Tải bản đầy đủ

LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC
LẬP VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
1.1 Khái quát chung về kiểm toán và kiểm toán độc lập
1.1.1 Định nghĩa kiểm toán
Kiểm toán là một hoạt động có từ rất lâu đời kể từ thời mà các thông tin được phê
chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai - Thuật ngữ kiểm toán (audit)
theo tiếng Latinh là “auditur” có nghĩa là nghe cũng từ đó ra đời.
Hoạt động kiểm toán gắn liền với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của loài
người.Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hoạt động kiểm toán phát triển
theo đó để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.Những lĩnh vực kiểm toán và loại
hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, đặc biệt là kiểm toán độc lập -
một hoạt động rất phát triển trong nền kinh tế thị thường hiện nay.Để tìm hiểu về
kiểm toán độc lập, trước tiên ta cần hiểu về định nghĩa Kiểm toán.Có rất nhiều
định nghĩa khác nhau về kiểm toán, nhưng định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là:
“Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được
kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với
các chuẩn mực kiểm toán được thực hiện bởi các kiểm toán viên có đủ năng lực và
độc lập”( Auditing: An Integrated approach, A.A.Arens & J.K.Loebbecker)
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu thành kiểm toán
Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập
Báo cáo kiểm toán

Thu thập và đánh giá các BCKT
Các chuẩn mực đã được thiết lập
Thông tin được kiểm
tra

Kiểm toán
Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu:
Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập để có thể thực hiện cuộc kiểm toán
đảm bảo chất lượng.Năng lực là trình độ nghiệp vụ được hoàn thành qua đào tạo và
tích luỹ kinh nghiệm giúp cho Kiểm toán viên(KTV) có khả năng xét đoán công
việc trong từng trường hợp cụ thể. Độc lập là yêu cầu thiết yếu để duy trì sự khách
quan của KTV và tạo được sự tin cậy của người sử dụng kết quả kế toán.
Bằng chứng kiểm toán là sản phẩm của hoạt động kiểm toán, là cơ sở
pháp lý cho kết luận kiểm toán và cơ sở tạo niềm tin cho những người quan
tâm.
Thông tin được kiểm tra có thể là báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tờ
khai nộp thuế, quyết toán ngân sách của cơ quan Nhà nước... Kết quả kiểm toán sẻ
giúp cho người sử dụng đánh giá sự tin cậy của các thông tin này.
Các chuẩn mực được thiết lập là cơ sở để đánh giá các thông tin được kiểm
tra, chúng thay đổi tuỳ theo các thông tin được kiểm tra. Ví dụ, báo cáo tài chính
của đơn vị, KTV dựa vào chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành; còn đối với tờ
khai nộp thuế thì chuẩn mực để đánh giá se là luật thuế.
Báo cáo kiểm toán là văn bản trình báy ý kiến của KTV về sự phù hợp giửa
thông tin được kiểm tra va chuẩn mực đã được thiết lập.Nội dung và hình thức báo
cáo phụ thuộc vào mục đích của từng loại kiểm toán. Thí dụ khi kiểm toán báo cáo
tài chính của một doanh nghiệp, KTV phải nêu được là báo cáo tài chính có được
trình bày phù hợp với các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành và phản ánh
trung thực, hợp lý tình hình tài chinh, kết quả hoạt động và lưu chuyển tiền tệ.
1.1.2 Kiểm toán độc lập - Lịch sử hình thành kiểm toán độc lập
Nhu cầu về thông tin nói chung là tất yếu đối vối con người, xét trên góc độ
cá nhân cũng như tổ chức.Các thông tin từ chính các đơn vị hoạt động được cung
cấp cho người có nhu cầu sử dụng thông tin thường thông qua các báo cáo hay văn
bản thông báo.Có rất nhiều lý do khách quan và chủ quan tác động đến nội dung và
độ tin cậy của các thông báo này và vì vậy có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến
quyết định của người sử dụng các thông tin đó làm cơ sở.Ví dụ: các chủ doanh
nghiệp tìm cách che dấu bớt lỗ hoặc khuyếch trương hiệu quả kinh doanh, phóng
đại khả năng tài chính. Thông tin của đơn vị cũng có thể không đảm bảo trung
thực, hợp lý nếu như quá trình nhân viên chuyên môn thực hiện công việc không
đúng quy định, không đầy đủ các thủ tục, hay dộ trình đọ hạn chế, do thiếu cẩn
trọng,…Bởi vậy, cần phải có một bên thứ ba, độc lập, khách quan có kỹ năng nghề
nghiệp, địa vị và trách nghiệm pháp lý, kiểm tra và đưa ra lời kết luận là các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp lập ra có hợp thực không, có trung thực và hợp lý
hay không.Đó chính là công việc của các KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm
toán chuyên nghiệp.Luật pháp nhiều nước đã khẳng định rằng, chỉ những báo cáo
tài chính đã được xem xét và có chữ ký xác nhận của KTV độc lập mới được coi là
hợp pháp, làm cơ sở cho Nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa
ra quyết định kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp được kiểm toán.
Trong lịch sử kinh tế - xã hội, khi nền kinh tế phát triển mạnh tạo nên sự tách
biệt rõ rệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, nhu cầu về thẩm định thông
tin do người sử dụng tài nguyên trở nên cấp thiết.
Sự phá sản của hàng loạt tổ chức tài chính, tín dụng lớn ở Bắc Mỹ và Tây Âu
những năm 30 của thế kỷ XX đã bộc lộ rõ sự hạn chế và yếu kém trong chức năng
tự kiểm tra của kế toán và cũng đòi hỏi có một thể thức mới đáp ứng yêu cầu quản
lý cao hơn và thích hợp hơn; kiểm tra ngoài kế toán.
Cần thấy rõ một thực tế hiển nhiên là: sự tách biệt giữa thực trạng hoạt động
tài chính (thông tin tài chính phát ra) với sự ghi nhận, phản ánh những thông tin
này do kế toán thực hiện (thông tin tài chính do kế toán thu nhận, phản ánh).
Nguyên nhân là những hạn chế của các chính sách kế toán; sự mâu thuẫn giữa tính
đa dạng, phong phú và thường xuyên của các sự kiện kinh tế với sự giới hạn khó
tránh khỏi của trình độ, phương tiện... thu nhận, xử lý và phản ánh các sự kiện kinh
tế. Những thông tin đã được kế toán thu nhận và phản ánh liệu đã phản ánh trung
thực hay không. Ngoài ra, còn một lượng thông tin chưa được ghi nhận trong kế
toán nhưng lại rẩt cần cho sự xác minh thực trạng tài chính, do đó cũng cần được
kiểm tra.Đây là những nguyên nhân đòi hỏi ra đời và hoạt động của tổ chức kiểm
toán độc lập. Đến nay, hoạt động kiểm toán độc lập phát triển rất nhanh chóng và
mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Bốn công ty
kiểm toán hàng đầu thế giới hiện nay là:
- KPMG Peat Marwich (KPMG)
- Ernst & Young (E & Y)
- Deloitte Touch Tohmatsu (DTT)
- Price Waterhouse Cooper
Để chỉ đạo các tổ chức kiểm toán độc lập trên khắp thế giới hoạt động theo
đúng tôn chỉ, mục đích nghề nghiệp, đã hình thành các tổ chức quốc tế là “Liên
đoàn Kế toán quốc tế - (IFAC).Hiệp hội kế toán chuyên nghiệp” (ACCA) và Uỷ
ban Thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC). Liên đoàn Kế toán quốc tế (IAFC) là tổ
chức toàn cầu, được thành lập ngày 7/10/1977 theo sự thoả thuận của 63 tổ chức kế
toán chuyên nghiệp đại diện cho 49 nước. Ngày nay, IFACđã có 100 tổ chức thành
viên của 78 nước, trụ sở chính tại New York, với 106 chi nhánh và gần 1.000.000
hội viên.Mục đích của IFACđược ghi trong hiến chương của mình là “Phát triển và
tăng cường sự phối hợp nghiệp vụ kế toán và kiểm toán độc lập trên toàn thế giới
theo các tiêu chuẩn hài hòa”. Trong tổ chức của IFAC có “Hiệp hội Kế toán chuyên
nghiệp ACCA” để ban hành và chỉ đạo áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế phổ
biến. Còn Uỷ ban Thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) là Uỷ ban thường trực của
IFAC, được IFAC trao cho các quyền hạn và trách nhiệm đặc biệt, ban hành các
nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế và các dịch vụ có liên quan.Các thành viên
của IAPC do các tổ chức thành viên của các nước có chân trong IFAC chỉ định.
Ở nước ta, trước năm 1975, ở thành phố Sài Gòn đã có văn phòng kiểm toán
của các công ty quốc tế (Price Waterhouse..).Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của nhà nước, nhu cầu kiểm toán ở các đơn vị có vốn đầu tư
nước ngoài theo Luật đầu tư nước ngoài, các chương trình tín dụng, phát triển, viện
trợ quốc tế là khách quan và ngày càng tăng.Sự phát triển nhanh chóng của các
doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, ngân hàng tư
nhân, sự xuất hiện thị trường chứng khoán.. và xu hướng cổ phần hoá một số
doanh nghiệp Nhà nước cũng đòi hỏi phải có dịch vụ kiểm toán độc lập. Để đáp
ưng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế, tháng 5/1991, công ty Kiểm toán Việt
Nam (Vietnam Auditing Company VACO) đã được thành lập theo giấy phêp số
957-PPLT của Hội đòng Bộ trưởng (nay là chính phủ) và Quyết định 165/TC-QĐ-
TCCB của Bộ trưởng Bộ tài chính.Sự ra đời và hoạt động có hiệu quả của VACO
đánh dấu sự mở đầu tốt đẹp của dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Cho đến
nay, đã xuất hiện thêm nhiều công ty Việt Nam, tiêu biểu như: Công ty TNHH Tư
vấn và kiểm toán(A&C),Công ty TNHH Tư vấn và kiểm toán Sài Gòn(AFC)…Các
công ty 100% vốn nước ngoài gồm: Công ty TNHH Ernst and Young Việt
Nam(E&Y), công ty TNHH KPMG Peat Marwick Việt Nam (KPMG), công ty
TNHH Warterhouse Cooper Việt Nam(PWC),…
1.1.3 Kiểm toán viên độc lập
a.Khải niệm : Người thực hiện công việc kiểm toán được gọi chung là Kiểm
toán viên.Thông thường, kiểm toán viên hành nghề thuộc doanh nghiệp kiểm toán
được gọi là Kiểm toán viên độc lập.Danh xưng kiểm toán viên độc lập (gọi tắt là
kiểm toán viên) ở từng quốc gia có thể khác nhau.Ví dụ, ở các nước như Mỹ,
Canada, Trung Quốc, kiểm toán viên được gọi là “kế toán viên công chứng”
(Certifed public Accountant – CPA); ở Anh, Scotland gọi là “giám thị viên kế
toán” ( Chartersd Accoutant-CA),...
b.Tiêu chuẩn của kiểm toán viên:
Tuy có thể có tên gọi khác nhau, nhưng theo IAFC và luật pháp các nước
thành viên đều quy định các yêu cầu cơ bản đối với kiểm toán viên là: có kỹ năng
và khả năng nghề nghiệp, chính trực, khách quan, độc lập và tôn trọng bí mật.
* Kỹ năng và khả năng của kiểm toán viên
Trình độ chuyên môn có được nhờ sự đào tạo, trang bị kiến thức chuyên môn
về mặt lý luận và thực tiển.Kiến thức về các lĩnh vực chủ yếu như kế toán, pháp
luật, kiểm toán,... là không thể thiếu. Kiến thức chuyên môn còn phải dược bổ
sung, cập nhật thường xuyên theo thời gian để duy trì và nâng cao trình độ. Bên
cạnh đó, kiểm toán viên độc lập phải có năng lực thực hiện và tổ chức công việc
kiểm tra, phân tích, thu thập bằng chứng.
* Đạo đức của kiểm toán viên
Kiểm toán viên phải là người đảm bảo có đạo đức nghề nghiệp thích hợp.
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng như chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
(CM số 200) thì kiểm toán viên phải đảm bảo các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp
sau đây:
Độc lập: Độc lập được coi là một nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán
viên. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải độc lập về mặt chuyên môn;
không bị sư chi phối nào động của bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm
ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độ lập nghề nghiệp của mình (Ví dụ,
không có lợi ich kinh tế với đơn vị được kiểm toán; không có quan hệ thân thuộc
với các nhà quản lý đơn vị; không vừa làm dịch vụ kế toán và dịch vụ kiểm toán
cho cùng một đơn vị,..).
Chính trực: kiểm toán viên phải đảm bảo thẳng thắn, trung thực và có chính
kiến rõ ràng.
Khách quan: Kiểm toán viên phải nhìn nhận các sự kiện, hiện tượng đúng như
nó vốn có; tôn trọng sự thật, không thiên kiến hay thành kiến.
Bảo mật: Kiểm toán viên phải báo mật các thông tin có được trong quá trình
kiểm toán; trường hợp được sự cho phép, sự uỷ quyền của đơn vị được kiểm toán
(nghĩa vụ pháp lý hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp đã được luật pháp
quy định).
Bên cạnh đó, kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán với đày đủ
năng lực chuyên môn cần thiết và với sư thận trọng cao nhất( tính hoài nghi nghề
nghiệp), phải thường xuyên thể hiện tính chuyên nghiệp trong quá trinh kiểm toán;
trau dồi, bảo vệ và năng cao uy tính nghề nghiệp, đồng thời, phải thực hiện công
việc kiểm toán theo những quy định của chuẩn mực chuyên môn ( chuẩn mực
quốc tế hay chuẩn mực quốc gia) đã được chấp nhận.
1.2 Nguyên tắc cơ bản tổ chức bộ máy kiểm toán
1.2.1 Các khái niệm cơ bản về tổ chức
a.Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết chung của các hệ thống là thuật ngữ được L. Fon Bertalarffy đưa vào
vốn từ vựng khoa học dùng để mô tả lý thuyết các hệ thống mở và các trạng thái
cân bằng động đề xuất năm 1933 tại trường đại học tổng hợp Chicago.Từ lĩnh vực
sinh học các nguyên tắc của lý thuyết này được chuyển sang việc giải quyết những
vấn đề kỹ thuật và quản lý.
Sự xuất hiện của "Lý thuyết chung của các hệ thống", một lý thuyết thuộc
dạng những quan điểm khoa học chung mang tính hình thức và phổ quát, đã thúc
đẩy mong muốn của cộng đồng khoa học muốn tiến tới phổ quát hoá các công cụ
nhận thức khoa học và tiến tới sự nhận được đặc trưng mang tính luận điểm của
toàn bộ các phổ quát.Một trong những nhiệm vụ chính của tiếp cận này là làm rõ
và phân tích các quy luật, các quan hệ qua lại chung đối với các lĩnh vực khác nhau
của hiện thực.Do vậy, cách tiếp cận hệ thống đã được sử dụng trong lý thuyết đã
nêu mang tính chất liên ngành, bởi vì nó tạo ra cơ hội đem những quy luật và
những khái niệm từ một lĩnh vực nhận thức sang một lĩnh vực khác.Tổ hợp các
khái niệm hệ thống là bộ khung khái niệm khởi điểm, tạo ra sơ đồ nguyên nguyên
tắc của sự phân chia khách thể.
Hệ thống - khái niệm trung tâm biểu thị một tập hợp các phần tử trong sự
tương tác qua lại thể hiện tính chỉnh thể và tính chung của mình.
Phần tử - đơn vị không thể chia nhỏ được nữa trong một phương thức phân
chia đã cho, và nằm trong thành phần của hệ thống, việc có những mối liên hệ giữa
các phần tử sẽ dẫn đến sự xuất hiện trong hệ thống chỉnh thể những tính chất m
Chỉnh thể - hình thức của tồn tại hệ thống với tư cách được xác định chặt chẽ,
phản ánh sự độc lập của nó với các hệ thống khác.
Tính chỉnh thể là tính thống nhất của hệ thống như một chỉnh thể được các
phần tử thể hiện trong sự tương tác qua lại thực tế của chúng.Nó là cơ sở ổn định
của hệ thống.
b.Tổ chức – thực thể xã hội phức tạp
Theo quan niệm triết học:”Tổ chức nói rộng ra là cơ cấu tồn tại của sự vật.Sự
vât không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố
thuộc nội dung gì.Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”.Định
nghĩa này bao quát cả các phân hệ tự nhiên và xã hội loài người.
Tổ chức là một thực thể xã hội vì tổ chức thực hiện những chức năng nhất
định trong xã hội, tổ chức gồm nhiều người, nhiều mối quan hệ trong xã hội, và
điều tất yếu tổ chức tồn tại trong một xã hội nhất định, nó thuộc một xã hội nhất
định, xã hội là môi trường cho sự hình thành tồn tại và phát triển của tổ chức.Tổ
chức bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành trong mỗi yếu tố cấu thành đó lại có rất
nhiều yếu tố cấu thành bé hơn và với mỗi yếu tố đó, mỗi bộ phận lại có sự khác
nhau về cơ cấu, mục tiêu, cơ chế quyền lực, môi trường.Sự phức tạp của tổ chức
do đó đòi hỏi nhà lãnh đạo phải có sự kết hợp của nhiều yếu tố để đạt được mục
đích quản lý.Có thể nói ngắn gọn, các yếu tố cấu thành của tổ chức như sau:
Mục tiêu: Nó phụ thuộc vào quy mô của tổ chức và chức năng nhiệm vụ của
tổ chức được giao. Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của tổ chức thì mỗi tổ chức
ngay từ ban đầu mỗi tổ chức đã đưa ra những mục tiêu cho tổ chức đó ..
Cơ cấu tổ chức: Mỗi tổ chức đều phải phân định rõ chức năng nhiệm vụ quyền
hạn của các bộ phận trong tổ chức để thực hiện mục tiêu đã đặt ra. Chính vì vậy
việc bố trí sắp xếp các vị trí trong tổ chức là rất quan trọng. Cơ cấu tổ chức phụ
thuộc vào quy mô tổ chức, cùng nhiệm vụ của tổ chức. Tuỳ theo mỗi tổ chức khác
nhau mà có thể sắp xếp cơ cấu khác nhau.
Nguồn lực của tổ chức: Mỗi tổ chức muốn tồn tại và phát triển được thì các
yếu tố quyết định nhất đó là nguồn lực của tổ chức.Hai yếu tố đặc trưng của nguồn
lực tổ chức là : nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kĩ thuật.Đây là yếu tố cơ bản
quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Văn hoá của tổ chức: Các yếu tố văn hoá có ảnh hưởng lớn đến việc hình
thành nhân cách con người và đương nhiên ảnh hưởng sâu sắc đến tổ chức tồn tại
trong môi trường văn hoá đó.Các yếu tố văn hóa tổ chức gồm :mối quan hệ giữa
các thành viên, ý thức chấp hành nội quy tổ chức,..
Môi trường của tổ chức: Trong thời đại ngày nay mọi tổ chức muốn cạnh
tranh thì cần có áp dụng về khoa học công nghệ mới nhằm cải tiến cách thức quản
lý, cách thức sản xuất, trang thiết bị làm việc...Sự lạc hậu của khoa học công nghệ
là yếu tố kìm hãm sự tồn tại của tổ chức.
Tóm lại, có thể nói tổ chức bao gồm rất nhiều yếu tố rất phức tạp và có tác
động qua lại lẫn nhau.Đòi hỏi người lãnh đạo trong tổ chức cần phải phối hợp
không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình để đạt được mục tiêu của tổ
chức.
1.2.2 Ý nghĩa, nguyên tắc và nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kiểm toán
Khi đã khẳng định các yếu tố cấu thành hệ thống phương pháp kiểm toán bao
gồm cả kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu logic, đối chiếu trực tiếp)
và kiểm toán ngoài chứng từ (điều tra, thực nghiệm, kiểm kê), những yếu tố này
phải trở thành nhận thức và cả kinh nghiệm trong con người và trở thành cơ chế
hoạt động (kể cả phần cứng và phần mềm) của các phương tiện cấu thành bộ máy
kiểm toán
Lý thuyết hệ thống cũng chỉ rõ mối liên hệ logic giữa các yếu tố, phân hệ và
hệ thống. đó là mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung và chúng có thể chuyển hóa
cho nhau, song sự bao gồm của cái riêng trong cái chung vẫn phải được tôn trọng
trong tổ chức bộ máy kiểm toán nói riêng cũng như trong mọi hệ thống tổ chức nói
chung.Ngoài ra theo nguyên lý chung của tổ chức bộ máy, bộ máy kiểm toán cũng
có thể được tổ chức theo phương thức trực tuyến – tham mưu hoặc phương thức
chức năng có thể chọn loại hình tập trung hay phân tán tùy quy mô và địa bàn hoạt
động… tùy khả năng và phương tiện điều hành
Do có sự khác nhau về các điều kiện trên và do trình độ nhận thức và kinh
nghiệm kiểm toán cùng mức trang bị các phương tiện kiểm toán ở mỗi nơi, mỗi lúc
khác nhau nên bộ máy kiểm toán không thể tổ chức theo một khuôn mẫu máy
móc.Hơn nữa, khi đã nói tới yếu tố con người là nói tới các quan hệ xã hội, đến
truyền thống văn hóa cụ thể.Do đó, tổ chức bộ máy kiểm toán không chỉ mang tính
khoa học mà còn mang cả tính nghệ thuật nữa.Trong trường hợp này, tính khoa học
của tổ chức bộ máy đòi hỏi phải tạo ra những mối liên hệ giữa các yếu tố, các phân
hệ với hệ thống; giữa bản thân hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác và cả với
môi trường hoạt động của hệ thống này.Trong khi đó, tính nghệ thuật của tổ chức
đòi hỏi phải phải xử lý các mối liên hệ này thật mềm dẻo để duy trì được biên độ tổ
chức ở mức cao nhất thích ứng với điều kiện cụ thể về nhân viên, thiết bị và môi
trường thực hiện…
Tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi khoa học về tổ chức kiểm toán trước hết phải
xác định được những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy kiểm toán, trên cơ sở
đó xác định các mô hình tổ chức trong hang loạt các mối liên hệ trong và ngoài hệ
thống, đồng thời phân tích điều kiện và xác dịnh mục tiêu và bước đi trong tổ chức
bộ máy kiểm toán ở Việt Nam.
a.Nguyên tắc tổ chức bộ máy kiểm toán
Thứ nhất, phải xây dựng đội ngũ kiểm toán viên đủ về số lượng và bảo đảm
yêu cầu chất lượng phù hợp với từng bộ máy kiểm toán.Rõ ràng, kiểm toán viên là
yếu tố cơ bản cấu thành bộ máy kiểm toán. Sự tồn tại cũng như chất lượng hoạt
động của bộ máy kiểm toán được quyết định trước hết bởi số lượng và chất lượng
đội ngũ kiểm toán viên. Đó cũng là nguyên lý chung cho việc tổ chức hệ thống bộ
máy. Hơn nữa, hoạt động kiểm toán lại có chức năng đặc biệt nên đòi hỏi cao với
kiểm toán viên cả về chuyên môn nghiệp vụ lẫn phẩm hạnh đạo đức. vì vậy, ở bất
cứ đâu, cho dù khi mới xây dựng hay trong bước đường phát triển – các tổ chức
kiểm toán đều coi trọng xây dựng đội ngũ kiểm toán viên.
Mặt khác, kiểm toán lại bao gồm nhiều loại hình với những bộ máy tổ chức cụ
thể cũng có những điểm khác nhau về nội dung và phương pháp kiểm toán cụ thể
và từ đó cả về tổ chức kiểm toán.Vì vậy, xây dựng đội ngũ kiểm toán viên cũng đòi
hỏi những yêu cầu cụ thể riêng biệt thích ứng vơi từng loại hình, từng bộ mày kiểm
toán.
Tất nhiên, gắn với đội ngũ kiểm toán viên là trang thiết bị cụ thể cho kiểm
toán: đó là những máy móc, thiết bị, phương tiện thích ứng với kỹ thuật kiểm toán(
cả phần cứng và phần mềm nếu có) và hình thành cơ chế hoạt động thống nhất
đang thực hiện chức năng kiểm toán.
Hệ thống bộ máy kiểm toán phải bao gồm các phân hệ chứa đựng các mối liên
hệ trong – ngoài khác nhau phù hợp với nguyên tắc chung của lý thuyết tổ chức và
phù hợp với quy luật của phép biện chứng về liên hệ.
Thật vậy, mục tiêu của tổ chức là tạo ra mối liên hệ theo một trật tự xác dịnh.
Trong kiểm toán trật tự này được xác định khác nhau do quan hệ giữa các mục tiêu
kiểm toán khác nhau với các khách thể kiểm toán khác nhau. Mỗi khách thể, mỗi
chủ thể này lại có nhiều mỗi liên hệ khác ngoài kiểm toán. Trong việc xử lý hàng
loạt mối liên hệ phức tạp này cần phải có phương pháp luận biện chứng giữa các sự
vật, hiện tượng, giữa cái chung và cái riêng, giữa cái mới và cái cũ
Nguyên tắc chung của mọi hệ thống tổ chức bộ máy: tập trung, dân chủ thích
ứng với từng bộ phận kiểm toán. Nguyên tắc tập trung – dân chủ do Lê-nin đề
xướng trong việc xây dựng Đảng Cộng sản và được phát triển ứng dụng trong mối
quan hệ giữa khách thể - chủ thể - môi trường kiểm toán. ở từng phân hệ kiểm toán
trong từng thời kỳ phát triển mối liên hệ chủ thể - khách thể - môi trường kiểm
toán. ở từng phân hệ kiểm toán trong từng thời kỳ phát triển mối liên hệ chủ thể -
khách thể có những điểm khác nhau song đều được tổ chức và hoạt động trong mỗi
Nhà nước cụ thể với một nguyên tắc tổ chức chụ thể: Nhà nước của dân, do dân và
vì dân.
Từ ý nghĩa và nguyên tắc tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể thấy nhiệm vụ cơ
bản của tổ chức bộ máy kiểm toán là xây dựng mô hình tổ chức bộ máy, xác định
kiểu liên hệ trong từng mô hình và mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành hệ
thống bộ máy kiểm toán – kiểm toán viên.
b.Tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập
Bộ máy kiểm toán độc lập là tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp
kinh doanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan.là tổ chức kinh
doanh, một đơn vị kiểm toán độc lập phải thức hiện các nghĩa vụ có quyền lợi như
các tổ chức kinh doanh khác. Hơn nữa, kinh doanh dịch vụ kiểm toán là kinh
doanh một nghề chuyên sâu nên phải có kiểm toán viên đủ điều kiện hành nghề.Do
đó, chỉ có những người có chứng chỉ kiểm toán viên và đủ điều kiện hành nghề
khác nhau mới được phép tổ chức các đơn vị kinh doanh dịch vụ này. Thông
thường, cùng với dịch vụ kiểm toán, bộ máy này có thể thực hiện các dịch vụ khác
có liên quan như kế toán, thuế, tư vấn, tài chính, tin học… Để thực hiện các loại
dịch vụ này, các tổ chức kiểm toán độc lập có quan hệ với khách hàng tự nguyện
hoặc bắt buộc theo quy định của pháp luật.
1.3 Mô hình tổ chức kiểm toán độc lập trên thế giới
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập
a. Kiểm toán viên-Nhân tố hàng đầu
Theo quan điểm của kinh tế chính trị học Mác-Lênin, bất cứ phương thức sản
xuất nào của xã hội đều bao gồm hai mặt là Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản
xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất, người lao động và khoa học kỹ
thuật (thể hiện thông qua kỹ năng của người lao động hiện đại ). Trong đó, người
lao động là chủ thể và là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất của xã
hội. Kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng cũng có thể coi là một
phương thức sản xuất trong xã hội hiện đại, cung cấp các dịch vụ thay vì sản xuất
ra của cải vật chất. Vì vậy, kiểm toán viên với tư cách là người lao động luôn luôn
giữ một vai trò quyết định quan trọng và có tác động qua lại mạnh mẽ với cách
thức tổ chức kiểm toán, tuân theo quy luật thống nhất biện chứng giữa lực lượng
sản xuất-quan hệ sản xuất.
Tổ chức hệ thống nhân sự trong bộ máy kiểm toán độc lập. Trong các hãng
kiểm toán, cơ cấu nhân sự điển hình được phân chia làm 4 cấp: Chủ phần hùn
(Partner) hay Cổ đông (Shareholder), Chủ nhiệm kiểm toán (Manager), Kiểm toán
viên (phụ trách hoặc giám sát công việc kiểm toán) và các Trợ lý (Assistant). Một
nhân viên mới sẽ bắt đầu công việc từ vị trí trợ lý và sau một thời gian nhất định
(khoảng 2-3 năm cho mỗi cấp bậc) có thể đạt tới vị trí chủ phần hùn. Có thể thấy
rằng việc thăng bậc trong các hãng kiểm toán diễn ra khá nhanh và liên tục đi kèm
với các trách nhiệm và nghĩa vụ mới. Điều này là vì các nhân viên có điều kiện
được thường xuyên trau dồi và tích lũy kinh nghiệm qua quá trình tham gia kiểm
toán trên thực tế. Hiện nay do sự tiến bộ của công nghệ thông tin và cách thức thực
hiện kiểm toán, các trợ lý kiểm toán ngày càng được trao cho những nhiệm vụ
phức tạp và nhiều thử thách hơn.
Cách thức tổ chức như trên sẽ giúp các hãng kiểm toán nâng cao năng lực,kĩ
năng cũng như kinh nghiệm cho các cá nhân trong công ty. Những nhân viên ở cấp
bậc cao hơn sẽ giám sát và kiểm tra công việc thực hiện bởi cấp bậc xếp ngay bên
dưới. Một nhân viên mới vào nghề sẽ được giám sát trực tiếp bởi kiểm toán viên
cấp cao. Sau đó, công việc của anh ta có thể được chuyển sang cho kiểm toán viên
cấp trên như chủ nhiệm kiểm toán hay chủ phần hùn-những người có trình độ
chuyên môn và kinh nghiệm cao nhất kiểm tra soát xét lại.
Bảng 2-1 tóm tắt lại kinh nghiệm và trách nhiệm của từng thứ bậc của nhân
viên trong một công ty kiểm toán điển hình.
Bảng 2-1 Thứ bậc và trách nhiệm tương ứng của kiểm toán viên
Trình độ
nhân sự
Kinh nghiệm
trung bình
Trách nhiệm đặc thù
Trợ lý kiểm
toán
0-2 năm
-Thực hiện hầu hết các công việc kiểm toán chi tiết
-Chuẩn bị các giấy tờ làm việc cần thiết
-Báo cáo cho nhóm trưởng cuộc kiểm toán tất cả các khúc mắc
liên quan tới kiểm toán, kế toán
Kiểm toán
viên
2-5 năm
-Hỗ trợ việc lập kế hoạch kiểm toán và chuẩn bị ngân sách
-Thực hiện điều phối và có trách nhiệm trong công việc kiểm
toán, bao gồm giám sát và xét duyệt lại công việc của các trợ lý
kiểm toán

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×