Tải bản đầy đủ

Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện nam đàn, tỉnh nghệ an

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………1

Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp ………………………1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
**********



NGUYỄN VĂN HIỀN



ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÙNG GÒ Đ
ỒI HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN





LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP



Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số : 60.62.16
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN VĂN CHÍNH







Hà Nội, năm 2008
i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các s
ố liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và
ch
ưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan r
ằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã đ
ược cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
đ
ược chỉ rõ nguồn gốc./.





Tác giả luận văn



Nguyễn Văn Hiền
ii
Lời cảm ơn

Trong su
ốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận
đ
ược sự giúp đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ
b
ảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường Đại học
Nông nghi
ệp Hà Nội.
Tr
ước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc PGS.TS. Trần
Văn Chính, là ng
ười trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt
th
ời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn.
Tôi xin chân thành c
ảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Sau Đại
h
ọc, Tài nguyên và Môi trường, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Tôi trân tr
ọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài
nguyên và Môi tr
ường tỉnh Nghệ An; Huyện uỷ, UBND huyện
Nam Đàn; phòng Tài nguyên và Môi tr
ường; phòng Kinh tế;
phòng Th
ống kê; các phòng ban huyện và UBND các xã của
huy
ện Nam Đàn đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những
thông tin c
ần thiết để thực hiện luận văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự
giúp đ
ỡ tận tình, quý báu đó.
Xin trân trọng cảm ơn!


Tác gi
ả luận văn




Nguyễn Văn Hiền
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan...................................................................................................i
Lời cảm ơn.....................................................................................................ii
Mục lục..........................................................................................................iii
Danh mục chữ viết tắt.....................................................................................v
Danh mục bảng...............................................................................................vi
Danh mục hình..............................................................................................vii

1. Mở đầu .....................................................................................................................1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................1
1.2. Mục đích và yêu cầu..........................................................................................2
1.3. Ý khoa học và thực tiễn của đề tài....................................................................2
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu..........................................................................3
2.1. Tổng quan về đánh giá và sử dụng đất vùng gò đồi.........................................3
2.2. Tổng quan về đánh giá hiệu quả sử dụng đất..................................................10
3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu ...........................................31
3.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................31
3.2. Nội dung nghiên cứu .......................................................................................31
3.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................32
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận........................................................................35
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Nam Đàn.......................................35
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ..............................................................................35
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội....................................................................42
4.2. Đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất..........................................................48
4.2.1 Đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất đai ...................................48
4.2.2 Hiện trạng sử dụng các loại đất............................................................51
iv
4.2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ....................................................57
4.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất vùng gò đồi....................................................61
4.3.1. Các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất nông nghiệp................61
4.3.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp........................................68
4.4. Định hướng sử dụng đất vùng gò đồi của huyện Nam Đàn...........................80
5. Kết luận và đề nghị...............................................................................................85
Tài liệu tham khảo....................................................................................................87
v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
CPLĐ thuê Chi phí lao động thuê
CPTG Chi phí trung gian
CPBĐ Tổng chi phí biến đổi
HQĐV Hiệu quả đồng vốn
GTNC Giá trị ngày công
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
ĐVT Đơn vị tính
FAO Food and Agriculture Organization
GDP Tổng thu nhập quốc nội
GTGT Giá trị gia tăng
GTSX Giá trị sản xuất
HĐND Hội đồng nhân dân
KT - XH Kinh tế - xã hội
LĐ Lao động
LUT Land Use Type
NS Năng suất
Nxb Nhà xuất bản
TB Trung bình
TNHH Thu nhập hỗn hợp
UBND Uỷ ban nhân dân
vi
DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang
2.1 Cỏc chỉ tiờu phõn chia cấp địa hỡnh
4
4.1 Diện tích, cơ cấu các cấp độ dốc
36
4.2 Diện tớch, cơ cấu sử dụng đất nụng nghiệp năm 2007
53
4.3 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2007
55
4.4
Hiện trạng sử dụng đất huyện Nam Đàn và vựng gũ đồi
năm 2007
57
4.5
Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính

60
4.6
Một số chỉ tiờu phỏt triển lõm nghiệp vựng gũ đồi huyện
Nam Đàn
61
4.7
Các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất nông
nghiệp
62
4.8
Phõn cấp mức độ đỏnh giỏ hiệu quả kinh tế sử dụng đất

69
4.9 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính
69
4.10 Phõn cấp mức độ đỏnh giỏ hiệu quả xó hội
72
4.11
Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp vùng gò đồi huyện Nam Đàn
73
4.12
Lượng phõn bún cho cõy trồng được quy đổi ra lượng
(N, P
2
O
5
, K
2
O) và tiờu chuẩn bún phõn cõn đối, hợp lý

75
4.13
Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây
trồng vùng gò đồi huyện Nam Đàn
77
4.14
Đề xuất diện tớch cỏc loại hỡnh sử dụng đất nụng nghiệp
vựng gũ đồi huyện Nam Đàn
82
vii
DANH MỤC HÌNH
STT Tên hình Trang
4.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu huyện Nam Đàn 38
4.2 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất vùng gò đồi năm 2007 56
4.3
Biến động sử dụng đất nông nghiệp của vùng gò đồi

59
4.4 Cánh đồng lúa vụ xuân trong LUT 2 lúa 64
4.5 Ngô, lạc vụ xuân trong LUT chuyên màu
64
4.6 Cà chua trong LUT chuyên rau
65
4.7 Dưa chuột trong LUT chuyên rau 65
4.8 Cây vải, chanh, cam trong LUT cây ăn quả 66
4.9 Cảnh quan rừng thông 67
4.10 Cảnh quan rừng keo, bạch đàn 68
4.11 Hiệu quả kinh tế các LUT 71
1
1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất là một phần quan trọng của môi trường, là một tài nguyên vô giá
mà tự nhiên đã ban tặng cho con người. Đất là tư liệu sản xuất để phát triển
nông, lâm nghiệp, là đối tượng lao động rất đặc thù bởi tính chất độc đáo mà
không vật thể tự nhiên nào có thể thay thế được, đó là độ phì nhiêu. Chính vì
vậy mà các hệ sinh thái và ngay cả cuộc sống của loài người cũng hoàn toàn
phụ thuộc vào tính chất này của đất.
Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có giới hạn về diện tích, có nguy cơ
bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người
trong quá trình hoạt động sản xuất. Trong khi đó, xã hội ngày càng phát triển,
dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực
phẩm, các sản phẩm công nghiệp, các nhu cầu văn hoá, xã hội, nhu cầu về đất
cho xây dựng v.v... Tất cả những cái đó đã tạo nên áp lực ngày càng lớn lên
đất đai, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm diện tích, trong
khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy cần phải có những
giải pháp sử dụng đất trên quan điểm thích hợp và phát triển bền vững.
Vùng gò đồi Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng có địa hình phức
tạp, phần lớn là đất dốc, nghèo dinh dưỡng. Hơn nữa điều kiện tưới tiêu, hệ
thống giao thông gặp nhiều trở ngại. Kỹ thuật trồng trọt đặt ra rất khác nhau
trong điều kiện địa hình cụ thể. Vấn đề đặt ra cho phát triển bền vững vùng gò
đồi là việc nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định đời sống dân cư nhưng đồng thời
phải bảo vệ tài nguyên môi trường rất rễ bị phá vỡ, suy thoái đất. Để góp phần
phát triển nông nghiệp vùng gò đồi trong chiến lược phát triển bền vững khu vực
cũng như Nghệ An chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An”.
2
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên vùng nghiên cứu và đề
xuất hướng sử dụng đất theo quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững.
1.2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá các mặt lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội đối với các loại hình sử dụng đất và diện tích đất nông nghiệp.
- Các chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá phản ánh đầy đủ nội dung yêu
cầu của đánh giá hiệu quả sử dụng đất.
- Đề xuất loại hình sử dụng đất có hiệu quả và phù hợp với điều kiện
vùng gò đồi ở huyện Nam Đàn.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung
cơ sở thực tiễn để đánh giá hiệu quả sử dụng đất gò đồi vùng Bắc Trung bộ
nói chung và Nghệ An nói riêng.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu cho cơ sở khoa học để tiến hành quy
hoạch sử dụng đất và các chương trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông
nghiệp của huyện Nam Đàn.
3
2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT VÙNG GÒ ĐỒI
2.1.1. Khái quát về vùng gò đồi
Để có những can thiệp, tác động lên sản xuất nông nghiệp nói chung và
hệ thống trồng trọt vùng gò đồi nói riêng phải bắt đầu từ những quan niệm
đúng và nghiên cứu sâu hơn về nó. Hiện nay nhiều tác giả nghiên cứu về vùng
gò đồi nhưng sự phân bố, ranh giới về điều kiện tự nhiên thậm chí cả tên gọi
cũng khác nhau.
Vùng gò đồi có khi được gọi là vùng trung du, vùng bán sơn địa, vùng
đồng bằng xen đồi hay vùng đồi xen đồng bằng. Danh từ trung du được dùng
trước hết để chỉ vùng chuyển tiếp về địa hình và có thể phân biệt với vùng thượng
du (vùng núi) và vùng hạ du (đồng bằng). Như vậy vùng trung du được xác định
bởi một dải không gian chuyển tiếp giữa vùng đồng bằng và vùng núi [35].
Lê Bá Thảo (1990) [31] cho rằng “vùng trung du là một bề mặt san bằng cổ
tương đối ổn định về mặt kiến tạo, đã bị xâm thực chia cắt từ lâu và hiện đang
nằm trung sự đi xuống của địa hình. Sự phát triển đi xuống đó thể hiện ở chỗ các
đỉnh đồi ngày càng bị san bằng hơn, các thung lũng mở rộng hơn”.
Theo Vũ Tự Lập (1990) [38]: “Đặc điểm chung nhất của đồi là có độ cao
tương đồi dưới 500m, do đó tại vùng gò đồi qui luật đai cao chưa có tác dụng
quyết định, khiến cho địa hình nói riêng và tự nhiên nói chung mang sắc thái nội
chí tuyến, và về cơ bản lãnh thổ Việt Nam mang sắc thái một vùng rộng lớn, trong
đó núi là đỉnh nhô cao”.
Lưu Đức Hồng và Cs (1994) [35], đã đưa ra tiêu thức xác định về vùng gò
đồi: Về vị trí địa lý ở vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, về độ cao 25 -
700m so với mặt nước biển, trong đó trên 80% diện tích lãnh thổ dưới 500m.
4
Theo nhà địa mạo Nga I. Spiridonov (1970) các chỉ tiêu phân chia đồng
bằng, đồi, núi chi tiết như bảng 2.1 dưới đây [21]:
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu phân chia cấp địa hình
Ngoại mạo Trắc lượng hình thái Kiểu
hình
thái
Độ chênh
cao địa
hình (m)
Độ cao tuyệt
đối (m)
Địa mạo Độ chia cắt
sâu (m)
Độ chia cắt
ngang
km/km
2

Độ dốc sườn
không nghiêng

(độ)
Đồng <10 m Thấp <10 m Bằng phẳng Rất yếu Rất yếu < 3
0

bằng Cao 10 - 40 m Lượn sóng,
nghiêng
Yếu 10m Yếu 0,5 Sườn thoải
Đồi thấp
50 - 150 m
Bát úp 10 - 150m 0,5 - 1 3
0
- 8
0
Sườn thoải vừa


Đồi


10- 150m
Đồi cao
150 - 200 m
Dãy đồi Trung bình
150 – 400
Trung bình

1 - 1,5
8
0
- 15
0

Thấp <1000m Sườn rất dốc
30 - 40
0


Núi

>150m
Trung bình
1000-2000m
Khối, dãy núi
Rất mạnh
700
Rất mạnh
Với vách dốc
> 40
0

Qua bảng trên, đồi được hiểu là dạng địa hình lồi, kích thước không lớn,
đường nét mềm mại ít dốc, độ cao tương đối so với mặt địa hình vây quanh
không vượt quá 200 m, dao động độ cao từ 10 - 150 m [21]. Chỉ tiêu độ cao
tuyệt đối và hình thái phân chia thành đồi thấp, đồi cao, đồi bát úp dãy đồi.
Qua những quan điểm trên chúng ta có thể hiểu rằng gò đồi bản thân nó là
một vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, ranh giới giữa gò đồi và đồng
bằng, gò đồi và miền núi cũng có tính chuyển tiếp. hai khu vực hoàn toàn khác
nhau nằm cạnh nhau bao giờ cũng tồn tại một giải chuyển tiếp. Khu vực chuyển
tiếp tùy theo những đặc điểm tự nhiên cụ thể của từng nơi mà có ranh giới rộng
hay hẹp. Do đó việc xác định ranh giới không thể vạch theo một đường bình độ
nhất định mà phải chú ý đến quá trình hình thành và phát triển tự nhiên của nó,
nhất là quá trình hình thành đất, xói mòn, rửa trôi.
5
2.1.2. Đặc trưng chủ yếu của vùng gò đồi ở Việt Nam
2.1.2.1. Địa hình
Vùng gò đồi là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi nên có địa
hình chủ yếu là đồi bát úp hay lượn sóng. Xen kẽ giữa các đồi là các thung
lũng dọc theo các sông suối tạo thành những cánh đồng nhỏ hẹp từ vài ba đến
hàng trăm ha. Nhìn chung như vậy, nhưng trên thực tế do vùng gò đồi nước ta
kéo dài từ Bắc chí Nam nên địa hình không đồng nhất mà mang tính đa dạng
theo các tiểu vùng khác nhau. [35]
2.1.2.2. Khí hậu
Khí hậu vùng gò đồi mang tính chuyển tiếp riêng biệt. Đặc điểm chung
của so với đồng bằng trong vùng là có biên độ nhiệt lớn hơn do sự giảm tốc độ
gió và sự phản chiếu bức xạ của sườn đồi núi. Nhiệt độ về mùa hè thường thường
cao hơn 1
0
và mùa đông thấp hơn 1 - 2
0
. Lượng mưa giảm sút cùng với sự hạ thấp
của độ ẩm tương đối. Gió địa hình mạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão. Mỗi tiểu
vùng gò đồi nằm trong các miền khí hậu khác nhau vừa mang dấu ấn đặc trưng
chung của vùng trung du, vừa mang đặc trưng chung của mỗi vùng.
2.1.2.3. Quá trình hình thành đất vùng gò đồi
- Quá trình feralit - laterit hoá
Đây là quá trình đặc trưng và phổ biến của đất nhiệt đới ẩm. Quá trình
này có thể chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu phong hoá phá huỷ các khoáng nguyên sinh của đá mẹ
một cách triệt để trong điều kiện nhiệt ẩm cao, phong hoá hoá học chiếm ưu
thế. Trong giai đoạn này các cation kiềm, kiềm thổ bị giải phóng rửa trôi theo
chiều ngang và thẳng đứng. Đồng thời các secquioxyt (R
2
O
3
của Fe, Al,
Mn...) được tích luỹ ở tầng B của phẫu diện đất.
+ Giai đoạn tiếp theo hình thành các khoáng thứ sinh trong môi trường
6
axit, trong đó khoáng caolinit chiếm ưu thế. Tầng B tích luỹ sét màu vàng đỏ
được hình thành. Tầng mùn A mỏng với hàm lượng mùn thấp, axit fulvic
chiếm ưu thế. Do phong hoá hoá học triệt để nên các khoáng vật tàn dư
nguyên sinh ít. Tỷ số SiO
2
/R
2
O
3
trong keo sét < 2. Hàm lượng limon trong đất
rất thấp, các đoàn lạp có độ bền tương đối cao.
Trong điều kiện có mạch nước ngầm nâng lên hạ xuống xuất hiện trong
mùa mưa và mất trong mùa khô như ở các gò đồi thấp hoặc chân núi thì các
secquioxyt (R
2
O
3
) được tích luỹ tuyệt đối. Các secquioxyt không chỉ hình
thành tại chỗ mà còn được đưa tới từ các sườn cao hơn vào trong nước ngầm.
Nhiều kết von rời rạc được liên kết với nhau tạo thành sản phẩm đá ong
(laterit). Quá trình laterit hoá diễn ra liên tục trong nhiều năm có thể tạo thành
đá ong ngăn cách quá trình trao đổi vật chất và năng lượng giữa đá mẹ và tầng
đất mặt. Theo thời gian tầng đất mặt bị rửa trôi bạc màu nghèo dinh dưỡng,
nghèo cả secquioxyt. Tầng đất mặt “bạc màu” rất dễ dàng bị nước xói mòn
trong mùa mưa làm trơ lộ lớp đá ong kết von đã hình thành trước đó. Tầng đá
ong lộ trên bề mặt sẽ bị khô cứng lại như gạch đá và tạo ra một vùng “đất
chết”. Hiện tượng này phổ biến ở vùng thềm đồi, gò chuyển tiếp, nơi tiếp giáp
với đồng bằng hoặc ở các bề mặt san bằng trước núi.
Quá trình feralit tạo ra các đất vàng đỏ, đỏ vàng (Ferralsols), hoặc đất
xám feralit (Feralic Acrisols)... Quá trình laterit hoá tạo ra các đất: Đất xám
có tầng loang lổ mạnh (Plinthic Acrisols hay Leptosols).
- Quá trình xói mòn, rửa trôi do nước
Xói mòn đất là một quá trình phá huỷ lớp phủ thổ nhưỡng (bao gồm cả
phá huỷ thành phần cơ, lý, hoá, chất dinh dưỡng...của đất) dưới tác động của
các nhân tố tự nhiên và nhân sinh, làm giảm độ phì nhiêu đất, gây ra bạc màu,
thoái hoá đất, laterit hoá, trơ sỏi đá..., ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống và phát
triển của thảm thực vật rừng, thảm cây trồng khác [22].
7
Xói mòn được thể hiện 2 dạng: bào mòn theo lớp và xói mòn khe rãnh.
Dạng đầu phổ biến ở các đỉnh ít dốc và dạng thứ 2 xuất hiện ở các sườn xói
mòn và xói mòn ở vùng núi đạt tới hàng trăm tấn/ha/năm. Khu vực đồi núi ở
Việt Nam, thường có độ dốc > 25
0
hoặc từ 15
0
-25
0
, điều kiện địa hình đồi núi,
chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối phát triển dày đặc, tiết diện dọc dốc, chế
độ mưa mùa lại tập trung (lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 - 90% lượng
mưa cả năm) do đó xói mòn có điều kiện hoạt động mạnh [22].
Quá trình xói mòn đất không chỉ rửa trôi các cation, các hợp phần vi
lượng chất dễ tiêu, mùn ra khỏi tầng đất làm giảm chất dinh dưỡng độ phì
nhiêu mà xói mòn còn làm giảm đi độ dày của tầng canh tác một cách rõ rệt.
Không gian sinh trưởng của bộ rễ bị thu hẹp, độ ẩm đất giảm… Dẫn đến suy
giảm tốc độ sinh trưởng của cây trồng.
Chiều dài của sườn và lượng mưa hình thành dòng chảy mặt là những
yếu tố ảnh hưởng mạnh tới xói mòn, rửa trôi do nước của đất đai vùng đồi
núi. Vì tại các khu vực địa hình chia cắt mạnh độ dài của sườn lớn, dòng chảy
càng mạnh, năng lượng càng lớn và xói mòn đất sẽ tăng, qua nghiên cứu các
tác giả cho rằng nếu tăng chiều dài của sườn dốc lên 2 lần thì tổn thất về đất
sẽ tăng lên từ 2 - 7,5 lần và xói mòn trên các sườn lồi tăng 2-3 lần so với sườn
thẳng, sườn lõm xói mòn yếu, sườn bậc thang xói mòn không đáng kể. Nhìn
chung quá trình xói mòn đang xảy ra mạnh mẽ trên các loại đất xám feralit.
2.1.2.4. Diện tích và phân bố
Vùng đồi núi nước ta phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam đã tạo nên các
điều kiện tự nhiên, hình thành nên các loại đất hết sức phong phú và da dạng.
Theo bảng phân loại đất Việt Nam năm 1996 của Hội khoa học đất Việt Nam
[14], vùng đồi núi Việt Nam có những nhóm đất chính: đất đá bọt, đất đen, đất
nâu bán khô hạn, đất tích vôi, đất xám, đất đỏ, đất mùn alit núi cao và đất xói mòn
mạnh trơ sỏi đá. Trong đó nhóm đất xám và nhóm đất đỏ có diện tích rất lớn.
8
- Đất đá bọt (RK) - ANDOSOLS (AN) diện tích: 171.402 ha, phân bố ở
Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Tây Nghệ An
- Đất đen (R) - LUVISOLS (LV) diện tích: 112.939 ha phân bố ở các
tỉnh Sơn La, Cao Bằng, Hoà Bình, Hà Giang, Nghệ An, Gia Lai…
- Đất nâu vàng vùng bán khô hạn (XK) - LIXISOLS (LX) diện tích:
42.330 ha, phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
- Đất tích vôi (V) - CALCISOLS (CL) diện tích: 5.527 ha, phân bố ở
các vùng có đá vôi như Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La,…
- Đất xám (X) - ACRISOLS (AC) diện tích: 19.970.642 ha, phân bố
rộng khắp ở vùng đồi núi Việt Nam và một phần ở vùng đồng bằng. Trong
bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 nhóm đất xám có 5 đơn vị sau:
+ Đất xám feralit (Xf) - Ferralic-Acrisols (ACf), diện tích: 14.789.505 ha;
+ Đất xám mùn trên núi (Xh) - Humic-Acrisols (ACu) diện tích:
3.139.285 ha;
+ Đất xám bạc màu (X) - Haplic Acrisols (ACh), diện tích: 1.791.021 ha;
+ Đất xám có tầng loang lổ (Xl) - Plinthic-Acrisols (ACp);
+ Đất xám Glây (Xg) - Glâyic-Acrisols (ACg);
- Đất đỏ (F) - FERRASOLS (FR) diện tích: 3.014.594 ha, phân bố ở độ
cao tuyệt đối từ 50 - 1000 m chủ yếu phát triển trên đá macma bazơ trung tính
và đá vôi, tập trung nhiều nhất ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
- Đất mùn Alit núi cao (A) - ALISOLS diện tích: 280.714 ha, gặp ở độ
cao trên 2000m, thường nằm ở các đỉnh như Hoàng Liên Sơn, Ngọc Linh,
Chử Yang Sin.
- Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá (E) - LEPTOSOLS (LP), diện tích
495.727 ha phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và
Trung du miền núi Bắc bộ.
9
2.1.2.5. Những thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi: Vùng gò đồi có nhiều loại địa hình đất khác nhau có thể
thích ứng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau. Do đó, cho phép
chuyển dịch nền nông nghiệp độc canh ưu tiên sản xuất lương thực sang cơ
cấu nông nghiệp đa canh theo hướng đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở chuyên
môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp, tập trung hoá sản xuất để
tạo ra vùng cây công nghiệp ngắn ngày, các vùng cây công nghiệp dài ngày,
các vùng cây ăn quả, các vùng chăn nuôi đại gia súc, các vùng trồng rừng.
Điều đó cho phép tạo ra một khối lượng nông lâm sản hàng hoá lớn, một thị
trường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản và kéo theo sự
phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ khác. Trên cơ sở đó chuyển nền
kinh tế nông thôn thuần nông sang cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hoá
ngành nghề
- Những khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên, trong việc khai thác
vùng gò đồi còn gặp những khó khăn sau.
+ Vùng đòi gò bị khai thác bừa bãi, đất gò đồi bị thoái hoá, khả năng
sinh lợi thấp, diện tích đất trống đồi trọc tăng lên, dòi hỏi sự đầu tư cải tạo
lớn, lựa chọn phương thức sử dụng phức tạp.
+ Tổng lượng mưa thấp, 85% lượng mưa cả năm tập trung vào mùa
mưa gây nên lũ lụt, xói mòn, thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô. Nhiều
diện tích hoa màu đồi không đưa vào sử dụng được. Nhiều diện tích đồi cây
lâu năm bị khô cằn, vì vậy, việc phủ xanh đất trống đồi trọc tạo ra một hệ sinh
thái nhiều tầng có ý nghĩa về nhiều mặt đối với môi trường sống.
+ Thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học - kỹ thuật và quy trình công nghệ
mới, thiếu kiến thức kinh doanh, thiếu hiểu biết về thông tin thị trường trong
điều kiện nông thôn đang có sự chuyển dịch về cơ cấu và tổ chức sản xuất
theo cơ chế thị trường.
10
+ Cơ sở hạ tầng khá hơn miền núi nhưng nghèo nàn thiếu đồng bộ và yếu
kém. Giao thông nông thôn còn yếu kém, điện năng mới bắt đầu, thuỷ lợi chưa
đảm bảo đủ nước tưới. Thông tin liên lạc chưa kịp thời, đô thị chưa phát triển.
+ Thảm thực vật và môi trường sinh thái ở vùng gò nói riêng đang thời
kỳ báo động, tỷ lệ che phủ thấp chủ yếu là rừng mới trồng, rừng mới tái sinh.
Do đó, việc gìn giữ và điều hoà nguồn nước còn hạn chế, đất đai xói mòn,
tầng dày đất canh tác có nguy cơ giảm. Việc phục hồi và tái tạo thảm thực vật
để cải tạo môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái là cần thiết.
2.2. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
2.2.1. Hiệu quả sử dụng đất trong phát triển nông nghiệp bền vững
Trong vài thập kỷ gần đây, do sự bùng nổ dân số cùng với sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi
trường. Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nhu cầu con người với khả năng
cung cấp của tự nhiên đã làm cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên
trong đó có đất. Trong sản xuất nông nghiệp, để đáp ứng những nhu cầu về
lương thực, thực phẩm con người đã tìm mọi biện pháp để đất đai sản sinh
ngày càng nhiều sản phẩm trong đó có cả những biện pháp có hại cho đất. Với
việc sử dụng ngày một tăng các sản phẩm công nghiệp hoá như phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất tăng trưởng... đã làm cho đất đai bị thoái hoá,
không những thế còn kéo theo các thảm họa về môi trường sinh thái nghiêm
trọng. Nhận thức được nguy cơ đó, thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm
ra một hướng đi thích hợp trong sử dụng đất nông nghiệp. Một trong những
quan điểm phổ biến hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Vậy nông nghiệp bền vững là gì?
Các tác giả Bill Mollison và R.M. Slay trong cuốn “Đại cương về nông
nghiệp bền vững” cho rằng: “Nông nghiệp bền vững nói về thiết kế những hệ thống
định canh lâu bền. Đó là triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết
11
tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nước và những nhu cầu
của con người, xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả” [5].
Theo R. Morrow thì nông nghiệp bền vững được xây dựng trên nền
tảng của sinh thái học, tức là sự nghiên cứu những mối liên hệ và tương quan
giữa các cơ thể sống và môi trường của chúng. Hiệu quả của một phương
pháp mới làm bền vững và phong phú hơn cho cuộc sống mà không gây suy
thoái môi trường thiên nhiên và xã hội [27].
Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững, có thể thấy những nét chủ yếu là:
-Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết
hợp thiết kế và sinh thái.
-Một sự tổng hợp hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, áp dụng
cho cả thành thị và nông thôn.
-Nông nghiệp bền vững lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu và hành
động hoà hợp với thiên nhiên nhằm thiết kế những môi trường lâu bền cung
cấp những nhu cầu cơ bản cho con người cũng như những hạ tầng xã hội,
kinh tế và đảm bảo cho những nhu cầu đó.
- Nông nghiệp bền vững thúc đẩy chúng ta tham gia có ý thức vào việc giải
quyết nhiều vấn đề đặt ra cho chúng ta ở phạm vi địa phương và toàn cầu [27].
Sử dụng đất đai bền vững đã và đang là nhu cầu cấp bách của nước ta
hiện nay. Hậu quả mà chúng ta đang phải gánh chịu là hiện tượng sa mạc hoá,
lũ lụt, diện tích đất trống đồi núi trọc gia tăng phải chăng do việc sử dụng đất
kém bền vững, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng suy thoái.
2.2.2. Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu về hiệu quả, do xuất phát từ những góc độ
nghiên cứu khác nhau, do các điều kiện để tiến hành nghiên cứu khác nhau,
nên có nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả.
12
Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ [28], hiệu quả chính là kết quả cũng
như yêu cầu của việc làm mang lại.
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng phải là kết quả của quá trình sử
dụng đất. Kết quả ở đây được hiểu là kết quả hữu ích, là một đại lượng vật chất
tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu do tính chất
mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà
ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra là bao nhiêu?
Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế, khi đánh giá kết quả hoạt
động sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá
chất lượng công tác hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm đó [13].
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết
các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa
học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình
sản xuất nông nghiệp [27].
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản
chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và
những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời
gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và phải bảo vệ được
môi trường. Điều đó có nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu
quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường [27].
* Hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm tính hiệu quả của C. Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên
trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một
13
cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau.
Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời
gian lao động giữa các ngành”. Theo quan điểm này thì đó là qui luật “Tiết
kiệm”, là “Tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “Tăng hiệu quả”. Ông
cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người
lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội”. Như vậy, theo quan điểm của
Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả
kinh tế và xã hội [14].
Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman),
hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị
kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất
trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội.
Theo các nhà khoa học kinh tế Samuel - Nordhuas cho rằng: “Hiệu
quả có nghĩa là không lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến
chi phí cơ hội, “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản
lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng
hoá khác. Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng
năng suất của nó" [14].
Tác giả Đỗ Khắc Thịnh cho rằng: “Thông thường hiệu quả được hiểu
như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường
hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa”. Do vậy,
nói một cách linh hoạt hơn nên hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong
muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí [17].
Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là mối tương
quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản
phẩm đầu ra, chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào.
14
Như vậy, chúng ta thấy rằng, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu
quả kinh tế nhưng đều thống nhất nhau ở bản chất của nó. Người sản xuất
muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó
là nhân lực, vật lực, vốn… So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt
được kết quả đó, sẽ là hiệu quả kinh tế. Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa
hoá kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt
được một kết quả nhất định .
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của
cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp
nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội.
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có
vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác. Hiệu quả kinh tế là loại hiệu
quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện
thông qua hệ thống các chỉ tiêu.
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã
hội và tổng chi phí bỏ ra [33]. Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [34], hiệu quả
về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp được xác định bằng khả năng tạo việc
làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp.
Từ những quan điểm trên cho thấy, hiệu quả xã hội là phạm trù có liên
quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con
người. Chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối
quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại. Việc lượng hoá các
chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh
bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, định
canh, định cư, xây dựng xã hội lành mạnh, nâng cao mức sống của toàn dân.
15
* Hiệu quả môi trường
Đây là loại hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan
tâm trong điều kiện hiện nay. Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả
khi hoạt động đó không có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như
đất, nước, không khí và hệ sinh học, là hiệu quả đạt được khi quá trình sản
xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá
trình sản xuất đó còn đem lại cho môi trường tốt hơn, làm cho môi trường
xanh, sạch đẹp hơn trước [12].
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây lên gồm: hiệu quả
hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường.
Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt
với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài tức là bảo vệ
tài nguyên đất và môi trường sinh thái. Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã
hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi
trường càng được quan tâm.
Như vậy, sử dụng đất hợp lý hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm
tới cả ba loại hiệu quả, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu
quả kinh tế không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi
trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường hiệu quả kinh tế sẽ
không vững chắc [11].
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.3.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ nhưỡng...)
có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
[34], vì các yếu tố của điều kiện tự nhiên là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh
khối. Vì vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định
cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng.
16
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I.
Theo N.Borlang, người được giải Nobel về giải quyết lương thực cho các
nước phát triển cho rằng: yếu tố duy nhất quan trọng hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông
dân thiếu vốn là độ phì đất [16].
2.2.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai,
cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của các quá trình
sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những
tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về
điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo [8].
Trên cơ sở nghiên cứu các quy luật tự nhiên của sinh vật để lựa chọn các tác
động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào nhằm đạt các
mục tiêu sử dụng đất đề ra. Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước
phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân
bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất. Có
nghĩa là ứng dụng công nghiệp sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho
kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông
nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất
kinh tế [16]. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp.
2.2.3.3. Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
Nhóm yếu tố này bao gồm:
- Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất
Thực hiện phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên,

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×