Tải bản đầy đủ

Thực trạng và những giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở Phổ Yên Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện phú lương tỉnh thái nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
----------------------------------------------------


Vƣơng Thị Vân




VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN







LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ














Thái nguyên, năm 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
------------------------------------------




VƢƠNG THỊ VÂN



VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60- 31- 10




L
L
U
U


N
N


V
V
Ă
Ă
N
N


T
T
H
H


C
C


S
S




K
K
I
I
N
N
H
H


T
T







Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S. ĐỖ ANH TÀI





THÁI NGUYÊN - 2009


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3

LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn




Vƣơng Thị Vân












Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4

LỜI CẢM ƠN

Sau hơn 3 năm phấn đấu vƣợt qua nhiều khó khăn để học tập với sự
ủng hộ động viên của gia đình, bạn bè và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiện
thuận lợi của đồng chí, đồng nghiệp ở cơ quan, của nhà trƣờng và sự dạy bảo
tận tình của thầy cô, tôi đã hoàn thành chƣơng trình cao học kinh tế nông
nghiệp và luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Sau
đại học, ban chủ nhiệm lớp cùng các thầy cô Trƣờng đại học kinh tế và quản
trị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn, tạo điều kiện về
mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS. Đỗ Anh Tài,
đã hƣớng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành,
đoàn thể gồm: Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên, Huyện uỷ Phú Lƣơng, UBND
huyện Phú Lƣơng, Ban Dân vận Huyện uỷ Phú Lƣơng, Phòng LĐ-XH huyện
Phú Lƣơng, Phòng Thống kê huyện Phú Lƣơng, Các tổ chức hội đoàn thể
huyện Phú Lƣơng, Ngân hàng NN&PTNT huyện Phú Lƣơng, UBND và hội
phụ nữ các xã Cổ Lũng, Ôn Lƣơng, Yên Trạch.
Tuy đã có nhiều cố gắng nhƣng luận văn này không trách khỏi những
thiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp chỉ bảo, giúp
đỡ để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2009
Tác giả luận văn



Vƣơng Thị Vân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5

MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ, đồ thị
Phần Mở đầu 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
2.1. Mục tiêu chung 3
2.2. Mục đích cụ thể 3
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài 4
5. Bố cục luận văn 4
Chƣơng 1. Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu 5
1.1. Cơ sở khoa học 5
1.1.1. Giới tính và Giới 5
1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn 8
1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 10
1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 14
1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 21
1.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 28
1.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6

1.2.2. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu 29
1.2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu 30
1.2.4. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích số liệu 31
1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 31
Chƣơng 2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát
triển kinh tế huyện Phú Lƣơng

32
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái
Nguyên

32
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 32
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 37
2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế
huyện Phú Lƣơng

45
2.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn
huyện

45
2.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu 54
2.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò
phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế

69
Chƣơng 3. Quan điểm, phƣơng hƣớng và những giải pháp nhằm
nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế
hộ huyện Phú Lƣơng


74
3.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ 74
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ
nông thôn trong phát triển kinh tế

75
Phần Kết luận và kiến nghị 82
Tài liệu tham khảo 86
Phụ lục 90



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7

DANH MỤC CÁC BẢNG


Trang
2.1 Diện tích đất phân theo loại đất và theo xã, thị trấn của huyện
Phú Lƣơng năm 2008

34
2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Phú Lƣơng giai đoạn
2006- 2008

36
2.3 Tình hình dân số huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006-2008 38
2.4 Lao động huyện Phú Lƣơng chia theo giới tính và khu vực giai
đoạn 2006-2008

40
2.5 Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của
huyện từ năm 2006-2008

41
2.6 Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2006-2008 45
2.7 Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 46
2.8
Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2006-2011
48
2.9 Phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005-2010 51
2.10 Phân loại hộ khu vực nông thôn huyện Phú Lƣơng theo chuẩn
mới và mức sống dân cƣ giai đoạn 2006- 2008

53
2.11
Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể
tại các xã vùng nghiên cứu

54
2.12 Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu 55
2.13 Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ 56
2.14 Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các
điểm nghiên cứu năm 2008

58
2.15 Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 cụm xã vùng
nghiên cứu

59
2.16 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu 63
2.17 Tỷ lệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm
nghiên cứu

64
2.18 Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 65
2.19 Tình quản lý tài chính của hộ tại các vùng nghiên cứu 66
2.20 Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và
công cuộc phát triển

72


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ


Trang
2.1
Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lƣơng năm 2008
35
2.2
Tốc độ tăng dân số huyện Phú Lƣơng theo giới tính giai đoạn
2006- 2008

39
2.3
Cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng năm 2008
43
2.4 Biến động cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng trong giai đoạn
2006-2008

43
2.5
Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008
47
2.6
Trình độ văn hoá của lao động nữ huyện Phú Lƣơng năm 2008
49
2.7 Phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp nhiệm kỳ 2004- 2009 52
2.8
Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu
trong một năm

62
2.9
Trình độ văn hoá của nam, nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu
67
2.10
Tỷ lệ ngƣời ốm trong các hộ đƣợc chăm sóc, chữa trị tại nhà ở
các vùng nghiên cứu

68
2.11
Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình ở vùng
nghiên cứu

69




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những ngƣời lao động
trong xã hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho
xã hội, làm phong phú cuộc sống con ngƣời. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của
mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động
vật chất, phụ nữ là một lực lƣợng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống
con ngƣời. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra
con ngƣời để duy trì và phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần,
phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại. Nền văn hoá dân gian của
bất cứ nƣớc nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của
đông đảo phụ nữ [31].
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nƣớc, họ tham gia vào
tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và
càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốt
chặng đƣờng đấu tranh dựng nƣớc, giữ nƣớc và xây dựng đất nƣớc, lịch sử
Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộc
đổi mới đất nƣớc của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần
yêu nƣớc, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vƣơn
lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi
lĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là ngƣời con dâu, ngƣời vợ, ngƣời
mẹ, ngƣời thầy của các con, ngƣời thầy thuốc của gia đình.
Đảng và Nhà nƣớc ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ
trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…Ở khu vực nông thôn,
cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2

phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phƣơng làm thay đổi diện
mạo khu vực nông thôn Việt Nam.
Phú Lƣơng là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với 50,5%
dân số là phụ nữ [41]. Lực lƣợng này đã và đang có những đóng góp to lớn
vào sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn huyện. Tuy nhiên, sự đóng góp của
phụ nữ lại chƣa đƣợc ghi nhận một cách xứng đáng, chƣa tƣơng xứng với vị
trí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đời
sống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời phụ nữ phải "nặng
gánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làm
vợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có nhƣ mọi ngƣời, sức
khoẻ lại hạn chế... Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhƣng
quyền lợi về mọi mặt của họ lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức.
Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ
nữ, nhiều câu hỏi đƣợc đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng
ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay nhƣ thế
nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện
nay ra sao? giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao
năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn
miền núi huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên trong việc phát triển kinh tế
đƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính
khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lƣợng này, qua đó thúc đẩy sự
phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hƣớng đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nhƣ mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra.
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những
tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá
trình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3

“Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn
huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ
nông thôn, đƣa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy
tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống
gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Phú Lƣơng.
2.2. Mục đích cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi.
- Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ nông thôn tại huyện Phú Lƣơng.
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ
trong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi
trên địa bàn Phú Lƣơng.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn
huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế nông thôn.
- Về không gian nghiên cứu: đề tài đƣợc thực hiện tại một số cơ quan,
tổ chức kinh tế chính trị xã hội, một số nhóm hộ sản xuất nông, lâm nghiệp,
dịch vụ trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Lƣơng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4

- Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ đƣợc phân
tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị kinh tế
xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2008. Các số
liệu điều tra thực hiện trong năm 2008.
4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực,
là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tham mƣu giúp
Ban chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lƣơng xây dựng giải pháp thực hiện
chƣơng trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhằm năng cao
vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả Đề án
phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2010 - 2015.
5. BỐ CỤC LUẬN VĂN
Luận văn gồm 2 phần và 3 chƣơng
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông
thôn huyện Phú Lƣơng.
Chương 3: Quan điểm, định hƣớng và những giải pháp nhằm nâng cao
vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lƣơng.
Phần kết luận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
5

CHƢƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC
1.1.1. Giới tính và Giới
1.1.1.1. Khái niệm Giới tính và Giới
*Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang
tính toàn cầu và không thay đổi [44].
Các đặc trƣng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự
nhiên, di truyền. Ví dụ, ngƣời nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì thuộc
về nữ giới, ngƣời nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về nam
giới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học nhƣ tạo ra trứng, mang thai, sinh
con và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng.
Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới.
*Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ em
trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, đƣợc hình thành và khác nhau
ngay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian.
Sự khác biệt này đƣợc nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm,
nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [44].
Khái niệm về "Giới" đƣợc xuất hiện ban đầu là các nƣớc nói tiếng Anh,
vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX... Ở Việt Nam, khái niệm này mới
xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80.
“Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến
vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới"
đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi ích
giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
6

"Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng nhƣ tƣơng quan về địa vị trong xã
hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tƣợng bất biến mà liên tục
thay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới"
là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong
quan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm
bảo công bằng trong xã hội.
1.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới:
* Đặc điểm về giới:
- Không tự nhiên mà có
- Học đƣợc từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi đƣợc
* Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ đƣợc đối xử tuỳ theo nó
là trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,
bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ đƣợc dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo
giới tính của mình.
- Trong nhà trƣờng, các thầy cô giáo cũng định hƣớng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh. Học sinh nam đƣợc hƣớng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ đƣợc hƣớng theo các ngành nhƣ
may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ.
* Sự khác biệt về giới:
Phụ nữ đƣợc xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là
thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và
cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
7

Nam giới đƣợc coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trƣng này cho
phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng
buộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau
để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ
khác nhau để tham gia vào các chƣơng trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm
bắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và
cơ hội đƣợc học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,
ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tƣ tƣởng,
phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau.
1.1.1.3. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát
từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhu
cầu này đƣợc đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1].
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu đƣợc hình thành từ những điều
kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong
phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại
của con ngƣời. Khác với nhu cầu chiến lƣợc, chúng đƣợc chính phụ nữ đƣa ra
từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy nhu cầu
giới thực tế thƣờng là sự hƣởng ứng đối với sự cần thiết đƣợc nhận thức ngay
do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể.
*Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của
phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Những
lợi ích này khi đƣợc đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo
hƣớng bình đẳng [1].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
8

* Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới đƣợc coi trọng nhƣ nhau, cùng
đƣợc công nhận và có vị thế bình đẳng [1].
Nam giới và phụ nữ đƣợc bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng.
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hƣởng lợi trong quá trình phát triển.
- Quyền tự do và chất lƣợng cuộc sống.
1.1.1.4. Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: đƣợc thể hiện trong lao động sản xuất dƣới mọi hình
thức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội.
- Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì
nòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất
sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lƣợng lao động cho
hiện tại và tƣơng lai nhƣ: nuôi dạy con cái, nuôi dƣỡng các thành viên trong
gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu nhƣ của ngƣời phụ nữ.
- Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở
mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện
các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng.
1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn
1.1.2.1. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế
*Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự
tăng thêm về quy mô sản lƣợng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm
nâng cao chất lƣợng cuộc sống [19].
Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền
kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về
quy mô sản lƣợng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [12].


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
9

1.1.2.2.Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của một
nhà nƣớc hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trƣờng
tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và
dân cƣ chủ yếu làm nông nghiệp [29].
1.1.2.4.Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tế
nông thôn
* Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thƣờng đƣợc nói đến khi định
nghĩa khái niệm hộ gia đình:
- Có quan hệ huyết thống và hôn nhân
- Cùng cƣ trú
- Có cơ sở kinh tế chung [55].
Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộ
đƣợc hiểu là: tất cả những ngƣời cùng sống trong một mái nhà, bao gồm
những ngƣời có cùng huyết tộc và những ngƣời làm công [55].
Về phƣơng diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng
hộ là những ngƣời cùng sống chung dƣới một mái nhà, cùng ăn chung và có
chung một ngân quỹ [55].
Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những ngƣời có quan hệ hôn
nhân, quan hệ huyết thống. Vì vậy khái niệm hộ thƣờng đƣợc hiểu đồng nghĩa
với gia đình, nhiều khi đƣợc gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình.
* Kinh tế hộ nông dân:
Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thu
hoạch các phƣơng tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong
sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhƣng về cơ bản
đƣợc đặc trƣng bằng việc tham gia một phần trong thị trƣờng, hoạt động với
một trình độ không hoàn chỉnh cao [55].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
10

Kinh tế hộ nông dân đƣợc phân biệt với các hình thức kinh tế khác
trong nền kinh tế thị trƣờng bởi các đặc điểm sau:
- Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những ngƣời sản xuất
có tƣ liệu sản xuất chủ yếu là đất đai.
- Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tự
đảm nhận. Sức lao động của các thành viên trong hộ không đƣợc xem là lao
động dƣới hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lƣơng.
- Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ.
Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhu
cầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dƣ thừa mới bán ra thị trƣờng.
1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
1.1.3.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả
năng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số
giờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2
trong tổng sản lƣợng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc
khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành công
nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng đƣợc nâng cao [56].
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trƣớc cho biết: Phụ nữ
là ngƣời tạo ra phần lớn lƣơng thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đình
trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào
thu nhập của lao động nữ [5]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất
nhiều nƣớc trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế
về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hội
thấp. Trong số hơn 1,3 tỷ ngƣời trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì
có đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về
mang thai, sinh đẻ…

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
11

Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lực
lƣợng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy
Nhà nƣớc. Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Á
và là một trong những nƣớc có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới);
tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% [58].
Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ lao
động nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chƣa đạt và có xu hƣớng giảm
dần. Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vào
Quốc hội giai đoạn 1975 – 1976 là 32%; 1976 – 1981 là 27%; 1992 – 1997
chỉ còn 18,5%; 2002 - 2007 tăng lên là 27,31% [58].
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và
xã hội. Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ đƣợc
thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và
phát triển lâu dài của đất nƣớc. Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong
các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội. Điều đó cho thấy phụ nữ
ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội.
1.1.3.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là ngƣời đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng
sản xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội
nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữ
trong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện nhƣ sau:
- Trong lao động sản xuất: phụ nữ là ngƣời làm ra phần lớn lƣơng thực,
thực phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu
dựa vào kết quả làm việc của phụ nữ.
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia
đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng ngƣời vợ, ngƣời mẹ. Họ phải làm hầu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
12

hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng
đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội.
- Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt động
cộng đồng tại xóm, thôn bản.
Nhƣ vậy, dù đƣợc thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và
những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,
trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bƣớc tiến của nhân loại.
Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần đƣợc chia sẻ,
thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có
những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình.
1.1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát
triển kinh tế nông thôn
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số
nước Á Đông: phụ nữ trƣớc hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳ
công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm
ngự trị ở nƣớc ta từ nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng
nam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến
của họ cho xã hội và cho gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dƣỡng con
nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai ngƣời phụ nữ. Đây là trở ngại
lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động
chính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng
động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội.
Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào
quá trình phát triển kinh tế [9].
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ
còn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phƣơng tiện thông tin
nghe nhìn và sách báo đến với ngƣời dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
13

lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt
còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, ngƣời phụ nữ
dƣờng nhƣ ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hƣởng thụ văn hoá tinh
thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn
thời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹ
thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [43]. Theo
thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu
ngƣời bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em
không đƣợc đi học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thống
kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90%
tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nƣớc; chỉ có 0,63 % công nhân
kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ lao
động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là
0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [22]. Điều đó cho thấy trình độ học vấn và
chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới.
Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp
không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm
kiếm thị trƣờng, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao
động của họ thấp.
*Yếu tố về sức khoẻ: với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa
phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú
bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức
khoẻ của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hƣởng đến khả năng lao
động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng nhƣ trong việc phát
triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
14

* Khả năng tiếp nhận thông tin: do phụ nữ phải đảm nhận một khối
lƣợng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động
cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh
ngƣời dân còn chƣa hề đƣợc tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải
thông tin khác.
* Các yếu tố chủ quan: một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó
là nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch
lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó.
Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là
việc của phụ nữ. Họ tỏ ra không hài lòng về ngƣời đàn ông thạo việc bếp núc,
nội trợ. Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc
thêm trách nhiệm cho mình. Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất
càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần.
Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong
sự phát triển của nhân loại. Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ
của họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động
không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn
quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng. Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình
đẳng đối với nữ trên toàn thế giới. Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao
động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại.
1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.4.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trên
thế giới Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dƣơng, trung bình một tuần phụ
nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn.
Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ đƣợc trả công thấp hơn nam giới cho
cùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu
nhập của nam giới [7].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
15

* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ
tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thống
kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động
so với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ
thành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động nhiều
nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng,
gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lƣợng lao động,
cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông
thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lƣợng lao động [9].
- Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động cao
nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm
tuổi cao hơn. Giống nhƣ ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ
tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lƣợng lao động, con số này cao gấp 2
lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [9].
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: nhìn chung, trình độ chuyên môn
kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nƣớc đang phát triển còn rất thấp. Ở
các nƣớc đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không đƣợc
học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai.
Vì ít có điều kiện học hành nên những ngƣời phụ nữ này không có điều kiện
tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn
nuôi theo phƣơng thức tiên tiến, những kiến thức họ có đƣợc chủ yếu là do tự
học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những ngƣời thân của mình.
Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm đƣợc truyền đạt theo phƣơng pháp
này thƣờng ít khi làm thay đổi đƣợc mô hình, cách thức sản xuất của họ [9].
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ở
hầu hết các nƣớc đang phát triển. Điều đó trƣớc hết bắt nguồn từ tình trạng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
16

phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phần
quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã đƣợc hình
thành ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng
cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không đƣợc ghi nhận
một cách xứng đáng.
Đấu tranh để đạt đƣợc sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã
hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó
khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và
lạc hậu. Đất nƣớc ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tƣ tƣởng “Trọng
nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng,
nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ,
ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn
gặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dƣỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có
nơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động
nữ… Nhƣ vậy, mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả nhất định nhƣng vấn đề
bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn
đấu để đạt đƣợc mục tiêu bình đẳng thật sự.
1.1.4.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ
trong phát triển kinh tế nông thôn
* Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nƣớc có nền công nghiệp chƣa
phát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số ngƣời trong độ tuổi lao động
sống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhƣng họ là nhóm ngƣời
yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không đƣợc nhƣ đội ngũ công nhân, trí
thức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức. Nhƣng họ lại là lực
lƣợng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhƣ:
cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo… [8].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
17

Hiện tƣợng tăng tƣơng đối của lực lƣợng lao động nữ nông thôn những
năm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do sự gia tăng tự nhiên số ngƣời trong độ tuổi lao động, hiện nay
hàng năm nƣớc ta có khoảng 80 - 90 vạn ngƣời bƣớc vào tuổi lao động, trong
đó: lao động nữ chiếm 55% [10].
- Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổ
chức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệp
bị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc.
- Do sự tan rã của thị trƣờng Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90,
khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồn
tiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nông
nghiệp.
- Ngoài ra, trong cơ chế thị trƣờng, do sức cạnh tranh yếu nên nhiều
hợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạng
phá sản. Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xã
thủ công này phải trở về nghề nông.
*Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinh
tế- xã hội: Dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóng
phụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Quyền bình đẳng của phụ nữ đã đƣợc ghi trong Điều 36 Hiến pháp Việt
Nam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã đƣợc sửa đổi và bổ sung năm 2002)
một lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt
chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nƣớc và xã hội tạo điều kiện để phụ
nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong
xã hội". Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao động
sáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×