Tải bản đầy đủ

Tài liệu Báo cáo chuyên đề Thị trường - Tài chính - Ngân hàng doc

Báo cáo chuyên đề
Thị trường - Tài chính - Ngân
hàng
Trang 1
MỤC LỤC
Trang 2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
1.1.
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ
KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ
1.1.1. Khái niệm.
Xuất khẩu là một hoạt động đưa sản phẩm từ nơi này sang nơi khác và
thu về một lượng liền tương ứng, và chịu sự chi phối của các cơ quan quản lý
xuất nhập khẩu.
1.1.2. Đặc điểm.
Gồm có các đặc điểm sau:
Hàng hóa được di chuyển đi ra khỏi biên giới của một quốc gia.
Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ.
Các bên có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau.

1.1.3. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Sẽ tạo nguồn vốn quan trọng để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu và tích lũy
phát triển sản xuất trong nước: thông qua xuất khẩu sẽ tạo nguồn vốn quan trọng
để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu những tư liệu sản xuất thiết yếu phục vụ công
nghiệp hóa đất nước. Trong thực tiễn xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ mật
thiết với nhau, vừa là kết quả vừa là tiền đề của nhau, đẩy mạnh xuất khẩu để
mở rộng thị trường và tăng khả năng sản xuất.
Xuất khẩu được xem là một yếu tố quan trọng để kích thích sự tăng
trưởng nền kinh tế quốc gia: Việc xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất,
nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu. Chăng hạn phát triển xuất
khẩu gạo không những tạo điều kiện cho ngành trồng lúa mở rộng được diện
tích, tang vụ trong năm mà còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành khách: dệt
bao PP, xay xát…
Kích thích các doanh nghiệp trong nước đổi mới trang thiết bị và công
nghệ sản xuất: Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách
chủng loại sản phẩm đòi hỏi một mặt sản xuất phải đổi mới trang thiết bị công
Trang 3
nghệ, mặt khác người lao động phải năng cao tay nghề, học hỏi kinh nghiệm sản
xuất tiên tiến; có vậy, sản phẩm mới có thể xuất khẩu ổn định.
Đẩy mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tích cực để nâng cao mức sống của
nhân dân.
Xuất khẩu có vay trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước và
nâng cao vai trò vị trí của Việt Nam trên thị trường khu vực và quốc tế.
1.2.
HÌNH THỨC XUẤT KHẨU CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP
HÌNH THỨC XUẤT KHẨU CHỦ YẾU CỦA DOANH NGHIỆP


VIỆT NAM
VIỆT NAM
1.2.1. Xuất khẩu trực tiếp.
Hình thức này đòi hỏi chính doanh nghiệp phải tự lo bán trực tiếp các sản
phẩm của mình ra nước ngoài.
Xuất khẩu trực tiếp nên áp dụng đối với những doanh nghiệp có trình độ
và qui mô sản xuất lớn, được phép xuất khẩu trực tiếp, có kinh nghiệm trên
thương trường và nhãn hiệu hàng hóa truyền thống của doanh nghiệp đã từng có
mặt trên thị trường thế giới.
Hình thức này thường đem lại lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp nắm chắc
đươc nhu cầu thị trường, thị hiếu của khách hàng…nhưng ngược lại, nếu doanh
nghiêp ít am hiểu hoặc không nắm bắt kịp thời thông tin về thị trường thế giới và


đối thủ cạnh tranh thì rủi ro trong hình thức này không ít.
1.2.2. Xuất khẩu gián tiếp.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp không đòi hỏi có sự tiếp xúc trực tiếp giữa
người mua nước ngoài và người sane xuất trong nước.
Để bán được sản phẩm của mình ra nước ngoài, người sản xuất phải nhờ
vào người hoặc tổ chức trung gian có chức năng xuất khẩu trực tiếp. với thực
chất đó, xuất khẩu gián tiếp thường sử dụng đối với các cơ sở sản xuất có qui mo
nhỏ, chưa đủ điều kiện xuất khẩu trực tiếp, chưa quen biết thị trường, khách
hàng và chưa thông thạo các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu.
Các danh nghiệp có thể thực hiện xuất khẩu gián tiếp thông qua các hình
thức sau đây: Các công ty quản lý xuất khẩu; khách hàng nước ngoài; ủy thác
xuất khẩu; môi giới xuất khẩu; hãng buôn xuất khẩu.
Trang 4
1.3
. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT
. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT


KHẨU
KHẨU
1.3.1. Các thông tin đại cương.
Diện tích.
Dân số: Chủng tộc, tôn giáo, độ tuổi.
Tốc độ phát triển trung bình hàng năm.
Ngôn ngữ.
Các vùng và các trung tâm công nghiệp thương mại quan trọng.
Đại lý và khí hậu.
Truyền thống tập quán.
Hiến pháp, trác nhiệm của chính phủ TW và địa phương.
1.3.2. Môi trường kinh tế tài chính cơ sở hạ tầng.
Tình hình sản xuất và sản lượng của một quốc gia nào đó về từng mặt
hàng cụ thể.
Chỉ tiêu GNP và GDP / đầu người.
Tỷ giá hối đoái và sự biến động giá của nó, chọn đồng tiền để báo giá.
Hệ thống ngân hàng: Quốc giá và Quốc tế.
Tình hình lạm phát, giảm phát, thiểu phát.
Cơ sở hạ tầng: hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống giao thông, khả năng
giải phóng phương tiện các sân bay, bến cảng; hệ thống điện nước, năng lượng
cung cấp cho kinh doanh…
Cơ sở hạ tầng của thương mại: bán buôn, bán lẻ, công ty quảng cáo…
1.3.3. Môi trường pháp luật chính trị.
Thái đọ của chính phủ đối với việc xuất nhập khẩu: Bảo hộ mậu dịch hay
mạu dịch tự do.
Thỏa ước quốc tế mà quốc gia đã tham gia.
Qui chế của chính phủ đố với các luật lệ…
Các thủ tục hải quan, thuế hải quan những qui định và các yếu tố ảnh
hưởng đến buôn bán.
Giấy phép xuất nhập khẩu…
Luật đầu tư và các van bản có liên quan.
Trang 5
Các loại thuế khác ngoài thuế xuất nhập khẩu.
Hạn ngạch xuất khẩu.
1.3.4. Môi trường cạnh tranh.
Không chỉ hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào thị trường đang phát
triển mà còn có rất nhiều các quốc gia khác cũng xuất khẩu hàng hóa của họ vào
các thị trường đang phát triển đó, nên vấn đề cạnh tranh của các nước đó vơi
Việt Nam thì không ít.
Vấn đề cạnh tranh cũng là một vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến doanh số
xuất khẩu của Việt Nam, làm cho hạn ngạch xuất khẩu bị giảm do các thị trường
đang phát triển có nhiều lực chọn.
1.3.5. Môi trường văn hóa xã hội.
Ảnh hưởng đến hành vi thái độ của dân tộc trong một nước nước nào đó,
nó là những yếu tố hợp thành thị trường. Sự khác biệt nhau về văn hóa sẽ ảnh
hưởng đến các cách thức giao dịch loại sản phẩm mà người ta yêu cầu. Nói cách
khác văn hóa là một biến số môi trường ảnh hưởng đến và rất lớn đối với hàng
xuất khẩu nhập khẩu.
Đặc điểm văn hóa xã hội khác nhau ở các thị trường của các nước được
thể hiện về thời gian, không gian, tôn giáo…Do đó, khi ta xuất khẩu hàng hóa
nếu không hiểu ro tập quán của họ thì rất nguy hiểm.
Trang 6
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐANG PHÁT
TRIỂN THỜI GIAN QUA.
2.1. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN TRONG VIỆC MỞ RỘNG
XUẤT KHẨU HÀNG HÓA.
Hiện nay, việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đã và đang là xu hướng
tất yếu đối với tất cả các nước vì các lý do cơ bản sau:
- Việc mở rộng quan hệ kinh tế kinh tế đối ngoại bắt đầu từ yêu cầu của
quy luật về sự phân công và hợp tác quốc tế giữa các nước, từ sự phân bố tài
nguyên thiên nhiên và sự phát triển không đều về trình độ phát triển kinh tế - kỹ
thuật giữa các quốc gia dẫn đến xu thế hợp tác kinh tế để sử dụng có hiệu quả
nguồn lực của mỗi quốc gia.
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại làm cho quá trình khu
vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế trở thành xu hướng tất yếu của thời đại.
Một mặt, cách mạng khoa học công nghệ đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng
sản xuất, làm cho lực lượng sản xuất vượt khỏi khuôn khổ quốc gia để trở thành
lực lượng sản xuất mang tính quốc tế, thúc đẩy nhanh quá trình khu vực hoá,
quốc tế hoá đời sống kinh tế, hình thành nền kinh tế thế giới như một chỉnh thể
với nhiều quốc gia tham gia, hình thành thị trường quốc tế với giá cả quốc tế chi
phối.
Mặt khác, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tạo ra các điều kiện để
thúc đẩy quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế. Quốc tế hoá làm
cho phân công lao động, hợp tác quốc tế giữa các nước ngày càng phát triển. Nó
cũng đẩy mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các nước về nhiều mặt
như nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ..., trong đó mỗi nước có những lợi thế
riêng và đều tìm cách khai thác tối đa cả lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của
mình. Đồng thời, quốc tế hoá cũng làm xuất hiện kết cấu hạ tầng sản xuất quốc
tế và chi phí sản xuất quốc tế, giá cả quốc tế, thị trường quốc tế, chất lượng quốc
Trang 7
tế. Do đó sẽ hoá tạo ra các điều kiện vật chất kỹ thuật để rút ngắn khoảng cách
địa lý, không gian, thời gian giữa các quốc gia. Từ đó, thúc đẩy quá trình quốc tế
hoá.
Như vậy, khu vực hoá, quốc tế hoá đời sống kinh tế là một tất yếu khách
quan. Nó đòi hỏi các quốc gia phải tăng cường mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực quốc tế và trong nước.
Để mở rộng kinh tế đối ngoại có hiệu quả cần quán triệt những nguyên
tắc phản ánh những thông lệ quốc tế, đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng về
kinh tế, chính trị của đất nước.
Nguyên tắc đầu tiên là nguyên tắc bình đẳng. Đây là nguyên tắc cơ bản
trong quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng và quan hệ quốc tế nói chung. Nguyên
tắc này trước hết phải được thể hiện ở việc đảm bảo lợi ích kinh tế, chính trị của
các bên.
Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc cùng có lợi. Để thực hiện nguyên tắc
này cần phải nâng cao trình độ hiểu biết về các lĩnh vực ký kết thông qua việc
xây dựng các điều khoản quy định quyền lợi, trách nhiệm của các bên trong các
hợp đồng.
Nguyên tắc tiếp theo là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can
thiệp vào công việc nội bộ của mỗi quốc gia bởi vì mỗi quốc gia với tư cách là
quốc gia độc lập đều có chủ quyền về kinh tế, chính trị, xã hội và địa lý. Đây
cũng là nguyên tắc để đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi.
Thứ tư là nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc phát triển kinh tế đối ngoại của
Việt Nam. Mọi hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại đều phải hướng vào
mục tiêu độc lập tự chủ và chủ nghĩa xã hội.
2.2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ĐANG PHÁT TRIỂN THỜI
GIAN QUA.
2.2.1. Trước năm 2009
Trong các nước ASEAN, Singapore luôn là thị trường buôn bán số 1 của Việt
Nam. Từ nhiều năm nay, Singapore duy trì chính sách thương mại, mậu dịch tự do
Trang 8
thông thoáng, 96% hàng hoá xuất nhập khẩu ra vào thị trường Singapore không phải
chịu thuế. Vì vậy, nhiều năm qua Singapore được coi như thị trường truyền thống trung
gian cho hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với thế giới vì đây là cảng biển vận
chuyển và chuyển tải hàng hoá hết sức thuận lợi của khu vực ASEAN.
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Singapore ước đạt 1,51 tỷ
USD, năm 2008 sẽ tăng lên 1,8 tỷ USD. Với mức tăng trưởng xuất khẩu như trên thì
đến năm 2010, Việt Nam sẽ đạt mức xuất khẩu 2,7 tỷ USD vào thị trường này.
Tuy nhiên, để có thể thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường
Singapore trong thời gian tới, Việt Nam cần thành lập phòng trưng bày và giới thiệu
sản phẩm để quảng bá sản phẩm với các khách hàng tại đây vì ngoài thương nhân sở tại
còn có khách hàng phương Tây và các nước khác qua lại.
Đối với Thái Lan, năm 2007, Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan đạt 950 triệu
USD và năm 2008 là 1,15 tỷ USD. Do tính tương đồng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
của Việt Nam và Thái Lan nên các mặt hàng nông sản của Việt Nam khó thâm nhập
được vào thị trường Thái Lan.
Hiện nay, Việt Nam và Thái Lan đang thiết lập một cơ chế hợp tác xuất khẩu
gạo để tránh cạnh tranh trên thị trường và gây thiệt hại về giá gạo xuất khẩu của 2
nước. Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Thái Lan hiện nay đứng
đầu là mặt hàng máy vi tính và linh kiện điện tử với kim ngạch 294 triệu USD, tiếp đến
là dầu thô 192 triệu USD.
Thị trường đạt kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam trong khối ASEAN
là Malaysia. Xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này trong năm 2007 khoảng 1,23
tỷ USD.
Riêng 11 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Malaysia đạt
1,14 tỷ USD với mặt hàng dầu thô đứng đầu đạt 582 triệu USD, tiếp đến là gạo 132,6
triệu USD, hải sản 38,7 triệu USD, hàng dệt may 25 triệu USD, cao su 17 triệu USD, cà
phê 14,6 triệu USD, máy vi tính và linh kiện điện tử 13 triệu USD...
Nếu chia các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Malaysia thành 4
nhóm thì tốc độ tăng trưởng cụ thể của các nhóm như sau: nhóm nguyên liệu thô tăng
mạnh nhất 112,4%, nhóm lương thực thực phẩm tăng 78%, nhóm hàng công nghiệp
tăng 51,6% và nhóm hàng thủ công mỹ nghệ tăng không đáng kể.
Dự kiến năm 2008, Việt Nam xuất khẩu sang Malaysia khoảng 1,3 tỷ USD. Với
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân 18%/ năm thì đến năm 2010, Việt Nam sẽ xuất
khẩu sang thị trường này 2,13 tỷ USD.
Trang 9
Với kim ngạch xuất khẩu năm 2007 đạt 1 tỷ USD, Indonesia là thị trường đứng
thứ 3 về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN.
Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường
Indonesia 933 triệu USD, trong đó dầu thô (đạt 622,6 triệu USD) và gạo (đạt 83 triệu
USD) là 2 mặt hàng chiếm 80% kim ngạch. Tuy nhiên, vị trí trên luôn có nguy cơ giảm
xuống bởi nhìn chung, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này
không bền vững, nếu Indonesia ngừng nhập khẩu gạo hoặc Việt Nam không còn xuất
khẩu dầu thô sang Indonesia thì kim ngạch xuất khẩu sẽ tụt mạnh. Hơn nữa, đặc điểm
thị trường Indonesia chính trị xã hội chưa thật sự ổn định, thường thay đổi chính sách
thương mại cũng là những trở ngại trong việc thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này.
Bộ Thương mại dự kiến năm 2008, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt
khoảng 1,3 tỷ USD.
Đối với Philippines, mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường
này trong năm 2007 là gạo, tiếp đến là máy vi tính và linh kiện điện tử. Có 4 nhóm mặt
hàng chính gồm lương thực và thực phẩm đứng đầu (chiếm 50 - 60% tổng kim ngạch
xuất khẩu), nhóm hàng công nghiệp, nguyên liệu, hàng tiêu dùng.
Dự kiến năm 2008, Việt Nam sẽ xuất khẩu sang thị trường Philippines 1 tỷ USD và đến
năm 2010 ước đạt 1,64 tỷ USD.
Một thị trường nữa cũng được dự đoán sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD
trong năm 2008 là Campuchia. Năm 2007, do công tác xúc tiến thương mại với thị
trường này được thực hiện mạnh mẽ nên đã thúc đẩy kim ngạch buôn bán nói chung và
xuất khẩu nói riêng, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 770 triệu USD, tăng 43,7% so với
năm 2005.
Các mặt hàng có kim ngạch khá như sản phẩm chất dẻo, hàng dệt may, mỳ ăn
liền, xe đạp và phụ tùng. Với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dự kiến tăng 29,8% trong
năm 2007 và được duy trì trong những năm tiếp theo, đến năm 2010, xuất khẩu của
Việt Nam sang Campuchia sẽ đạt mức 1,55 tỷ USD.
Các thị trường mà Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu thấp nhất gồm Lào,
Myanmar và Brunei. Trong năm 2007, Việt Nam xuất khẩu sang Lào khoảng 90 triệu
USD, Myanmar khoảng 14,5 triệu USD và Brunei khoảng 4,5 triệu USD.
Để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sang Lào trong những năm tới, cần thực hiện tốt
các cam kết ưu đãi về thương mại giữa 2 Chính phủ như giảm thuế, tăng cường các
hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, chợ Việt
Nam tại các tỉnh, thành phố lớn của Lào.
Trang 10
Đối với Myanmar, nhìn chung, việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường
này là một điều khó khăn vì tình hình chính trị không ổn định và cơ chế thanh toán có
nhiều bất cập.
Còn Brunei là một thị trường hẻo lánh, ít dân, do vị trí địa lý và điều kiện không
thuận lợi nên quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Brunei chưa phát triển.
Bảng 1: Thống kê sơ bộ kết quả xuất khẩu năm 2009
Tên hàng Năm 2009 Trị
giá (USD)
Tổng 57.022.900
Hải sản 4.427.563
Hàng rau quả 419.014
Hạt điều 856.031
Cà phê 1.587.173
Chè 187.300
Hạt tiêu 361.548
Gạo 2.789.637
Sắn và các sản phẩm từ sắn 555.448
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc 279.381
Than đá 1.304.501
Dầu thô 6.576.783
Xăng dầu các loại 807.144
Quặng và khoáng sản khác 143.766
Hóa chất 82.202
Sản phẩm hóa chất 266.783
Chất dẻo nguyên liệu 151.221
Sản phẩm chất dẻo 788.713
Cao su 1.181.941
Sản phẩm từ cao su 14.970
Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù 719.126
Sản phẩm mây tre, cói, thảm 180.223
Gỗ và SP gỗ 2.536.030
Giấy và các sản phẩm giấy 273.470
Hàng dệt may 9.108.359
Giầy dép 3.857.198
Sản phẩm gốm sứ 258.322
Thủy tinh và các sản phẩm bằng thủy tinh 277.757
Đá quý và kim loại quý 2.732.287
Sắt thép các loại 349.537
Sản phẩm từ sắt thép 590.182
Trang 11
Linh kiện điện tử và vi tính 2.820.229
Máy móc, thiết bị, dụng cụ khác 1.920.141
Dây điện và dây cáp điện 872.515
Phương tiện vận tải và phụ tùng 923.210
Tàu thuyền các loại 300.682
Phụ tùng ô tô 540.722
Hàng hóa khác 6.486.177
2.2.2. Sau năm 2009.
Trong bối cảnh thuận lợi của năm 2010, đã có nhiều đề xuất là các doanh
nghiệp cần phải chủ động hơn trong xuất khẩu với nhiều gợi ý:
Thứ nhất. là cần tìm cách mở ra những thị trường mới không quá phụ thuộc vào
những thị trường như Mỹ, EU, Nhật Bản. Thị trường châu Phi, Trung Đông, châu Đại
Dương và ngay cả thị trường châu Á được đánh giá phục hồi rất nhanh.
Thứ hai, kinh tế thế giới trong năm 2010 còn trồi sụt, chưa thật vững chắc, theo
dự báo có khả năng tăng trưởng khoảng 3,2%.
Thứ ba, có nhiều mặt hàng có khả năng phát triển xuất khẩu trong năm 2010
như cao su. 80% lượng cao su tự nhiên được dùng cho ngành công nghiệp lắp ráp ôtô
và thị trường ôtô năm 2010 là phát triển, trong khi đó, khả năng cung cấp cao su của
nhiều nước trên thế giới là giảm, cho nên nhu cầu tăng, lượng cung giảm, vì vậy giá cao
su sắp tới tương đối tốt. Mặt hàng gạo có khả năng phát triển tốt, vấn đề là chúng ta
làm thế nào bán ở giá tốt nhất, lựa chọn đơn hàng và đấu thầu một cách thông minh để
chọn được giá tốt.
Trong nội bộ doanh nghiệp cần khắc phục tình trạng cạnh tranh thiếu lành
mạnh, dẫn tới ghìm giá nhau hoặc giảm giá đi để bán lấy được, mang lại thiệt hại lớn
cho cộng đồng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần chú ý thêm là năm 2010 có
rất nhiều rào cản và những quy định mới của các thị trường xuất hiện. Ví dụ dệt may
đến năm 2010 các nhà đặt hàng chỉ nêu ý tưởng, chúng ta phải thiết kế, như vậy đòi hỏi
vai trò doanh nghiệp lớn, giữ vai trò đầu tàu, những doanh nghiệp nhỏ sẽ coi như quy
tụ xung quanh để giải quyết việc này. Thị trường EU sẽ đưa ra những rào cản rất khó
vượt qua cho ngành thủy hải sản, như quy định truy xuất nguồn gốc thủy hải sản đánh
bắt… Chúng ta cũng không loại trừ một số biện pháp mang tính chất bảo hộ của một số
thị trường và đưa ra thông tin xấu như trong việc xuất khẩu cá tra, cá basa thời gian
qua, nên cũng phải đề phòng
Trang 12
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2010 sẽ là năm “vàng” cho
XK gạo bởi nhu cầu của thị trường thế giới tăng cao. Thị trường tốt, giá bán sẽ tăng.
Do đó, các DN XK gạo cần liên kết chặt chẽ giữa sản xuất và kinh doanh; nâng cao
chất lượng và xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị sản phẩm. Được biết, chính sự
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực XK gạo đã khiến trong năm 2009, mặt hàng
gạo XK của VN nhiều thời điểm bị ép giá thấp. VFA cho biết, tính đến hết tháng
25/11/2009, Việt Nam đã xuất khẩu được 5,6 triệu tấn gạo, đạt giá trị 2 tỷ 266 triệu
USD, tăng 33% về số lượng, nhưng lại giảm 7,7% giá trị so với cùng kỳ năm 2008.
Đối với mặt hàng thủy sản XK, tình hình sẽ khó khăn hơn bởi từ 1/1/2010, quy
định của EC về hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy
định (IUU) sẽ chính thức có hiệu lực. Đây sẽ là rào cản mới đối với hoạt động XK thuỷ
sản của VN (chủ yếu là các sản phẩm đánh bắt từ biển) và có thể tác động không tốt
với các DN XK thuỷ sản. Do đó, Bộ NNPTNT đã giao cho Cục Khai thác và Bảo vệ
nguồn lợi thuỷ sản phối hợp với Cục Quản lý chất lượng nông - lâm sản và thuỷ sản
hoàn thiện Quy chế chứng nhận thủy sản có nguồn gốc từ khai thác để phổ biến cho
DN XK thủy sản và ngư dân. Dự kiến, Quy chế này sẽ sớm được phê duyệt.
Về mặt hàng gỗ, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ông Nguyễn
Tôn Quyền cho biết, kim ngạch XK đồ gỗ trong năm 2009 vẫn đạt khoảng 2,7 tỷ USD,
chỉ thấp hơn năm 2008 khoảng 100 triệu USD. Từ đầu quý IV/2009 trở lại đây, kim
ngạch XK đồ gỗ đã tăng trưởng trở lại. Năm 2010, Hiệp hội cố gắng phấn đấu đạt giá
trị XK sản phẩm gỗ tăng từ 8-10% so với năm nay. Hiệp hội sẽ đăng ký với Bộ Công
Thương kim ngạch khoảng 3 tỷ USD. Theo ông Quyền, đón tín hiệu lạc quan từ thị
trường, các DN đã chuẩn bị khá tốt cho năm 2010. Về nguyên liệu, nhiều DN đã tăng
cường sử dụng nguồn gỗ rừng trồng trong nước. Cho đến nay, riêng nguồn cung
nguyên liệu gỗ trong nước đã đảm bảo đáp ứng được 30%.
Với ngành Dệt may, kết quả tương đối khả quan trong năm 2009 (dự kiến kim
ngạch xuất khẩu tăng trưởng khoảng 1 - 2% so với năm 2008, đạt 9,2 tỷ USD) là động
lực để đặt ra kế hoạch năm 2010 đạt khoảng 10,2 - 10,5 tỷ USD. Tập đoàn Dệt may
Việt Nam đã chủ trương yêu cầu các thành viên trong Tập đoàn tăng cường liên kết đưa
sản phẩm của DN bạn tiêu thụ tại các thị trường truyền thống của mình nhằm tiết kiệm
chi phí XTTM.
Mặt hàng cao su XK trong 10 tháng qua đã tăng 2,5% so với năm 2008, lên tới
539.000 tấn, nhưng kim ngạch sút giảm 41,2%, chỉ còn 823 triệu USD. Dự báo, lượng
Trang 13

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x