nghiệp vụ không thường xuyên ít được đề cập; Hệ
thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được những gian lận, thông đồng của
các thành viên trong Ban giám đốc, Ban điều hành; Cơ chế và yêu cầu quản lý
thay đổi làm cho hệ thống kiểm soát nội bộ bị lạc hậu,..
Quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát được khái quát qua những bước sau:
Bước 1: Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi
tiết hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc.
KTV tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trên hai mặt chủ
yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ (bao gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và thiết
kế về bộ máy kiểm soát); hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội
bộ. Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ giúp KTV đánh giá xem liệu các
BCTC có thể kiểm toán được hay không; và đưa ra mức đánh giá thích hợp về
rủi ro kiểm soát. Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tính chính trực của
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
21
Luận văn tốt nghiệp
ban giám đốc với bản chất và phạm vi của sổ sách kế toán để được thỏa mãn
là bằng chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên
BCTC. Qua đó KTV có thể nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng; có
mức đánh giá thích hợp về rủi ro kiểm soát ảnh hưởng đến rủi ro phát hiện từ
đó ảnh hưởng đến quyết định số lượng bằng chứng cần thu thập, và có kế
hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
22
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1: Khái quát việc nghiên cứu HTKSNB và
quá trình đánh giá rủi ro kiểm soát
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B

Đạt được sự hiểu biết về HTKSNB của khách
hàng đủ để lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Đánh giá xem liệu các BCTC
có thể kiểm toán được hay
không
Ý kiến từ chối
hoặc rút ra khỏi
hợp đồng
Quá trình đánh giá rủi ro
kiểm soát
Mức được chứng minh
bằng sự hiểu biết đã có
Mức thấp hơn khả năng đã
có thể chứng minh được
Mức tối đa
Mức được
chứng
Xác định liệu mức đánh giá về rủi ro kiểm soát có
được giảm hơn từ kết quả của các thử nghiệm kiểm
sóat hay không
Lập kế hoạch & thực
hiện các thủ tục kiểm
soát
Mở rộng sự hiểu biết nếu
thấy cần thiết
Rủi ro kiểm soát tăng hơn so
với mức đánh giá ban đầu
hoặc ở mức tối đa. Rủi ro phát
hiện giảm xuống và phải lập
kế hoạch các trắc nghiệm để
thỏa mãn mức rủi ro phát hiện
thấp hơn này.
Rủi ro kiểm soát giảm xuống,
rủi ro phát hiện tăng lên và
phải lập kế hoạch các trắc
nghiệm kiểm toán để thỏa mãn
mức rủi ro phát hiện tăng lên
này
Không
thể
kiểm toán
Có thể kiểm toán được
3 khả năng
23
Luận văn tốt nghiệp
Trong giai đoạn này cần tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ trên hai
mặt: Thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ (bao gồm thiết kế về quy chế kiểm
soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát) và tính liên tục, hiệu lực trong hoạt
động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trên cơ sở hiểu biết đó nhận diện các rủi
ro tiềm tàng, đánh giá mức rủi ro kiểm soát, các nhân tố ảnh hưởng gây ra sai
lệch trên BCTC, từ đó xác định khối lượng các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
xây dựng các thủ tục kiểm toán thích hợp.
Các thủ tục kiểm soát:
- Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan
đến đơn vị;
- Kiểm tra tính chính xác số liệu tính toán;
- Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học;
- Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết;
- Kiểm tra và phê duyệt các chứng từ kế toán, tài liệu kế toán;
- Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài;
- So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế
toán;
- Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và tài liệu kế toán;
- Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch.
Sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ, cần lập hồ sơ về những
thông tin đã thu thập để chứng minh việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ.
Lập hồ sơ kiểm toán để mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ thường được thực
hiện dưới dạng bảng tường thuật, bảng câu hỏi về kiểm soát nội bộ, lưu đồ
hoặc kết hợp các hình thức đó.
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
24
Luận văn tốt nghiệp
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch kiểm toán
Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát là việc đánh giá hiệu quả hệ thống
kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị trong việc ngăn ngừa hoặc
phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA – 400) “Đánh giá
rủi ro và kiểm toán nội bộ”: “Dựa trên sự hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ
thống kiếm soát nội bộ, KTV và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về
rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các loại
nghiệp vụ kinh tế chủ yếu”.
Trong kiểm toán BCTC, việc đánh giá rủi ro kiểm soát có ảnh hưởng
trực tiếp đến việc xác định các phép thử nghiệm áp dụng. Trên cơ sở rủi ro
tiềm tàng, rủi ro kiểm soát đã được đánh giá ban đầu, KTV tiến hành các thử
nghiệm cơ bản dự kiến phù hợp với mức rủi ro phát hiện để đạt được mức rủi
ro kiểm toán như mong muốn
Bước 3: Thiết kế và thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát là những thử nghiệm dùng để thu thập bằng
chứng kiểm toán về sự hiện hữu trong thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm
soát nội bộ được thể hiện qua các mặt: thiết kế, vận hành. Những thử nghiệm
kiểm soát được sử dụng để kiểm tra sự hiện diện tính hữu hiệu của hệ thống
kiểm soát nội bộ gồm:
- Kiểm tra chứng từ của các nghiệp vụ kinh tế và các sự kiện để
thu được bằng chứng kiểm toán về hoạt động hữu hiệu của hệ
thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, ví dụ kiểm tra các
chứng từ liên quan đến phiếu chi tiền có được phê duyệt đầy đủ
hay không?
Trần Hồng Phượng Kiểm toán 46B
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×