Tải bản đầy đủ

bai giang Quan li hanh chinh nha nuoc p3

CHƯƠNG II
ĐƯỜNG LỐI, QUAN ĐiỂM CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
H C PH N Ọ Ầ
QU N LÝ HCNN vµ qu¶n lý Ả
ngµnh gd®t
GVC. THS. HOÀNG CÔNG TRÀM
PHÒNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC HUẾ
2
CHƯƠNG II
Đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo
dục và đào tạo
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
II. Những quan điểm chỉ đạo sự nghiệp đổi mới giáo dục
đào tạo
III. Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010
3
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.1. Những thành tựu chủ yếu
I.1.1. Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh, thống nhất và đa dạng hóa, đã

được hình thành với đầy đủ các cấp học và trình độ đào tạo từ mầm non đến đại học.

- Mạng lưới trường phổ thông xây dựng rộng khắp, có trường nội trú, bán trú cho các
con em dân tộc ít người.
- Trường, lớp, trung tâm dạy nghề phát triển mạnh.
- Trường ĐH và CĐ được thành lập ở hầu hết các khu dân cư lớn của cả nước.
Theo số liệu của Bộ Giáo dục Đào tạo, năm học 2007-2008 cả nước có 11.629 nhà trẻ,
trường mầm non, mãu giáo, 14.939 trường Tiểu học, 10.485 trường THCS, 2.476 trường
THPT; 275 trường TCCN, 262 trường dạy nghề, 369 trường ĐH,CĐ.

Cơ sở vật chất kỹ thuật các trường được nâng cấp, số trường, lớp đạt chuẩn quốc gia
ngày càng tăng.

Đa dạng hóa về loại hình, phương thức đào tạo: công lập, ngoài công lập; chính quy,
không chính quy (tại chức, chuyên tu, từ xa, v.v...), liên kết với nước ngoài. Tỷ lệ học
sinh, sinh viên ngoài công lập chiếm một tỷ lệ khá cao, năm học 2006-2007 ví dụ như
74,97% trẻ nhà trẻ, 83,69% trẻ mẫu giáo, 30,6% hs THPT, 13% sv ĐH,CĐ.
4
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.1. Những thành tựu chủ yếu
I.1.2. Quy mô GD tăng nhanh, bước đầu đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội

Tổng số trường năm 2007-2008 là 41.123 tăng 6064 trường so với năm 2000-2001.

Năm học 2007-2008, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên, tăng 1,03% so với
năm học 2000-2001; trong đó số học sinh học nghề tăng 2,14 lần; số học sinh trung cấp
chuyên nghiệp tăng 2,41 lần; số sinh viên cao đẳng, đại học tăng 1,83 lần, nâng tỷ lệ
sinh viên cao đẳng, đại học trên một vạn dân tăng 1,6 lần, số học viên cao học và
nghiên cứu sinh tăng 2,48 lần.

Số sinh viên trên một vạn dân là 118 năm 2000-2001 tăng lên 179 vào năm 2006-2007.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo theo các trình độ khác nhau tăng từ 20% vào năm 2000 lên
31,5% vào năm 2007.
I.1.3. Công bằng xã hội trong giáo dục cơ sở về cơ bản được đảm bảo.

Giáo dục các vùng dân tộc thiểu số có chuyển biến tích cực (năm học 2004-2005 có 13
trường trung ương, 50 trường tỉnh, 266 trường huyệnvà 519 trường bán trú xã, cụm xã).

Hoàn thành công tác xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, đang thực hiện phổ cập


THCS. Đến 12/2008 đã có 42/63 tỉnh, thành phố (67%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu
học đúng độ tuổi; 47/63 tỉnh (74,6%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở.

Gần 94% dân cư từ 15 tuổi biết chữ. Số năm đi học trung bình đạt 9,6.

Đạt được sự bình đẳng nam nữ trong giáo dục.
5
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.1. Những thành tựu chủ yếu
I.1.4. Công tác xã hội hóa giáo dục đã đem lại kết quả bước đầu

Các lực lượng xã hội tham gia ngày càng tích cực vào sự nghiệp giáo dục.

Tập trung nguồn kinh phí xã hội đóng góp chiếm 25% tổng kinh phí giáo dục

Vào năm học 2007-2008, cả nước có gần 6.000 cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường
tiểu học, 33 trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy
nghề, 72 trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở
giáo dục ngoài công lập. Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công
lập ngày càng tăng. Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là
15,6% (năm 2000 là 11,8%), trong đó tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%; học sinh trung cấp
chuyên nghiệp là 18,2%; học nghề là 31,2%; sinh viên cao đẳng, đại học là 11,8%.
I.1.5 Chất lượng giáo dục có chuyển biến trên một số mặt

Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận h/s và s/v được nâng
cao.

Giáo dục THPT chuyên đạt trình độ cao của khu vực và thế giới.

Sinh viên tốt nghiệp ĐH, CĐ có tinh thần tự lập, năng động.

Chất lượng đào tạo một số ngành khoa học cơ bản và công nghệ đã được nâng cao
một bước.

Giáo dục ĐH đã đào tạo được một đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kỹ thuật có trình
độ cao .
6
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.1. Những thành tựu chủ yếu
Nhờ những thành tựu của giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác mà chỉ số phát triển con
người (HDI) của nước ta theo bảng xếp loại của Chương trình phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) năm 2005 xếp thứ 105 (0,733) trong tổng số 177 nước ược xếp hạng và được
xếp ở mức trung bình cùng với các nước Nga (0,7970, Trung Quốc (0,768), Philippin
(0,763).
Nguyên nhân thành tựu:

Nhân dân có tính hiếu học, chăm lo việc học tập của con em.

Các nhà giáo tận tụy với nghề.

Đảng và Nhà nước quan tâm, có những chủ trương chính sách đúng đắn phát triển giáo
dục. (Nghị quyết TW 2 khóa 8, Luật GD, chiến lược phát triển GD 1996-2000, 2001-
2010)

Đầu tư ngân sách tăng từ 8% năm 1990 tăng lên 15% năm 2000, 16,4% năm 2003.

Ngành GD đã có một số đổi mới về mục tiêu GD , đa dạng hóa các loại hình đào tạo.

Sự ổn định chính trị và những thành quả phát triển kinh tế tạo môi trường thuận lợi cho
phát triển giáo dục.
7
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.2. Những yếu kém, bất cập chủ yếu
I.2.1. Chất lượng GD nói chung còn thấp, một mặt chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến
trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với các ngành nghề trong xã hội.
Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng thực
hành, khả năng thích ứng nghề nghiệp; khả năng lập nghiệp còn hạn chế.
Trong giáo dục chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa phát triển số lượng với nâng cao
chất lượng. Trong nhiều năm gần đây, quy mô giáo dục đại học phát triển, số lượng các
trường cao đẳng, đại học tăng mạnh trong khi các điều kiện về đội ngũ giảng viên, cơ
sở vật chất - kỹ thuật nhà trường chưa phát triển đủ để đảm bảo được chất lượng đào
tạo của các cơ sở này.
I.2.2. Hiệu quả hoạt động GD chưa cao

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp so với nhập học đầu cấp còn thấp, nhất là vùng núi,
vùng sâu, vùng xa (năm học 1999-2000 tỷ lệ này ở tiểu học và THCS xấp xỉ 70%, ở
THPT - 78%)

Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, còn nhiều HS,SV sau khi tốt nghiệp chưa có việc
làm
8
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.2. Những yếu kém, bất cập chủ yếu
I.2.3. Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền được khắc phục một bước
song vẫn còn mất cân đối.

Cách thức tổ chức phân luồng trong hệ thống giáo dục còn thể hiện nhiều lúng túng.
Tình trạng mất cân đối giữa cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề đào tạo chậm được
khắc phục, chưa đáp ứng được yêu cầu nhân lực của xã hội.

Nặng về đào tạo ĐH, chưa chú trọng trong việc đào tạo nghề, đặc biệt là nghề trình độ
cao.

Tăng quy mô chủ yếu diễn ra ở bậc ĐH, tỷ lệ HS, SV cao đẳng kỹ thuật, THCN và học
nghề còn thấp và tăng chậm.

Công tác dự báo, quy hoạch ngành nghề chưa tốt.

Các cơ sở giáo dục (ĐH và nghề) tập trung ở các thành phố, giáo dục ở các vùng sâu,
vùng xa còn nhiều khó khăn.

Chưa chú trọng đúng mức đến các hình thức đào tạo không chính quy
9
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.2. Những yếu kém, bất cập chủ yếu
I.2.4. Đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng
được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng,
hiệu quả giáo dục.

Còn thiếu quy hoạch tổng thể đào tạo đội ngũ nhà giáo từ mầm non đến đại học dẫn
đến tình trạng đội ngũ nhà giáo vừa thừa, vừa thiếu, vừa không đồng bộ về cơ cấu. Ở
các trường cao đẳng, đại học, số giảng viên có trình độ thạc sỹ và tiến sỹ còn quá ít.
Phương thức đào tạo trong các nhà trường sư phạm chậm đổi mới, chất lượng đào tạo
còn thấp dẫn đến tình trạng trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của một bộ phận nhà
giáo chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng.

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2006-2007 cả nước có 82,3% GV
mầm non, 97,04% GV Tiểu học, 96,84% GV THCS và 97,63% GV THPT đạt chuẩn và
trên chuẩn.

“Mặc dù tỷ lệ GV các cấp trên danh nghĩa đạt chuẩn khá cao, song trên thực tế chất
lượng giảng dạy còn nhiều hạn chế. Một bộ phận không nhỏ giáo viên chậm đổi mới về
phương pháp, dạy để đối phó với thi cử. Một số giáo viên giỏi chưa phát huy được vai
trò là hạt nhân tích cực trong tập thể, lo dạy thêm dạy ngoài... “ (Theo Đặng Huỳnh Mai
trong TCCS số 32 (tháng 11/2003).
10
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.2. Những yếu kém, bất cập chủ yếu
I.2.5. Cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu thốn
Chưa thanh toán hết các lớp học ca 3, cơ sở trường học còn nghèo nàn.
Thư viện trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập còn thiếu và lạc hậu.
I.2.6. Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới,
chậm hiện đại hóa
Chương trình mang nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử, chưa chú trọng đến
tính sáng tạo, năng lực thực hành.
Chưa gắn với nhu cầu thực tiển phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu người học.
Thi cử lạc hậu, tuyển sinh ĐH còn vụng về, tốn kém.
I.2.7. Công tác quản lý giáo dục còn kém hiệu quả
Một số hiện tượng tiêu cực, thiếu kỷ cương chưa được ngăn chặn kịp thời.
Các hiện tượng “thương mại hóa“ giáo dục làm ảnh hưởng đến cả nhà trường, nhà
giáo.
Gian lận trong kiểm tra, thi cử.
11
I. Tình hình giáo dục Việt nam hiện nay
I.2. Những yếu kém, bất cập chủ yếu
Nguyên nhân yếu kém
Trình độ quản lý giáo dục chưa theo kịp thực tiễn.
Quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu“ chưa được nhận thức đầy đủ.
Chịu sức ép về nhu cầu học tập ngày càng tăng - tăng quy mô trong khi khả
năng hạn chế.
Chậm trễ trong cải cách hành chính, quản lý kinh tế, tài chính, sử dụng lao
động, chính sách tiền lương.
Nước ta còn nghèo, thu nhập quốc dân trên đầu người thấp, đầu tư cho giáo
dục còn thiếu thốn.
12
II. Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới
giáo dục và đào tạo
II.1. Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu
Phát triển giáo dục là nền tảng, là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Vai trò động lực của giáo dục
đào tạo thể hiện trong các lĩnh vực sau:
+ Giáo dục cung cấp nguồn nhân lực có chuyên môn cao cho sự phát
triển KT
+ Giáo dục là nhân tố nòng cốt của sự phát triển KHCN
+ Giáo dục góp phần nâng cao dân trí, yếu tố bảo đảm cho sự phát triển
bền vững
Xác định đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển.
Thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với giáo dục đào tạo, đặc biệt là
chính sách đầu tư và chính sách tiền lương.
Có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục.
13
II. Những quan điểm chỉ đạo về sự nghiệp đổi mới
giáo dục và đào tạo
II.2. Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa M.Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng
Quan điểm này xác định tính chất của nền giáo dục Việt nam. Các tính chất trên
được thể hiện trong tất cả các khâu chủ yếu của quá trình giáo dục: mục tiêu, chương
trình, nội dung, phương pháp, phương thức.
Tính nhân dân được thể hiện ở phương thức giáo dục, đó là thực hiện công bằng
xã hội trong giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học hành. Nhà nước và xã
hội có cơ chế, chính sách giúp đỡ người nghèo, khuyến khích người học giỏi phát triển
tài năng.
Tính dân tộc được thể hiện trong mục tiêu, yêu cầu về nội dung giáo dục. Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức,
sức khỏe và thẩm mỹ và ngề nghiệp, phát triển được năng lực cá nhân, đào tạo những
người lao động có khả năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức
công dân, góp phần làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tính khoa học, hiện đại được thể hiện trong chương trình, nội dung, phương
pháp giáo dục.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×