Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu về tư tưởng thân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh so với các bậc tiền bối. Vấn đề này được Đảng và nhà nước hiện nay giải quyết như thế nào

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Tên đề tài: Tìm hiểu về tư tưởng thân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh so với
các bậc tiền bối. Vấn đề này được Đảng và nhà nước hiện nay giải quyết
như thế nào.
Hà nội ngày: 11-11-2010
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước ta
hiện nay với rất nhiều biến chuyển theo từng phút, từng giờ và chịu tác động
mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới. Sự hội nhập của chúng ta vào nền kinh tế thế
giới ngày càng manh mẽ và sâu rộng, đặc biệt khi chúng ta đã gia nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO. Hơn thế nữa xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh
mẽ trên toàn thế giới việc phụ thuộc lẫn nhau cả về kinh tế và chính trị giữa các
quốc gia là không thể tránh khỏi. Đặc biệt là những năm gần đây khi mà những
cuộc khủng hoảng về kinh tế diễn ra ngày một phức tạp và có những tín hiệu
không tốt có sức ảnh hưởng trên toàn thế giới. Tại Việt Nam kinh tế thị trường
đã thúc đẩy làm cho kinh tế có sức tăng trưởng và sự cạnh tranh song nó cũng
kéo theo nhiều vấn đề phức tạp về xã hội. Đặc biệt khi con người quá chạy theo
đồng tiền mà quên đi những giá trị cốt lõi của bản thân. Với quan điểm của đảng
và nhà nước ta về hội nhập là “hội nhập chứ không hòa tan” chúng ta đã làm
được một số việc song còn tồn tại rất nhiều bất cập. Nếu những vấn đề về giáo

dục đạo đức nhân cách chưa được đề cao thì những mặt trái của nền kinh tế thị
trường sẽ vẫn tiếp tục ảnh hưởng lớn đến xã hội. Vì vậy việc giáo dục nhân cách
đạo đức và đặc biệt là giáo dục về tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh cho lớp trẻ
hiện nay là một vấn đề vô cùng quan trọng và đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn của
các cấp, các ngành và toàn xã hội. Một vấn đề quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí
Minh mà chúng ta cần nhắc tới đó chính là quan điểm về dân của người và mối
quan hệ giữa Đảng và Dân trong việc thúc đẩy sự nghiệp phát triển đất nước.
Đây được coi là điểm sang trong tư tưởng Hồ Chí Minh và là kim chỉ nan hành
động cho Đảng và nhà nước ta hiện nay. Dưới sự giúp đỡ của giảng viên hướng
dẫn em đã tìm hiểu và viết ra những luận điểm sau đây về sự hiểu biết của mình.
Em xin chân thành cảm ơn cô và rất mong nhận được sự góp ý của cô để hoàn
thiện thêm kiến thức của mình.
2
NỘI DUNG
I. Tư tưởng thân dân của chủ tịch Hồ Chí Minh so với các bậc tiền
bối
1, Khái quát khái niệm về dân và việc hình thành quan niệm về dân trong tư
tưởng Hồ Chí Minh
Khái quát khái niệm về dân: Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại trong xã
hội đã có giai cấp, có nhà nước; đó là khái niệm chỉ những người lao động bình
thường, đông đảo, không có chức quyền và đối diện những người cầm quyền cai
trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong các lĩnh vực sản xuất
vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định. Do đó khái niệm dân
mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh mối quan hệ
giữa các giai cấp trong xã hội.
Tư tưởng về dân ở Hồ Chí Minh không phải tự nhiên xuất hiện, cũng không
phải hoàn toàn do người sáng tạo ra, mà chính là do người đã nghiên cứu, thấm
nhuần, phê phán, chọn lọc, kế thừa những tư tưởng quan điểm về dân trong lịch
sử dân tộc ta và nhân loại. Vì vậy, rất cần thiết phải điểm qua những tư tưởng
chủ yếu về dân trong lịch sử để từ đó có cơ sở hiểu sâu thêm tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân.
Trong các học thuyết lớn về xã hội, nhất là trong các giới cầm quyền và
những người có chức, có quyền xưa nay đều nói về dân và về vai trò của dân với
những quan điểm và thái độ rất khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Vì vậy chúng
ta sẽ đi xem xét các quan điểm đối lập này để đánh giá sự tiến bộ hay bảo thủ,
phản động của một học thuyết, một giai cấp, một chính đảng, một nhà hoạt động
chính trị xã hội nhất định.
2, Những quan điểm và thái độ khác nhau về dân trong lịch sử.
2.1: Những quan điểm và thái độ sai lầm về dân.
Thứ nhất, coi nhân dân lao động đông đảo không nằm trong thành phần


dân cư, thậm chí không được coi là con người.
Tư tưởng này xuất hiện từ thời cổ đại ở phương Tây, cách đây hơn 2000
năm. Giới chủ nô quý tộc Hy Lạp, đại diện là platong, đã chia dân cư thành 3
hạng người: 1. những người cầm quyền, cai trị đất nước gồm những nhà triết
học tức là trí thức, những người có học vấn trong giai cấp chủ nô thời đó; 2.
Những vệ binh có nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và giai cấp chủ nô; 3.Những
công dân tự do gồm nông dân và thợ thủ công, có nhiệm vụ sản xuất ra thức
ăn, đồ dùng để nuôi sống xã hội. Còn những người nô lệ rất đông đảo trong
xã hội cổ đại thì không được giai cấp chủ nô coi là người, mà chỉ được coi là
công cụ biết nói bên cạnh những công cụ câm và công cụ nửa câm mà giai
cấp chủ nô muốn mua bán, chém giết thế nào cũng được.
3
Thứ hai: tư tưởng khinh dân, ức dân coi những người lao động chân tay
chiếm số đông trong dân cư là hạng tiểu nhân, hèn kém, ngu dốt, chỉ để sai
khiến.
Cuối thời Trần, nô tì chiếm số lượng khá đông trong dân cư. Nhiều
người đã từng có công lao, lập công xuất sắc trong các cuộc chiến tranh bảo
vệ vương triều, nhưng vẫn bị bạc đãi. Vua Trần Hiến Tông đã nói: “bọn gia
nô dù có chiến công cũng không được dự vào hang quan tước của triều
đình”. Hơn nữa tầng lớp quan lại quý tộc sống xa hoa, tha hồ chà đạp nhũng
nhiễu thường dân, coi việc hối lộ, tham ô, vơ vét tài sản của dân là những
hành động tự nhiên và hợp pháp. Lịch sử đã ghi lại câu nói của Trần Khánh
Dư, một vị tướng quý tộc đời Trần, có công trong cuộc kháng chiến giữ nước
nhưng lại rất khinh thường dân chúng: “Tướng là chim ưng, quân dân là vịt;
lấy vịt mà nuôi chim ưng thì có gì là lạ”.
Thứ ba: coi quần chúng nhân dân chỉ là một đám đông vô nghĩa, là sức ỳ
của lịch sử, hoặc chỉ là phương tiện để giai cấp thống trị sử dụng cho mục
đích của chúng.
Thời cận đại, vẫn có không ít những nhà lý luận và chính khách thể hiện
những quan điểm rất sai lầm và phản động về quần chúng nhân dân. Hitle,
tên trùm phát xít Đức coi quần chúng chỉ là đám người đơn sơ, mơ hồ, yếu
đuối và coi các dân tộc khác ngoài dân tộc Đức chỉ là lũ người hạ đẳng, chỉ
xứng đáng là nô lệ và bị thống trị. Nitxo coi quần chúng nhân dân không phải
là mục đích mà là phương tiện để đi đến mục đích, có nghĩa là quần chúng
nhân dân không phải đối tượng phục vụ mà chỉ là đối tượng sử dụng.
2.2: Quan điểm trọng dân, coi dân là gốc của một nước trong tư tưởng triết
học cổ đại trung hoa.
Vai trò của dân trong quan hệ với nước với vua đã được một số nhà triết học
tiêu biểu của nho giáo nêu cao trong tư tưởng chính trị phương đông cách
đây hơn 2000 năm.
Khổng Tử, nhà triết học lớn của Trung Quốc thời Xuân Thu, một người có
học vấn uyên bác, được tôn sùng là bậc thánh nhân của nho giáo, đã có tư
tưởng đề cao vai trò của dân, đồng thời nêu rõ trách nhiệm của vua đối với
dân. Ông coi điều kiện quan trọng nhất đối với nhà cầm quyền là phải được
lòng dân. Và muốn được lòng dân nhà cầm quyền phải biết dưỡng dân, tức là
chăm lo cải thiện đời sống cho dân, và phải biết giáo dân tức là dạy dân lấy
nghĩa hiếu đễ, thì những người đầu đã hoa râm không đến nỗi phải vác đội
vất vả ở đường sá, người trẻ không đến nỗi đói rét như thế nước sẽ hưng
thịnh.
Tuân Tử cũng có tư tưởng đề cao dân. Ông cho rằng trời sinh dân không
phải vì vua mà trời lập ra vua để vì dân. Mặc Tử cũng có tư tưởng đề cao dân
và lấy vấn đề của dân chúng làm trọng.

2.3: Quan điểm của chủ nghĩa Mac-lenin về vai trò của quần chúng nhân dân
4
Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về dân và quần chúng nhân dân là
quan điểm đúng đắn nhất, khoa học nhất, phù hợp với thực tiễn lịch sử. Đây
là một cuộc cách mạng trong việc giải phòng con người khỏi ách áp bức
thống trị và đề cao vai trò của quần chúng nhân dân. Nhân dân là mục tiêu là
đối tượng được hướng đến trên hết trong việc đấu tranh nhằm mạng lại
những lợi ích thiết thực cho nhân dân. Chủ nghĩa Mac- Lenin khẳng định
quần chúng nhân dân giữ một vai trò quan trọng và quyết định sự thành bại
của cách mạng. Quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân sẽ đưa cuộc cách mạng đi tới thắng lợi.
2.2: Những tư tưởng nổi bật về vai trò và sức mạnh của dân tronng lịch sử Việt
Nam.
Lịch sử Việt Nam có những tư tưởng truyền thống và tiến bộ về vai trò và
sức mạnh của dân,, coi dân là gốc của nước.
Dân gian Việt Nam từ xưa đã có câu: “ Quan nhất thời, dân vạn đại” thể
hiện một quan niệm triết lý, một tư tưởng triết lý, một tư tưởng triết học sâu
sắc. “ Dân vạn đại” nghĩa là dân gắn với xã hội loài người; có dân, còn dân thì
mới có xã hội. Còn ‘ quan nhất thời” nghĩa là quan chỉ xuất hiện, chỉ trở thành
một tầng lớp xã hội đã có giai, có nhà nước, và trong tầng lớp quan lại thì mỗi
một ông quan cũng chỉ tồn tại vài năm hoặc vài ba chục năm, nhưng dù sao sự
tồn tại đó cũng chỉ là nhất thời so với sự tồn tại “vạn đại” của dân, của xã hội.
Xét về gốc tích thì quan lại cũng không phải từ trên trời rơi xuống mà đều gắn
với dân, đều từ dân: “Quan sang cũng ở làng mà ra”. Vì là “nhất thời” nên đối
với bất kỳ một ông quan nào, dù quan nhỏ hay quan to thì cũng đều là: “ hết
quan hoàn dân”, nghĩa là khi thôi làm quan, nếu còn sống – dù là về hưu hay
thất sủng hoặc bất mãn với thời cuộc – cũng đều về sống với dân, trở thành
dân.
Nhân dân lao dộng cũng tự ý thức được vai trò và sức mạnh của mình.
Truyền thuyết Thánh Gióng, nhờ được nhân dân nuôi dưỡng (bằng cơm với cà
và nước lã) và cung cấp vũ khí (roi sắt, ngựa sắt) đã trwor thành người khổng
lồ có đủ sức mạnh đánh thắng giặc Ân. Còn truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng
Thủy nêu lên một bài học phản diện về An Dương Vương chủ quan mất cảnh
giác, chỉ dựa vào vũ khí, không dựa vào sức mạnh của dân để chống giặc ngoại
xâm thì kết cục là mất nước và dòng họ cũng tuyệt diệt. Khi dân đã bất mãn,
“nổi can qua” – nghĩa là đứng lên khởi nghĩa, làm cách mạng thì có thể lật dổ
một triều đâị, một chế độ xã hội, không chỉ làm cho “con vua thất thế phải ra
quét chùa” mà còn đưa chính nhà vua lên đoạn đầu đài như trường hợp của
Cách mạng Anh thế kỷ XVII và Cách mạng Pháp thế kỷ XVIII. Sức mạnh của
dân không chỉ thể hiện ở lực lượng vật chất mà còn cả ở tinh thần, ở tư tưởng,
ở dư luận. “Miệng dân sóng bể” nghĩa là dư luận của quần chúng từ người này,
chỗ này sang người khác, chỗ khác và tư tưởng của nhân dân thể hiện trong
văn học dân gian ( folklore) – truyền từ đời nọ sang đời kia, có sức mạnh như
5
những đợt sóng bể có thể nâng dỡ hoặc nhấn chìm một viên quan, một ông vua
hoặc một triều đại nào đó.
Mỗi triều đạt phong kiến Việt Nam thời kỳ đang lên và hưng thịnh đều có
quan điểm về dân và mối quan hệ với dân đúng đắn, tích cực nên đã được dân
ủng hộ, tập trung được sức mạnh của dân, đánh thắng được giặc ngoại xâm,
bảo vệ và xây dựng được đất nước, đồng thời cũng củng cố được vương triều
đó vững mạnh.
Nhà Trần thế kỷ XVIII đã ba lần đại thắng quân xâm lược Nguyên –
Mông hung hãn. Nguyên nhân cơ bản của thắng lợi đó, như Hưng Đạo vương
Trần Quốc Tuấn đã ghi rõ “ Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp
sức”. “Cả nước góp sức” chính là sức mạnh của toàn dân đã được huy động.
Trần Quốc Tuần còn nêu lên một tư tưởng đặc sắc khi ông khuyến tấu vua
Trần: “ Khoan thư sức dân để làm kế bền gốc, sâu rễ, đó là thượng sách giữ
nước”.
Đầu thế kỷ XI, Hồ Quý Ly chuẩn bị kháng chiến chống quân Minh xâm
lược, xây dượng lực lượng thường trực khá đông, có súng thần cơ, có nhiều
chiến thuyền, nhưng không đoàn kết được toàn dân, long dân ly tán, nên đã
thất bạ, cha con Hồ Quý Ly đều bị giặc Minh bắt. Đúng như Hồ Nguyên Trừng
đã: “ Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi.”
Nguyễn Trãi, một nhà văn hóa lớn, một anh hung của dân tộc ta thế kỷ XV, đã
nêu ra những tư tưởng sâu sắc về vai trò và sức mạnh của dân. Sauk hi cùng Lê
Lợi lãnh đạo cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh thắng lợi, ông viết
bài “Bình Ngô đại cáo” hung tráng với hai câu mở đầu về tư tưởng an dân thì
trước hết phải trừ bạo ngược:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Và nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh đã
được Nguyễn Trãi chỉ ra là do đoàn kết được tướng sĩ, tập hợp lực lượng dân
chúng khắp nơi:
“ Nên hiệu gậy làm cờ, tập hợp khắp bốn phương dân chúng.
Thiết quân rượu hòa nước, dưới trên đều một hạng cha con”.
Nói về sức mạnh của dân, ông đã tiếp thụ và nêu lên tư tưởng tiến bộ, ví dân
như nước, các triều đại phong kiến như những con thuyền; thuyền nỗi được là
nhờ nước. Nước có tác dụng chở thuyền nhưng cũng có sức mạnh lật thuyền:
“Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”.
Ông còn nêu lên tư tưởng ơn dân rất mới mẻ đối với thời đại lúc bấy giờ:
“ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”. “Kẻ cấy cày” chính là nhân dân lao động, là nông
dân chiếm tuyệt đại đa số dân cư trong một nước nông nghiệp. Kế tục tư tưởng
của Trần Quốc Tuấn, ông yêu cầu vua quan triều đình phải biết “Thương yêu
dân chúng, nghĩ làm những việc khoan dân”. Ông khẳng định tư tưởng về thái
bình thịnh trị: “Cái gốc của nhạ là ở thôn vắng không có một tiếng giận hờn
oán sầu”. Ông chỉ rõ trách nhiệm của người cầm quyền: “Phàm người có chức
vụ coi quan trị dân đều phải theo phép công bằng… đổi bỏ thói tham ô, sửa trừ
6
tệ lười biếng, coi công việc của quốc gia là công việc của mình; lấy điều lo của
dân sinh là điều lo thiết kỳ”.
Chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm “Thiên nhân tương cảm”, nhiều
triều đại phong kiến Việt Nam coi lòng dân là ý trời và rất quan tâm tới việc
kết hợp lòng dân với ý trời. Họ quan niệm lòng dân tức là ý trời được thể hiện
ở các điềm lành (mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt) hay điềm dữ (bện tật,
mưa bão, lũ lụt, mất mùa…) Người cầm quyền cai trị có đức, làm việc tốt, hợp
lòng dân thì trời xuống điềm lành; không có đức, ăn chơi xa xỉ, hoang phí, hại
dân, dân oán thì trời xuống điềm dữ để răn bảo.
Khi đã có điềm tai dị của trời tức là dân oán, thì các quan đại thần, những
nhà trí thức của các triều đại, am hiểu về “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” biết
thương xót dân chúng thường dân sớ khuyên nhủ vua chúa sửa lỗi để không
giáng tai họa nữa.
Trạng nguyên Giáp Hải, quan đại thần đời Mạc Mậu Hợp, thấy chính sách
của nhà Mạc ngày một kém, điềm tai biến ngày một nhiều, gặp khi có bão lớn,
ông dâng sơ lên vua Mạc, nói rằng: “Trời ra tai không phải vô cớ, chính ở
người mà ra. Tai biến về gió bão là trời hiện điềm để răn bảo…Vậy xin bệ hạ
lấy sự biến của trời là đáng sợ, coi nhân sự là cần phải sửa…thi hành mọi điều
khoan tất cho dân; ban ra ân dụ để tha những dân vô tội bị ức hiếp; đặc biệt sai
quan sở tại thăm nom giúp đỡ luôn. Có thế, ơn của trên ban xuống mới thấm
đến kẻ dưới. Lòng người đã vui, tai trời sẽ hết…Xin bệ hạ tôn trọng gốc nước,
cố kết lòng dân, hậu đãi mà đừng làm khốn dân; giúp đỡ mà đừng làm hại dân,
dè dặt chứ không dùng hết sức của dân, nhẹ bớt cho dân những việc phục dịch
tức là chính sách của vương đạo đó”.
Tiến sĩ Nguyễn Duy Thì thời Lê – Trịnh, khi đi sứ về, thường thấy tai dị,
đã dâng khải tâu Chúa, nói về trách nhiệm của triều đình và tố cáo bọn quan lại
tham nhũng ở các địa phương làm cho dân khốn khổ: “dân dân đều một lẽ,
lòng dân vui thì thuận ý trời. Nên người giỏi trị nước phải yêu dân như cha mẹ
yêu con: nghe thấy dân đói rét phải lo, trông thấy dân vất vả phải thương, cấm
chính thể hà khắc tàn bạo, cấm việc tự tiện thu thuế, để dân được sinh sống
thỏa mái, không có tiếng sầu giận thở than. Đó mới là biết đạo trị nước. nay
thánh thượng để ý đến dân, ra một chính sách gì là cốt để nuôi dân, thi hành
một lệnh gì là cốt ngừa sự nhiễu dân; lòng yêu dân thật như độ lượng của trời
đất cha mẹ.
Đại thần Ngô Đình Chất tố cáo bọn quan lại các địa phương chỉ chăm làm
việc cay nghiệt, vét hết của cải của dân khiến dân sầu khổ, ông dâng bản điều
trần bề trên thương dân, nuôi dân một mảy may nào tiện cho dân cũng nên
làm, một mối tệ hại cho dân nào cũng nên bỏ. Lại càng nên ban nhân chính cho
dân. Như thế thì người dân đội ơn mà mừng, người xa nghe tiếng mà đến ấy là
được lòng dân.
Đại thần Ngô Trí Hòa đã cùng đại thần Lê Tri Bật vào năm 1618 làm tờ
khải dâng chúa Trịnh điều trần về chính sách trị dân của triều đình gồm có sáu
việc có lợi cho dân.
7

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×