Tải bản đầy đủ

Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình.doc

Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc
gia trên Thế giới đang ra sức mở cửa nền kinh tế thị trường. Việt Nam của
chúng ta cũng không nằm ngoài xu thế ấy. Muốn phát triển tất yếu phải hội
nhập và như vậy hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại
thương nói riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển nền
kinh tế đất nước, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang trong quá
trình tiến hành sự nghiệp CNH_ HĐH đất nước. Muốn đẩy nhanh quá trình hội
nhập với quy mô ngày càng rộng hơn, với một trình độ cao hơn thì càng phải
đẩy mạnh hơn nữa hoạt động thanh toán quốc tế vì nó được coi là công cụ, là
cầu nối quan trọng trong quan hệ kinh tế và thương mại giữa các nước trên thế
giới. Giữa các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán quốc tế bao giờ cũng có sự
khác biệt khá lớn về địa lý cũng như chế độ chính trị, kinh tế và xã hội. Do đó
việc tìm ra một phương thức thanh toán thuận tiện, nhanh chóng và hiệu quả
nhất nhằm giảm tới mức tối thiểu những rủi ro xảy ra trong hoạt động thanh
toán quốc tế giữa các bên tham gia là một đòi hỏi vô cùng bức thiết. Và phương
thức tín dụng chứng từ ra đời như một tất yếu khách quan, nó được lựa chọn và
sử dụng vì đã đáp ứng được những yêu cầu từ cả hai phía người xuất khẩu và
người nhập khẩu. Với những ưu điểm vượt trội của mình, ngày nay phương
thức tín dụng chứng từ đã được sử dụng một cách rất rộng rãi và phổ biến trên

toàn thế giới.
Là một sinh viên khoa Ngân hàng_Tài chính, nhận thức được tầm quan
trọng của vấn đề trên, sau một thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Ba Đình, em đã quyết định chọn đề tài “ Phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng
Công thương Ba Đình ” làm chuyên đề thực tập của mình để hiểu rõ hơn nữa
về hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ cũng như
những hạn chế và những vướng mắc trong việc áp dụng phương thức thanh toán
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
này tại Việt Nam.
Do kiến thức tích lũy chưa đầy đủ, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên
chuyên đề tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất
mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để chuyên đề
này có ý nghĩa thiết thực hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của GS.TS Vũ Duy Hào –
Giáo viên trực tiếp hướng dẫn, cùng chị Cao Thị Minh Nghĩa – Phó phòng
Thanh toán XNK, và các anh chị công tác tại Chi nhánh Ngân hàng Công
thương Ba Đình đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho hoàn thành chuyên đề này.
Về kết cấu , nội dung chính của chuyên đề gồm 3 chương như sau :
Chương 1 : Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ
của Ngân hàng thương mại
Chương 2 : Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức
tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba Đình
Chương 3 : Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế theo
phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Ba
Đình
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
2
Chuyên đề tốt nghiệp

NỘI DUNG
Chương 1 : Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ của
Ngân hàng thương mại
1.1. Ngân hàng thương mại trong hoạt động ngoại thương
1.1.1. Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường
Mô hình hệ thống mà các nước trên Thế giới hiện nay đang duy trì là hệ
thống ngân hàng hai cấp : ngân hàng trung ương có nhiệm vụ phát hành tiền và
quản lý các NHTM, còn hệ thống các NHTM thực hiện kinh doanh như một


doanh nghiệp với nguyên liệu đặc biệt là “tiền tệ”. Hệ thống ngân hàng Việt
Nam cũng không nằm ngoài qui luật trên. Đứng đầu là Ngân hàng nhà nước
Việt Nam, có chức năng phát hành tiền và đưa ra chính sách quản lý vĩ mô đối
với toàn hệ thống ngân hàng. Sau đó là hệ thống các NHTM gồm có NHTM đô
thị, NHTM nông thôn, NHTM cổ phần, NHTM liên doanh và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh
doanh trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chủ yếu và nhận tiền gửi của khách
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, đầu tư, thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán và các nghiệp vụ trung gian khác nhằm thu lợi
nhuận tối đa trên cơ sở đảm bảo khả năng thanh toán. Ngày nay các hoạt động
cơ bản của NHTM không chỉ dừng lại ở các hoạt động nhận tiền gửi, hoạt động
tín dụng đầu tư, hoạt động thanh toán nữa mà đã mở rộng thêm nhiều nghiệp vụ
mới phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của khách hàng
như : cho vay tiêu dùng, cho vay trả góp, cho vay đi du học nước ngoài, cho
thuê tài chính, cho vay đầu tư chứng khoán ... và rất nhiều các hoạt động khác
1.1.2. Ngân hàng thương mại với hoạt động xuất nhập khẩu
Xuất nhập khẩu (XNK) là hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các nước với
các nước khác thông qua hoạt động mua bán vượt ra khỏi phạm vi biên giới của
một nước . Nếu như hoạt động xuất khẩu là hoạt động khai thác triệt để lợi thế
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
so sánh của mỗi quốc gia , đạt quy mô tối đa cho ngành sản xuất, tạo điều kiện
xây dựng các ngành kinh tế mũi nhọn, nầng cao năng xuất lao động và hạ giá
thành sản phẩm, thúc đẩy các nhân tố phát triển theo chiều sâu thì hoạt động
xuất nhập khẩu lại tạo cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế
giới thành nơi cung cấp các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các yếu tố đầu ra cho nền
kinh tế quốc dân trong hệ thống kinh tế quốc tế. Hoạt động XNK phần nào giải
quyết được mâu thuẫn giữa quy mô sản xuất với ranh giới có hạn của thị trường
nội địa, giữa tốc độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật với khả năng có hạn
về sức lao động và trình độ của thị trường nội địa.Trong điều kiện hội nhập và
phát triển kinh tế thế giới, tăng cường và mở rộng quan hệ XNK sẽ thúc đẩy sự
tăng trưởng và tạo sự cân đối cho nền kinh tế trong nước
Ngày nay chiến lược kinh tế đối ngoại của nhiều nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam, là sản xuất thay nhập khẩu và sản xuất hướng tới xuất
khẩu. Để đáp ứng nhu cầu này đòi hỏi các NHTM tham gia vào hoạt động ngoại
thương với chức năng tài trợ ngoại thương thể hiện ở các loại hình dịch vụ như:
cung cấp các khoản bảo lãnh hoặc tín dụng, trung gian thanh toán, tư vấn, quản
lý rủi ro tín dụng, cung cấp các phương thức đảm bảo cho khả năng thanh toán.
Do mỗi nước có hệ thống tiền tệ riêng, năng lực tài chính của người mua và
người bán ở mỗi nước có đặc điểm riêng, ngoài ra còn hạn chế về ngôn ngữ,
môi trường văn hóa, phong tục tập quán, môi trường pháp lý của các quốc gia
khác nhau…nên dịch vụ thanh toán quốc tế của NHTM ra đời làm cho quá trình
thanh toán diễn ra suôn sẻ và thuận lợi hơn
1.2. Hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại
1.2.1. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
1.2.1.1. Khái niệm thanh toán quốc tế
Thanh toán quốc tế (TTQT) là một hoạt động chi trả bằng tiền (ngoại tệ
thoả thuận) liên quan tới hàng hoá, dịch vụ, tư bản của cá nhân, tổ chức, chính
phủ nước này đối với đối tác của mình trên thế giới bằng các hình thức chuyển
tiền hoặc bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
4
Chuyên đề tốt nghiệp
Sự ra đời của hoạt động TTQT như một tất yếu khách quan trong quá
trình phát triển của nền kinh tế Thế giới. Các quan hệ TTQT được chia làm ba
loại bao gồm thanh toán mậu dịch, thanh toán phi mậu dịch và thanh toán nợ cũ.
TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ là một hình thức của thanh toán mậu
dịch, một hình thức thanh toán phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Hiện nay, trong hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCTVN),
TTQT được hiểu là quá trình thực hiện các nghiệp vụ như: chuyển tiền, thanh
toán thẻ, nhờ thu, thanh toán L/C và các nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác
bằng ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCTVN, giữa NHCT với các tổ chức tài
chính khác ở trong và ngoài nước thông qua mạng IBS (hệ thống nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế của NHCTVN), mạng SWIFT (mạng tài chính viễn thông
liên ngân hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác
1.2.1.2. Vai trò của hoạt động thanh toán quốc tế
a. Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại
Thanh toán quốc tế (TTQT) là khâu then chốt, khâu cuối cùng để khép
kín một chu trình mua bán hàng hoá hoặc trao đổi dịch vụ giữa các tổ chức, cá
nhân thuộc các quốc gia khác nhau trên toàn Thế giới.
TTQT là cầu nối trong mối quan hệ kinh tế đối ngoại, có thể nói nếu
không có hoạt động TTQT thì không có hoạt động kinh tế đối ngoại. TTQT thúc
đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển. Vì vậy, việc tổ chức TTQT được tiến
hành nhanh chóng, chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất yên tâm và đẩy mạnh
hoạt động XNK của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát
triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương.
Đồng thời, hoạt động TTQT góp phần hạn chế rủi ro trong quá trình thực
hiện hợp đồng ngoại thương. Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, do vị trí địa lý
của các đối tác thường là xa nhau nên việc tìm hiểu các khả năng tài chính, khả
năng thanh toán của người mua gặp nhiều khó khăn. Nếu tổ chức tốt công tác
TTQT thì sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hàng hoá XNK hạn chế được rủi ro,
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
giảm bớt chi phí trong quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế đối ngoại, nhờ đó
thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển.
Vì thế, có thể nói rằng kinh tế đối ngoại có mở rộng được hay không một
phần nhờ vào hoạt động TTQT có tốt hay không. TTQT tốt sẽ đẩy mạnh hoạt
động xuất nhập khẩu, qua đó phát triển sản xuất trong nước, khuyến khích các
doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hang hóa.
b. Đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại
Đối với hoạt động của Ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động
TTQT mà nhất là hình thức tín dụng chứng từ có vị trí đặc biệt quan trọng. Nó
không chỉ thuần tuý là dịch vụ mà còn được coi là một hoạt động không thể
thiếu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
+ Trước hết, hoạt động TTQT tế giúp Ngân hàng thu hút thêm được
khách hàng có nhu cầu giao dịch quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng phát triển
thêm quy mô, tăng thêm nguồn thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh trong cơ chế
thị trường.
+ Thứ hai, thông qua hoạt động TTQT, Ngân hàng có thể đẩy mạnh hoạt
động tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng được nguồn vốn huy động tạm thời
do quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân có quan hệ TTQT
với Ngân hàng.
+ Thứ ba, TTQT sẽ giúp Ngân hàng thu được một nguồn ngoại tệ lớn từ
đó tạo tiền đề cho Ngân hàng có thể phát triển tốt các nghiệp vụ kinh doanh
ngoại hối, bảo lãnh và nghiệp vụ Ngân hàng quốc tế khác.
+ Thứ tư, hoạt động TTQT giúp Ngân hàng tăng tính thanh khoản thông
qua lượng tiền ký quỹ. Mức ký quỹ phụ thuộc vào độ tin cậy, an toàn của từng
khách hàng cụ thể. Tuy nhiên xét về tổng thể thì các khoản ký quỹ này phát sinh
một cách thường xuyên và ổn định.Vì vậy trong thời gian chờ đợi thanh toán,
Ngân hàng có thể sử dụng các khoản này để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết,
thậm chí có thể sử dụng để kinh doanh, đầu tư ngắn hạn để kiếm lời.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
6
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Ngoài ra, hoạt động TTQT còn giúp Ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu
cầu của khách hàng trên cơ sở nâng cao uy tín của Ngân hàng.
Tóm lại, trong xu thế ngày nay hoạt động TTQT có vai trò hết sức quan
trọng trong hoạt động ngân hàng nói riêng và hoạt động kinh tế đối ngoại nói
chung. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trang để có biện pháp thực hiện nghiệp vụ
TTQT có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộc
CNH_HĐH, đổi mới nền kinh tế Đất nước.
1.2.2. Các điều kiện trong thanh toán quốc tế
Trong quan hệ thanh toán giữa các nước, các vấn đề có liên quan đến
quyền lợi và nghĩa vụ mà đôi bên phải đề ra để giải quyết và thực hiện được quy
định lại thành những điều kiện gọi là: Điều kiện thanh toán quốc tế.
Mặt khác, nghiệp vụ TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT.
Những điều kiện này được thể hiện ra trong các điều khoản thanh toán của các
hiệp định thương mại, các hiệp định trả tiền giữa các nước, của các hợp đồng
mua bán ngoại thương ký kết giữa người mua và người bán.
Các điều kiện thanh toán quốc tế bao gồm : Điều kiện tiền tệ, điều kiện
về địa điểm, điều kiện về thời gian, điều kiện về phương thức thanh toán.
a. Điều kiện về tiền tệ
Trong TTQT các bên tham gia phải sử dụng đơn vị tiền tệ nhất định của
một nước nào đó. Vì vậy, trong các hiệp định và hợp đồng đều có quy định tiền
tệ. Điều kiện này quy định việc sử dụng đồng tiền nào để thanh toán trong hợp
đồng ngoại thương và hiệp định ký kết giữa các nước. Đồng thời điều kiện này
cũng quy định cách xử lý khi giá trị đồng tiền đó biến động. Người ta thường
chia thành hai loại tiền sau:
+ Đồng tiền tính toán (Account Currency): Là loại tiền được dùng để thể
hiện giá cả và tính toán tổng giá trị hợp đồng.
+ Đồng tiền thanh toán (Payment Currency): Là loại tiền để chi trả nợ
nần, hợp đồng mua bán ngoại thương. Đồng tiền thanh toán có thể là đồng tiền
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
của nước nhập khẩu, của nước xuất khẩu hoặc có thể là đồng tiền quy định
thanh toán của nước thứ 3.
b. Điều kiện về địa điểm thanh toán:
+ Địa điểm thanh toán được quy định rõ trong hợp đồng ký kết giữa các
bên. Địa điểm thanh toán có thể là nước nhập khẩu hoặc nước người xuất khẩu
hay có thể là một nước thứ 3.
+ Tuy nhiên, trong TTQT giữa các nước, bên nào cũng muốn trả tiền tại
nước mình, lấy nước mình làm địa điểm thanh toán. Sở dĩ như vậy vì thanh toán
tại nước mình thì có nhiều điểm thuận lợi hơn.Ví dụ như có thể đến gần thời
hạn thanh toán mới phải chi tiền, vì thế đỡ đọng vốn nếu là người nhập khẩu,
hoặc có thể thu tiền về nhanh nên luân chuyển vốn nhanh nếu là người xuất
khẩu, qua đó có thể tạo điều kiện nâng cao được địa vị của thị trường tiền tệ
nước mình trên Thế giới
+ Trong thực tế, việc xác định địa điểm thanh toán là sự so sánh lực
lượng giữa hai bên quyết định, đồng thời còn thấy rằng dùng đồng tiền của nước
nào thì địa điểm thanh toán là nước ấy
c. Điều kiền về thời gian thanh toán :
Điều kiện thời gian thanh toán có quan hệ chặt chẽ với việc luân chuyển
vốn, lợi tức, khả năng có thể tránh được những biến động về tiền tệ thanh toán.
Do đó, nó là vấn đề quan trọng và thường xẩy ra tranh chấp giữa các bên trong
đàm phán ký kết hợp đồng.
Thông thường có 3 cách quy định về thời gian thanh toán:
+ Trả tiền trước là việc bên nhập khẩu trả cho bên xuất khẩu toàn bộ hay
một phần tiền hàng sau khi hai bên ký kết hợp đồng hoặc sau khi bên xuất khẩu
chấp nhận đơn đặt hàng của bên nhập khẩu.
+ Trả tiền ngay là việc người nhập khẩu trả tiền sau khi người xuất khẩu
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng trên phương tiện vận tải tại nơi quy định hoặc
sau khi người nhập khẩu nhận được hàng tại nơi quy định.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
8
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Trả tiền sau là việc người nhập khẩu trả tiền cho người xuất khẩu sau
một khoảng thời gian nhất định kể từ khi giao hàng.
d. Điều kiện về phương thức thanh toán:
Điều kiện về phương thức thanh toán là cách thức nhận trả tiền hàng trong
từng món giao dịch, mua bán giữa người mua và người bán. Trong quan hệ mua
bán quốc tế có nhiều phương thức thanh toán khác nhau để thu tiền hoặc để trả
tiền như: chuyển tiền, nhờ thu, thư tín dụng...
Có thể nói rằng TTQT là sự vận dụng tổng hợp các điều kiện TTQT.
Trong các điều kiện trên, phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất.
Phương thức thanh toán là người bán dùng cách nào để thu tiền về, người mua
dùng cách nào để trả tiền. Trong quan hệ mua bán, người ta có thể chọn nhiều
phương thức khác nhau để thu tiền hoặc trả tiền, nhưng xét cho cùng việc lựa
chọn phương thức thanh toán nào cũng xuất phát từ yêu cầu của người bán là
thu tiền đầy đủ và đúng hạn, người mua là nhận hàng đúng số lượng, chất lượng
và đúng hạn.
1.2.3. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Có rất nhiều phương thức thanh toán quốc tế nhưng hiện nay có ba
phương thức được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới cũng như ở Việt Nam là:
chuyển tiền, nhờ thu và tín dụng chứng từ. Việc lựa chọn sử dụng phương thức
nào tùy theo mức độ tin cậy giữa các đối tác
1.2.3.1. Phương thức thanh toán chuyển tiền
a. Khái niệm:
Phương thức thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản
nhất trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, nhà nhập khẩu) yêu
cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng
ở một địa điểm xác định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng yêu cầu.
Nhà nhập khẩu có thể lựa chọn một trong hai hình thức chuyển tiền là
chuyển tiền bằng thư (Mail transfer-M/T) hoặc chuyển tiền bằng điện
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
(Telegraphic transfer – T/T). Ngày nay, phương thức chuyển tiền T/T được sử
dụng nhiều hơn do thời gian nhanh hơn nhiều mặc dù chi phí chuyển tiền M/T
thấp hơn.
b. Nhận xét
+ Trong phương thức này, Ngân hàng chỉ là trung gian thanh toán theo
ủy nhiệm để hưởng phí hoa hồng và về cơ bản không chịu ràng buộc gì
thêm.
+ Việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua, do vậy nếu dùng
phương thức này thì quyền lợi của người bán không được đảm bảo.
+ Rủi ro xảy ra với người mua trong trường hợp người mua áp dụng
thanh toán trả tiền trước cho người bán mà không nhận được hàng theo
đúng hợp đồng.
+ Rủi ro xảy ra với người bán khi người mua nhận hàng rồi nhưng không
thanh toán tiền, hoặc từ chối thanh toán khi không muốn nhận hàng.
Do có nhiều rủi ro khi áp dụng phương thức này nên nó ít được sử dụng.
Người ta chỉ áp dụng phương thưc này khi thanh toán các khoản tương đối nhỏ
(như thanh toán chi phí xuất nhập khẩu, vận chuyển, bảo hiểm, bồi thường thiệt
hại hoặc dùng trong thanh toán phi mậu dịch…) hoặc thanh toán giữa công ty
mẹ với công ty con, giữa các đối tác có quan hệ buôn bán lâu năm, biết rõ và có
sự tin cậy lẫn nhau.
1.2.3.2. Phương thức ghi sổ
a. Khái niệm
Phương thức ghi sổ (phương thức mở tài khoản) là phương thức TTQT
mà trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người
mua sau khi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hay dịch vụ. Việc
thanh toán các khoản nợ này được thực hiện theo định kỳ (tháng, quí, nửa
năm..)
Đây là hình thức cấp tín dụng thương mại của nhà xuất khẩu cho nhà
nhập khẩu. Ưu điểm là phương thức rất thuận lợi nếu người mua có tín nhiệm
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
thanh toán với người bán. Bên mua sẽ được sử dụng hàng hóa thường xuyên,
thậm chí cả lúc chưa đủ tiền còn người bán sẽ tiêu thụ được hàng hóa và giữ
được thị trường truyền thống.
Nhược điểm của phương thức này là quyền lợi của người xuất khẩu
không được bảo đảm còn người nhập khẩu phải mua hàng với giá cao.
Cũng giống như phương thức chuyển tiền, phương thức này chỉ áp dụng
với những đối tác có quan hệ lâu dài, tin cậy lẫn nhau như:
+ Thanh toán nội địa
+ Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần, thường xuyên trong
một thời kì nhất định (6 tháng hoặc 1 năm)
+ Thanh toán tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng
trong nghiệp vụ môi giới, ủy thác, tiền lãi cho vay và đầu tư.
1.2.3.3. Phương thức thanh toán nhờ thu
a. Khái niệm
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà nhà xuất
khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ nào đó cho nhà nhập khẩu sẽ tiến
hành ủy thác cho Ngân hàng phục vụ thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu hoặc các
chứng từ do nhà xuất khẩu lập.
b. Có hai hình thức nhờ thu
+ Nhờ thu trơn (Clean Collection)
Bộ chứng từ hàng hóa sẽ được gửi thẳng đến người mua, không qua Ngân
hàng. Người bán ủy thác cho Ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua
căn cứ vào hối phiếu do chính người bán lập ra. Phương thức này không được
áp dụng nhiều do mức độ rủi ro lớn, vì việc nhận hàng của người bán hoàn toàn
độc lập với việc thanh toán. Cả người mua và người bán đều chịu rủi ro. Người
mua chịu rủi ro khi hối phiếu đến trước chứng từ hàng hóa, họ phải thanh toán
ngay mà không được đảm bảo sẽ nhận hàng đúng chất lượng, qui cách và mẫu
mã. Người bán gặp rủi ro khi người mua nhận hàng nhưng chây ỳ không thanh
toán, chiếm dụng vốn của người bán.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
11
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection)
Khác với nhờ thu trơn, trong trường hợp này bộ chứng từ hàng hóa được
người bán gửi đến ngân hàng nhận ủy thác thu. Ngân hàng này tiến hành thu hộ
tiền ở người mua không chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng
từ hàng hóa với điều kiện người mua phải thanh toán ngay hoặc chấp nhận trả
tiền (nếu là hối phiếu có kì hạn) thì mới được nhận bộ chứng từ để nhận hàng.
Phương thức này đảm bảo an toàn cho người bán hơn vì họ đã nhờ Ngân
hàng khống chế bộ chứng từ. Tuy vậy, người bán vẫn phải đối mặt với rủi ro khi
người mua thay đổi ý định hoặc khi tình hình kinh doanh sa sút, người mua
không nhận hàng và không chịu thanh toán. Rủi ro mà người bán không nhận
được tiền là do NHTM trong trường hợp này chỉ đóng vai trò trung gian thu tiền
hộ và nhận trách nhiệm giữ chứng từ, ngoài ra không chịu trách nhiệm gì khác.
1.2.3.4. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
a. Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận mà trong đó Ngân
hàng (Ngân hàng phát hành) đáp ứng nhu cầu của khách hàng (người xin mở
L/C - Nhà nhập khẩu) cam kết hay cho phép Ngân hàng khác chi trả hoặc chấp
nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện qui định trong thư
tín dụng được thực hiện đúng và đầy đủ.
Phương thức L/C là một phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng
rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong TTQT, chiếm khoảng 70 % giá trị thanh
toán. Lý do là nó đảm bảo quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và
người bán.
b. Nhận xét
- Ưu điểm của phương thức L/C
+ Đối với nhà nhập khẩu:
Chắc chắn nhà xuất khẩu phải đáp ứng các qui định của L/C, người mua
chỉ phải thanh toán khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện và
điều khoản của LC để nhận hàng. Người mua được sự trợ giúp của ngân hàng
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
trong việc bảo đảm các điều kiện của LC được tuân thủ, dễ dàng được ngân
hàng tài trợ vốn, được các điều khoản UCP500 bảo vệ.
+ Đối với nhà xuất khẩu
Được bảo đảm thanh toán khi tuân thủ các điều khoản và điều kiện của
L/C ngay cả khi nhà nhập khẩu cố tình không thanh toán và nhận được thanh
toán nhanh nhất. Được Ngân hàng giúp đỡ và tư vấn, giảm thiểu được các rủi
ro. Ngoài ra, người bán có thể sử dụng L/C như là một phương thức tài trợ cho
xuất khẩu như: chiết khấu bộ chứng từ, bán bộ chứng từ cho ngân hàng hay vay
vốn ngân hàng bằng thế chấp bộ chứng từ…
+ Đối với ngân hàng
Khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng cũng thu được lợi ích khá lớn từ
các khoản thu phí dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng tín dụng, bảo lãnh quốc tế
kinh doanh ngoại tệ
- Nhược điểm của phương thức L/C
Nhược điểm lớn nhất của phương thức L/C là phải thanh toán theo một
qui trình tỉ mỉ, máy móc, đòi hỏi các bên phải tiến hành cẩn thận, nhất là khâu
lập và kiểm tra chứng từ. Chỉ cần một sơ xuất nhỏ cũng trở thành nguyên nhân
bác bỏ việc thanh toán.
Ngân hàng chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ nên buộc phải thanh toán bất
kể hàng hóa tốt hay xấu, rủi ro thuộc về phía người mua. Nếu người bán cố ý
lập một bộ chứng từ hàng hóa giả tạo nhưng hoàn hảo theo các điều kiện và
điều khoản của L/C thì ngân hàng vẫn sẽ phải thanh toán cho người bán và rủi
ro sẽ thuộc về người mua do họ đã chọn nhầm đối tác lừa đảo.
Ngoài ra, Ngân hàng còn bị ràng buộc bởi trách nhiệm của mình đối với
người mua và người bán với tư cách là một thành viên tham gia vào phương
thức này.
Tín dụng chứng từ là một kỹ thuật thanh toán chắc chắn nhưng nặng nề.
Chi phí cho người nhập khẩu tương đối tốn kém. Mặt khác, thủ tục hành chính
nghiêm ngặt đôi khi gây khó khăn cho người xuất khẩu trong quá trình lập
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
13
Chuyên đề tốt nghiệp
chứng từ.
Sau khi phân tích những lợi ích và bất lợi của các phương thức thanh toán
quốc tế nói chung và của phương thức L/C nói riêng, ta thấy phương thức L/C
là ưu việt hơn cả bởi nó đã dung hòa, cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ của các
bên tham gia hợp đồng mua bán ngoại thương. Nghĩa vụ và trách nhiệm được
đan xen, ràng buộc lẫn nhau tạo nên một sự đảm bảo và chắc chắn hơn cả cho
việc thanh toán tiền hàng, nâng cao quyền bình đẳng trong quan hệ thanh toán
giữa người mua và người bán. Hơn nữa, trong phương thức L/C các Ngân hàng
tham gia không chỉ đơn thuần là trung gian thanh toán mà chính là thành viên
thực sự của quá trình thanh toán, cam kết trả tiền thay cho người bán thay cho
người mua. Vì vậy đôi khi Ngân hàng cũng phải chịu những rủi ro trong quá
trình thực hiện nghiệp vụ này.
1.2.4. Những rủi ro thường gặp trong thanh toán quốc tế
a. Khái niệm rủi ro trong thanh toán quốc tế
Rủi ro trong TTQT là những rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện
TTQT liên quan đến các giao dịch quốc tế, nguyên nhân phát sinh từ quan hệ
giữa các bên tham gia TTQT như: nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu, các Ngân
hàng, tổ chức, tác nhân trung gian…hoặc do những yếu tố khách quan khác gây
ra như thiên tai, chiến tranh, chính trị…
Rủi ro trong TTQT cũng giống như rủi ro trong giao dịch thương mại
trong nước, nhưng khoảng cách về địa lý, những khác biệt về văn hóa, luật
pháp…làm tăng thêm khó khăn liên quan đến giao dịch quốc tế.
b. Phân loại rủi ro
Để đánh giá được rủi ro và đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm phòng
ngừa và hạn chế, chúng ta có thể phân loại rủi ro theo những nguyên nhân phát
sinh ra nó.
+ Rủi ro thương mại
Loại rủi ro này hiện diện trong tất cả giao dịch giữa các thương gia. Rủi
ro này xảy ra với nhà xuất khẩu khi gặp phải những khuyết tật trong khâu thanh
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
toán, khi con nợ rơi vào tình trạng suy yếu tài chính hay gặp những rắc rối vì
qui định pháp lý. Còn đối với nhà nhập khẩu thì rủi ro xảy ra khi vi phạm các
điều khoản của hợp đồng thương mại như: thời hạn gửi hàng, số lượng hàng,
chất lượng hàng, giá cả, những thay đổi trong điều kiện vận chuyển hàng hóa…
+ Rủi ro trong thanh toán
Là những bất ngờ, gây hậu quả tổn thất cho các bên tham gia thanh toán,
đặc biệt đối với các ngân hàng khi thực hiện cung ứng dịch vụ thanh toán cho
các bên tham gia kinh doanh, giao dịch quốc tế.
+ Rủi ro tín dụng
Đây là rủi ro mất khả năng thanh toán của một trong các bên tham gia vào
thanh toán đặc biệt trong phương thức tín dụng chứng từ.
Nguyên nhân gây ra loại rủi ro này là các doanh nghiệp cũng như các
NHTM phải hoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, chịu sự chi phối
lớn của các qui luật cung cầu…nên phải thường xuyên đối mặt với rủi ro từ mọi
phía. Ngoài ra, do thông tin tín dụng không đầy đủ khi một bên không nắm
vững tình hình tài chính, uy tín và khả năng thanh toán của đối tác.
+ Rủi ro đạo đức
Là những rủi ro xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện
đúng nghĩa vụ của mình gây thiệt hại tới quyền lợi của người khác.
Rủi ro đạo đức của nhà xuất khẩu là khi nhà xuất khẩu cố ý giao hàng
không phù hợp với hợp đồng nhưng lại xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo hoặc
nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ khống giả mạo (không giao hàng), ngân hàng
theo bộ hồ sơ hoàn hảo vẫn phải thanh toán cho người hưởng lợi, khi đó nhà
nhập khẩu phải gánh chịu mọi rủi ro. Ngoài ra, khi giá cả hàng hóa quốc tế tăng,
người bán sợ thiệt không muốn giao hàng cho người mua gây thiệt hại cho
người mua.
Rủi ro đạo đức của nhà nhập khẩu là khi nhà nhập khẩu có hành vi lừa
người bán xếp hàng lên tàu rồi trì hoãn, từ chối thanh toán bằng những thủ đoạn
nghiệp vụ bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giá người bán để thu lợi hoặc khi giá cả
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
15
Chuyên đề tốt nghiệp
hàng hóa nhập khẩu giảm người mua sợ thua lỗ trong kinh doanh cố tình không
nhận bộ chứng từ để lấy hàng.
Rủi ro đạo đức của nhà chuyên chở: người bán hàng giao hàng cho người
chuyên chở nhưng bị họ lừa đảo, nhận hàng lấy tiền rồi biến mất hoặc bán mất
hàng.
Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là thông tin không cân xứng. Sự tách
biệt giữa thanh toán theo hồ sơ và hàng hóa đã tạo ra khe hở cho một số tổ chức,
cá nhân tiến hành lừa đảo.
+ Rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị,
kinh tế, về chính sách quản lý ngoại hối-ngoại thương của một quốc gia khiến
cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền hàng, nhà nhập khẩu không nhận được
hàng hóa.
+ Rủi ro pháp lý
Rủi ro pháp lý xảy ra trong trường hợp có tranh chấp hay khiếu kiện giữa
các bên tham gia thanh toán. Khi đó vần đề đặt ra là toà án nước nào thụ lý và
xử lý? Dù trong hợp đồng ngoại thương đã đề cập đến song không phải là
không có những phức tạp khi mà không một bên nào hiểu rõ, thông thạo và nắm
vững luật pháp quốc gia của bên đối tác.
+ Rủi ro ngoại hối
Là rủi ro xảy ra khi việc thanh toán được ấn định bằng một loại ngoại tệ
nào đó. Khi tỷ giá biến động sẽ gây tổn thất cho một trong hai phía đối tác tham
gia thanh toán.
+ Rủi ro tác nghiệp
Là những rủi ro sai sót kỹ thuật do chính các bên tham gia gây nên, thể
hiện trong việc lập các hồ sơ chứng từ không hoàn hảo, không đáp ứng đầy đủ
các điều khoản về thanh toán theo qui định. Nguyên nhân là do trình độ ngoại
thương và TTQT của các bên tham gia còn yếu nên chưa nắm bắt được các yêu
cầu khắt khe của L/C.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
16

(1
)
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
Đây là phương thức thanh toán quan trọng và chủ yếu tại Ngân hàng
thương mại hiện nay. Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau như:
Letter of Credit, Credit, Document Credit. ở Việt Nam ngoài tên là tín dụng
chứng từ còn có các tên khác như L /C, thư tín dụng ...Trước đây, thư tín dụng
còn được gọi là tín dụng thương mại nhưng nay thì từ này không còn được dụng
nữa mà thông dụng nhất là “ tín dụng chứng từ” vì nó thể hiện đúng nhất ý
nghĩa tín dụng kèm chứng từ.
1.3.1. Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một Ngân
hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng
lợi số tiền thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong
phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.
1.3.2. Các bên tham gia
Qua khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ ta thấy phương thức
này gồm có bốn bên tham gia như sau
+ Người yêu cầu mở L/C (Applicant) : Là người mua, nhà nhập khẩu
hoặc là người do người mua ủy thác. Khi hợp đồng mua bán áp dụng phương
thức tín dụng chứng từ thì việc mở L/C của nguời mua là điều kiện cần đầu tiên
để người bán thực hiện hợp đồng.
+ Người hưởng lợi (Beneficiary) : Là nhà xuất khẩu hàng hóa, người
bán, hay người được người xuất khẩu chỉ định. Nhà xuất khẩu chỉ thực hiện
giao hàng khi nào biết được rằng người mở L/C đúng với nội dung hợp đồng
mua bán.
+ Ngân hàng mở L/C ( Issuing Bank) : Là ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, ngân hàng này cung cấp tín dụng cho nhà
nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên nhập khẩu và xuất khẩu thỏa
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
17

(1
)
Chuyên đề tốt nghiệp
thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng, nếu chưa yêu cầu trước thì
nhà nhập khẩu có quyền lựa chọn.
+ Ngân hàng thông báo L/C (Advising Bank ) Là ngân hàng phục vụ nhà
xuất khẩu, ở nước nhà xuất khẩu và thông báo cho nhà xuất khẩu biết là L/C đã
được mở. Đây có thể la ngân hàng chi nhánh hoặc ngân hàng đại lý của Ngân
hàng phát hành.
Trong thực tế vận dụng phương thức tín dụng chứng từ, tuỳ theo từng
điều kiện cụ thể còn có sự tham gia của một số Ngân hàng khác như: Ngân hàng
xác nhận (Congiring Bank), Ngân hàng chỉ định (Nominated Bank), Ngân hàng
hoàn trả (Reimbursing Bank)...
1.3.3. Quy trình nghiệp vụ thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
Sơ đồ 1 : Quy trình thanh toán L/C

1. Trên cơ sở hợp đồng thương mại, người nhập khẩu viết đơn yêu cầu Ngân
hàng phát hành mở L/C
2. Ngân hàng phát hành sẽ lập một L/C, thông báo L/C cho người xuất khẩu
thông qua ngân hàng thông báo
3. Ngân hàng thông báo có trách nhiệm kiểm tra tính chân thực của L/C, sau đó
tiến hành thông báo L/C cho nhà xuất khẩu
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
18
NH mở L/C NH thông báo L/C
Người nhập
khẩu
Người xuất khẩu
(8)
(4)
(3)
(9)

(1
)
(5)
(6)
(2)
(5)
L/C
(7)
(8)
Chuyên đề tốt nghiệp
4. Nhà xuất khẩu nhận và kiểm tra lại L/C, nếu chấp nhận thì tiến hành giao
hàng, nếu chưa chấp nhận thì yêu cầu bên mua sửa đổi lại L/C, sau khi chấp
nhận nội dung sửa đổi thì tiến hành giao hàng
5. Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo qui định của thư tín
dụng xuất trình chứng từ qua ngân hàng thông báo đòi tiền ngân hàng phát hành
L/C. Ngân hàng thông báo kiểm tra bộ chứng từ và chuyển cho ngân hàng phát
hành
6. Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ và thông báo cho người nhập
khẩu
7. Nhà nhập khẩu kiểm tra lần nữa, nếu thấy phù hợp thì chấp nhận thanh toán.
8. Ngân hàng phát hành chấp nhận thanh toán hoặc trả tiền cho người xuất khẩu
thông qua ngân hàng thông báo
9. Nhà nhập khẩu mua hoàn trả tiền cho ngân hàng phát hành, ngân hàng phát
hành giao bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu để đi nhận hàng
1.3.4. Nội dung chủ yếu của L/C
1.3.4.1. Khái niệm, đặc điểm, tính chất của L/C
a. Khái niệm L/C
Thư tín dụng là một văn kiện của ngân hàng được viết ra theo yêu cầu của
nhà nhập khẩu (người xin mở L/C) nhằm cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu
(người thụ hưởng) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điều
kiện người này thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong L/C
b. Đặc điểm của L/C
+ Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở
chứng từ, không dựa trên hàng hóa dịch vụ
+ L/C phải chỉ rõ là hủy ngang hay không hủy ngang, nếu không chỉ ra
như vậy nó sẽ được coi là không hủy ngang.
+ Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản và điều kiện
trong L/C nếu chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản qui định của L/C
hay các chứng từ mâu thuẫn nhau.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
19
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không quá 7
ngày làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác
định chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàng
phát hành không có quyền thông báo sai sót.
+ Ngân hàng không chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ không qui
định trong L/C.
+ Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ nó phải thông báo bằng
phương tiện truyền thống trước lúc đóng cửa ngày làm việc thứ 7
+ Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi
chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin.
c. Tính chất và ý nghĩa của L/C
+ L/C là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức tín dụng chứng
từ. Do đó nếu L/C hết thời hạn hiệu lực thì phương thức tín dụng chứng từ cũng
không còn ý nghĩa nữa
+ L/C là văn bản thể hiện sự cam kết của ngân hàng mỏ L/C đối với nhà
xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo điều khoản thanh toán của hợp
đồng mua bán ngoại thương. Do đó nó được soạn thảo trên cơ sở hợp đồng
ngoại thương đã được ký kết, tuy nhiên sau khi mở L/C lại hoàn toàn độc lập
với hợp đồng mua bán
+ L/C là cơ sở pháp lý chính của việc thanh toán, nó ràng buộc các bên
hữu quan tham gia vào phuơng thức thanh toán tín dụng chứng từ như : Nhà
nhập khẩu, nhà xuất khẩu, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo L/C …
+ Ngoài những ý nghĩa trên, nhà xuất khẩu còn sử dụng L/C để cụ thể
hóa, chi tiết hóa hoặc để bổ sung một cách đầy đủ hơn vào điều khoản của hợp
đồng và cũng có thế dùng L/C để đính chính, sửa chữa những nội dung đã ký
mà gây bất lợi cho nhà xuất khẩu
+ Trong trường hợp L/C không có ký kết hợp đồng, bên mua dựa vào
hóa đơn chào hàng của bên bán, tự mình xin mở L/C và được bên bán chấp
nhận thì L/C cũng được coi là một hợp đồng
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
20
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.4.2. Nội dung chủ yếu của L/C
a. Số hiệu, địa điểm và ngày mở L/C.
+ Số hiệu:
Mỗi thư tín dụng đều có số hiệu riêng của nó, nhằm tạo thuận tiện trong
việc trao đổi thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình giao dịch thanh
toán. Số hiệu này cũng được dùng để ghi vào các chứng từ liên quan trong bộ
chứng từ thanh toán .
+ Địa điểm mở L/C: Là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả cho
người xuất khẩu. Địa điểm này có ý nghĩa trong việc chọn luật áp dụng khi xảy
ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó
+ Ngày mở L/C: Là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mỏ
L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối
cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc
mở L/C có đụng hạn như đã qui định trong hợp đồng không.
b. Tên, địa chỉ của người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ.
Những người có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ nói chung
chia làm hai loại: một là các thương nhân, hai là các ngân hàng.
Các thương nhân chỉ bao gồm những người nhập khẩu, là người yêu cầu
mở L/C, người xuất khẩu là người hưởng lợi L/C.
Các ngân hàng tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có
ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân hàng trả tiền, ngân hàng xác
nhận...
c. Ngân hàng mở L/C (Opening Bank hay Issuing Bank)
Là ngân hàng thường được hai bên mua bán thoả thuận lựa chọn và qui
định trong hợp đồng, nếu chưa có sự qui định trước, người nhập khẩu có quyền
lựa chọn,
Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của ngân hàng này như sau:
+ Căn cứ vào đơn xin mở L/C của người nhập khẩu để phát hành L/C và
tìm cách thông báo L/C đó cùng với việc gửi bản gốc L/C cho người xuất khẩu.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
21
Chuyên đề tốt nghiệp
Thông thường, việc thông báo và gửi L/C cho người xuất khẩu phải thông
qua một ngân hàng đại lý của nó ở nước người xuất khẩu (trường hợp này ít
dùng).
+ Sửa đổi, bổ sung những yêu cầu của người xin mở L/C của người xuất
khẩu đối với L/C đã được mở nếu có sự đồng ý của họ.
+ Kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, nếu xét thấy các
chứng từ đó phù hợp với những điều qui định trong L/C và không mâu thuẫn
nhau thì trả tiền cho người xuất khẩu và đòi tiền lại người nhập khẩu, ngược lại
thì từ chối thanh toán. Khi kiểm tra chứng từ của người xuất khẩu gửi đến, ngân
hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra "bề ngoài" của chứng từ xem có phù hợp với
L/C hay không, chứ không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất pháp lí của
chứng từ, tính chất xác thực của chứng từ...Mọi sự tranh chấp về tính chất "bên
trong" của chứng từ là do người nhập khẩu và người xuất khẩu tự giải quyết.
+ Ngân hàng được miễn trách trong trường hợp ngân hàng rơi vào đúng
các bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, khởi nghĩa, lụt lội, động
đất, hoả hoạn... Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, ngân hàng cũng không chịu trách
nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi đến vào dịp đó, trừ khi đã có những
qui định dự phòng.
+ Mọi hậu quả sinh ra do lỗi của mình, ngân hàng mở L/C phải chịu
trách nhiệm. Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C từ 0,125%
đến 0,5% trị giá L/C.
d. Ngân hàng thông báo (Advising Bank)
Thường là ngân hàng đại lý của ngân hàng mở L/C ở nước người xuất
khẩu. Quyền lợi và nghĩa vụ chủ yếu của ngân hàng thông báo như sau:
+ Khi nhận được điện thông báo L/C của ngân hàng mở L/C, ngân hàng
này sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được của người xuất khẩu dưới
hình thức vân bản.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
22
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện
đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải các từ chuyên môn ra tiếng
địa phương. Nếu ngân hàng thông báo sai những nội dung điện đã nhận được thì
ngân hàng phải chịu trách nhiệm. Chính vì vậy, trong cuối bức thư thông báo
L/C, bao giờ cũng có câu "Please note we assume no responsibility for any error
and/or omission in the transmision and/or translation of the cable", tức là "Xin
lưu ý, chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ một lỗi lầm hay thiếu sót
trong chuyển và dịch bức điện này".
+ Khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu chuyển tới, ngân hàng
phải chuyển ngay và nguyên vẹn bộ chứng từ đó tới ngânhàng mở L/C.
Ngân hàng không chịu trách nhiệm về những hậu quả phát sinh ra do sự
chậm trễ và/hoặc mất mát chứng từ trên đường đi đến ngân hàng mở L/C, miễn
là chứng minh rằng mình đã gửi nguyên vẹn và đúng hạn bộ chứng từ đó qua
bưu điện.
e. Ngân hàng trả tiền (Negotiating Bank hoặc Paying Bank)
Là ngân hàng mở L/C và có thể là một ngân hàng khác do ngân hàng mở
L/C uỷ nhiệm.
Nếu địa điểm trả tiền qui định tại nước người xuất khẩu thì ngân hàng trả
tiền thường là ngân hàng thông báo. Trách nhiệm của ngân hàng trả tiền giống
như ngân hàng mở L/C khi nhận được bộ chứng từ của người xuất khẩu gửi
đến.
f. Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank)
Là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của
nó. Ngân hàng xác nhận thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường
tín dụng và tài chính quốc tế. Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một ngân hàng
khác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của ngân hàng mở L/C. Muốn xác
nhận, ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí (confirming charges) rất cao và đôi
khi còn phải đặt trước (cash cover), mức đặt tiền trước có thể đạt tới 100% trị
giá của thư tín dụng (full cash cover).
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
23
Chuyên đề tốt nghiệp
g. Số tiền của thư tín dụng
Số tiền của L/C vừa được ghi bằng số, vừa được ghi bằng chữ và thống
nhất với nhau. Không thể chấp nhận một thư tín dụng có số tiền bằng số và chữ
mâu thuẫn nhau.
Tên của đơn vị tiền tệ phải rõ ràng, vì cùng một tên gọi là đồng Đôla
nhưng trên thế giới có nhiều loại đồng Đôla khác nhau như: đô la Mỹ, đô la úc,
đô la Hồng Kông...
Theo bản "Qui tắc và cách thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ
1993" qui định thì những từ "khoảng chừng" (about), "độ khoảng" (circa) hoặc
những từ ngữ tương tự được dùng để chỉ mức độ số tiền của thư tín dụng nên
hiểu là cho phép xê dịch hơn kém không quá 10% của tổng số tiền đó.
Ngoài ra, bản qui tắc còn qui định "trừ khi thư tín dụng qui định số lượng
hàng giao không được hơn kém, còn lại thì sẽ được phép có một khoản dung sai
trong phạm vi hơn kém 5%, miễn là tổng số tiền chi trả luôn luôn không được
vượt quá số tiền của thư tín dụng. Không được áp dụng dung sai này khi thư tín
dụng qui định số lượng tính bằng đơn vị bao, kiện đã được nói rõ hoặc tính bằng
đơn vị chiếc".
h. Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong thư tín
dụng.
- Thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là thời hạn mà ngân hàng mở L/C cam
kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu xuất trình bộ chứng từ
trong thời hạn đó và phù hợp với những điều qui định trong L/C. Thời hạn
hiệulực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C (date of issue) đến ngày hết hiệu
lực L/C (expiry date).
Cần phải chú ý là, có nước qui định rằng nếu thời hạn hiệu lực L/C dưới 3
tháng, thì phí thông báo L/C chỉ phải chịu là 0,1%; còn trên 3 tháng đến 6 tháng
thì là 0,2%. Vì vậy cần phải xác định một thời hạn hiệu lực của L/C cho hợp lý,
có nghĩa là nó vừa tránh đọng vốn cho người nhập khẩu vừa không gây khó
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
24
Chuyên đề tốt nghiệp
khăn cho việc xuất trình chứng từ của người nhập khẩu. Việc xác định này cần
thoả mãn các nguyên tắc sau đây:
+ Ngày giao hàng phải nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C và không
được trùng với ngày hết hạn hiệu lực của L/C.
+ Ngày mở L/C phải trước ngày giao hàng một thời gian hợp lí, không
được trùng với ngày giao hàng. Thời gian hợp lý này được tính tối thiểu bằng
tổng số của từng ngày cần phải có để thông báo mở L/C, số ngày lưu L/C ở
ngân hàng thông báo, số ngày chuẩn bị hàng để giao cho người nhập. Nếu hàng
xuất là mặt hàng phức tạp, phải điều động từ xa ra cảng và phải tái chế biến lại
trước khi giao, nếu thời điểm giao hàng xuất là hàng sản phẩm công nghiệp thì
không cần thiết đòi hỏi số ngày chuẩn bị quá lớn.
+ Ngày hết hạn hiệu lực L/C phải sau ngày giao hàng một thời gian hợp
lý. Thời gian này bao gồm số ngày chuyển chứng từ nơi giao hàng đến có quan
của người xuất khẩu, số ngày lập bộ chứng từ, ố ngày vận chuyển chứng đến
ngân hàng mở L/C (hay ngân hàng trả tiền), số ngày lưu giữ chứng từ tại ngân
hàng thông báo và 7 ngày làm việc để ngân hàng thể hiện ý chí chấp nhận hay
từ chối trả tiền.
- Thời hạn trả tiền của L/C (date of payment) là thời hạn trả tiền ngay hay
trả tiền sau. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào qui định của hợp đồng. Nếu việc
đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được qui định ở yêu cầu ký phát hối
phiếu.
Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C, nếu như trả
tiền ngay hoặc có thề là nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C, nếu như trả tiền
có ký hạn. Song điều quan trọng là, những hối phiếu có kỳ hạn phải đựơc xuất
trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C.
- Thời hạn giao hàng (date of delivery) cũng được ghi trong L/C và do
hợp đồng mua bán qui định như đã phân tích ở trên, thời hạn giao hàng có quan
hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C.
Hoàng Trường Mạnh Lớp: TCDN 46B
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×