Tải bản đầy đủ

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG THẾ GIỚI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG THẾ GIỚI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu lao động
Ở các nước đang phát triển, tỉ lệ tăng dân số hàng năm vẫn còn cao, vấn đề
giải quyết việc làm cho số người đến độ tuổi lao động là một gánh nặng cho các
quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao động (XKLĐ) trở thành vấn đề cấp thiết có nội
dung kinh tế - xã hội (KT - XH) sâu sắc và liên quan chặt chẽ với các yếu tố KT -
XH khác trong việc định hướng và phát triển nền kinh tế quốc gia.
Trước hết, để có cái nhìn tổng thể và rõ ràng về vấn đề nghiên cứu của khoá
luận này, chúng ta cần thống nhất một số khái niệm có liên quan trong lĩnh vực lao
động, việc làm được sử dụng trong nghiên cứu:
1. Nguồn lao động: là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau.
Đầu tiên, với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nguồn lao
động bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường (không bị khiếm
khuyết hay dị tật bẩm sinh).
Với tư cách là một yếu tố của sự phát triển KT - XH, nguồn lao động là khả
năng lao động của xã hội bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng
lao động.
Ngoài ra, còn có thể hiểu nguồn lao động là tổng hợp cá nhân những con

người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và
tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Nguồn lao động bao gồm những
người từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi).
- Phân loại nguồn lao động:
Có rất nhiều cách để phân loại nguồn lao động. Tuỳ theo giác độ nghiên cứu
mà người ta tiến hành phân loại theo các tiêu thức khác nhau như: căn cứ theo
nguồn gốc hình thành, căn cứ theo vai trò của từng bộ phận nguồn nhân lực tham
gia vào nền sản xuất xã hội hay căn cứ vào trạng thái có việc làm hay không. Tuy
nhiên trong khuôn khổ của khoá luận tốt nghiệp sẽ chỉ phân loại nguồn lao động
dựa theo nguồn gốc hình thành của lực lượng lao động.
Dựa theo tiêu thức này, nguồn lao động được chia thành:
1, Nguồn lao động có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm toàn bộ
những người nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng
thái có việc làm hay không có việc làm. Nguồn lao động này thường chiếm một tỉ
lệ tương đối lớn trong dân số, thường từ 50% trở lên.
Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện tâm sinh lý - tâm lý xã hội
mà con người tham gia vào quá trình lao động. Giới hạn về độ tuổi lao động là tuỳ
thuộc vào điều kiện KT - XH của từng nước và trong từng thời kì. Ở nước ta mức
giới hạn này là từ 15 tuổi đến 60 tuổi (nam) và từ 15 tuổi đến 55 tuổi (nữ).
2, Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh
tế): đây là số người đang có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các ngành
kinh tế - văn hoá của xã hội hay không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm kiếm
việc làm.
3, Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động
nhưng vì các lý do khác nhau họ chưa có công việc làm ngoài xã hội. Số người này
đóng vai trò của một nguồn dự trữ về lao động. Họ gồm có :
- Những người làm công việc nội trợ trong gia đình (thường là phụ nữ). Đây
là một nguồn lao động đáng kể. Khi điều kiện kinh tế của xã hội thuận lợi, nếu bản
thân họ muốn tham gia lao động ngoài xã hội, họ có thể nhanh chóng rời bỏ hoạt
động nội trợ để làm công việc thích hợp ngoài xã hội.
- Những người tốt nghiệp ở các trường phổ thông và các trường chuyên
nghiệp được coi là nguồn nhân lực dự trữ quan trọng và có chất lượng. Đây là
nguồn lực trẻ có trình độ học vấn và chuyên môn tương đối cao.
- Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự có khả năng tham gia vào
hoạt động kinh tế. Đây cũng là một nguồn thuộc nguồn lao động dự trữ. Số người
thuộc nguồn này bao gồm cả những người đã có nghề hay chưa có nghề, có trình
độ học vấn cao hay thấp... do vậy cần tìm hiểu rõ để nghiên cứu và tạo việc làm
thích hợp.
- Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp (có nghề hoặc
không có nghề) muốn tìm việc làm và luôn sẵn sàng tham gia vào hoạt động kinh
tế.
2. Lao động : là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay
đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Lao động là sự vận
dụng sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất, là quá trình kết hợp giữa
sức lao động và tư liệu sản xuất.
3. Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình
tạo ra của cải vật chất. Trong nền kinh tế hàng hoá, sức lao động là một hàng hoá
đặc biệt, vì: Trước hết, nó có giá trị và giá trị sử dụng như các hàng hoá khác.
Ngoài ra, hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống tinh
thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả. Hàng hoá
sức lao động cũng tuân theo qui luật cung - cầu của thị trường. Mức cung cao sẽ
dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động (tiền công) thấp, ngược lại khi mức
cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao động, giá cả sức lao động (tiền công) sẽ trở
nên cao hơn.
4. Việc làm: Theo quy định của Bộ luật lao động : Mọi hoạt động tạo ra
nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
- Tỉ lệ người có việc làm so với dân số hoạt động kinh tế được tính theo công
thức:
Tvl ( % ) = Nvl/Dkt
Trong đó : . Tvl : % người có việc làm
. Nvl : Số người có việc làm
. Dkt : Dân số hoạt động kinh tế
5. Thất nghiệp: là tình trạng người có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên
trong nhóm hoạt động kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có
nhu cầu tìm việc.
- Tỉ lệ người thất nghiệp so với dân số hoạt động kinh tế được tính theo công
thức :
Ttn ( % ) = Ntn/Dkt
Trong đó : . Ttn : Tỷ lệ thất nghiệp
. Ntn : Số người thất nghiệp
6. Thị trường lao động: là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hoá sức lao động
giữa một bên là những người sở hữu sức lao động và một bên là những người cần
thuê sức lao động đó.
Thị trường lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị
trường và chịu sự tác động của hệ thống qui luật của nền kinh tế thị trường. Một thị
trường lao động tốt là thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứng với
lượng cung về lao động.
- Cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá
có thể chấp nhận được. Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua được hàng
hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra.
Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động (tiền
lương), khi giá cả tăng (hoặc giảm) sẽ làm cho cầu về lao động giảm (hoặc tăng).
- Cung về lao động là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận
được ở mỗi mức giá nhất định. Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao động
mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá đặt ra.
Cung lao động có quan hệ tỉ lệ thuận với giá cả. Khi giá cả tăng, lượng cung lao
động sẽ tăng và ngược lại.
- Điểm cân bằng cung - cầu là điểm gặp nhau của đường cung và đường
cầu (điểm E). Tại đó lượng cầu bằng lượng cung.
P A D
E
0 Q
(Hình 1.1)
Để phân loại thị trường lao động, tuỳ theo đối tượng nghiên cứu mà người ta
chia ra thành: thị trường lao động trong nước; thị trường lao động ngoài nước; thị
trường lao động khu vực; thị trường lao động nông thôn; thị trường lao động thành
thị; thị trường lao động có trình độ chuyên môn; thị trường lao động phổ thông; thị
trường lao động chất xám; v.v...
7. Xuất khẩu lao động: Là một hiện tượng KT - XH,
XKLĐ được chính thức xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ 19. Trải qua
một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay XKLĐ
trở nên rất phổ biến và đã trở thành xu thế chung của thế giới.
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa XKLĐ. Nếu như trước đây
với thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động”, XKLĐ được hiểu là sự trao đổi lao
động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thoả thuận và kí kết giữa các
quốc gia đó hay là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách
hợp pháp và có tổ chức. Trong hành vi trao đổi này, nước đưa lao động đi được coi
là nước XKLĐ, còn nước tiếp nhận sử dụng lao động thì được coi là nước nhập
khẩu lao động.
Một cách hiểu khác nữa về XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước
thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có thời hạn và có kế hoạch từ
nước dư thừa lao động sang nước thiếu lao động.
Ngày nay với cách sử dụng thống nhất thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơn
đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này, từ các khái niệm trên có thể hiểu:
XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao
động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất
pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Trong nền kinh tế thị trường, XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại,
mang đặc thù của xuất khẩu nói chung. Thực chất XKLĐ là sự di cư quốc tế. Tuy
nhiên, đây chỉ là sự di cư tạm thời.
- Đặc điểm:
Trước hết, XKLĐ là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung nên nó
mang tất cả các đặc điểm vốn có của xuất khẩu. Và vì là một bộ phận của nền kinh
tế đối ngoại với những mối quan hệ hợp tác xuyên quốc gia, XKLĐ là một hoạt
động tất yếu khách quan của quá trình hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế trong
sản xuất, đưa các quốc gia trên thế giới hoà nhập với nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, do XKLĐ không chỉ là xuất khẩu hàng hoá đơn thuần mà là xuất
khẩu con người nên bản thân nó cũng có những đặc điểm riêng. Là một hoạt động
được sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước, XKLĐ mang một số tính chất chính trị,
trở thành một hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng. Việc thực hiện XKLĐ phải
tuân thủ nghiêm ngặt theo hệ thống pháp luật và văn bản pháp quy của thế giới,
quốc gia xuất khẩu cũng như quốc gia nhập khẩu lao động.
Tại VN, các hợp đồng đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài có
thời hạn đều phải được kí kết dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở
tại và các điều ước quốc tế .v.v...
Mặt khác, XKLĐ còn là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội. Nói tới
XKLĐ thực chất là nói tới xuất khẩu sức lao động. Trong khi đó, sức lao động lại
gắn bó chặt chẽ với người lao động, không tách rời khỏi người lao động. Do vậy,
mọi chính sách, pháp luật trong lĩnh vực XKLĐ phải kết hợp với các chính sách xã
hội.
XKLĐ là một phương thức thực hiện việc phân công lao động quốc tế, tạo
nên các hoạt động chuyên môn hoá sản xuất, thực hiện việc sử dụng lao động một
cách hợp lý và hiệu quả phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi quốc gia, tận dụng
một cách triệt để lợi thế so sánh giữa các nước nhập và xuất khẩu lao động.
Trong quan hệ XKLĐ phải đảm bảo được lợi ích của ba bên: Nhà nước, các
doanh nghiệp và người lao động. Lợi ích kinh tế của Nhà nước là khoảng ngoại tệ
mà người lao động gửi về và các khoảng thuế thu được. Lợi ích của các doanh
nghiệp là các khoảng thu được, chủ yếu là các loại phí giải quyết việc làm ngoài
nước. Còn lợi ích của người lao động là khoảng thu nhập thường là cao hơn nhiều
so với lao động ở trong nước.
- Phân loại XKLĐ:
Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:
Lao động có nghề: Là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã
được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước ngoài
làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi
phí để tiến hành đào tạo nữa.
Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc
chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những
công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần phải
tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng.
Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
. Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kĩ thuật cao sang các
nước đang phát triển để thu ngoại tệ. Trường hợp này không phải là chảy máu chất
xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm một phần thu lại kinh
phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác lớn hơn là
phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kĩ thuật bậc cao ở nước
ngoài .v.v... để thu ngoại tệ.
. Nhóm các nước đang phát triển: Có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc
bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm bớt
khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước.
- Các hình thức XKLĐ mà nước ta đã sử dụng:
Trong quá trình phát triển lĩnh vực XKLĐ, với chưa đầy 20 năm kinh
nghiệm nước ta bước đầu đã áp dụng được một số hình thức khác nhau trong hoạt
động XKLĐ như:
Đưa lao động đi bồi dưỡng, học nghề, nâng cao trình độ và làm việc có thời
hạn ở nước ngoài. Đây là hình thức được chúng ta thực hiện chủ yếu trong giai
đoạn 1980 - 1991. Thông qua việc kí hiệp định hợp tác, sử dụng lao động với các
nước: Liên xô (cũ), CHDC Đức, Tiệp Khắc trước đây, lao động của nước ta ở tại
các nước này được sống, sinh hoạt theo đoàn, đội, có sự quản lý thống nhất từ trên
xuống dưới và làm việc xen ghép với lao động của các nước. Đây là hình thức
được áp dụng cho cả hai đối tượng là lao động có nghề và lao động không có nghề.
Hợp tác lao động và chuyên gia: Đây là hình thức được áp dụng đối với các
nước Trung Đông và Châu Phi trong việc cung ứng lao động và chuyên gia sang
làm việc tại một số nước. Số lao động này có thể đi theo các đoàn, đội hay các
nhóm, cá nhân...
Đưa lao động đi làm tại các công trình doanh nghiệp VN nhận thầu khoán
xây dựng, liên doanh hay liên kết tạo ra sản phẩm ở nước ngoài hay đầu tư ra nước
ngoài. Hình thức này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng. Đây là hình
thức người lao động thuộc quyền quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam được đi
nước ngoài làm việc đồng bộ tại các công trình phía nước ngoài giao thầu hay giao
phần nhân công của công trình cho doanh nghiệp VN.
Cung ứng lao động trực tiếp theo các yêu cầu của công ty nước ngoài thông
qua các hợp đồng lao động được kí kết bởi các doanh nghiệp Việt Nam làm dịch
vụ cung ứng lao động. Được hình thành từ sau khi có nghị định 370/HĐBT ngày
9/11/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) hình thức này đã trở nên
phổ biến nhất hiện nay. Việc cung ứng lao động cho các tổ chức, cá nhân nước
ngoài chủ yếu được giao cho các tổ chức kinh tế có chức năng đưa lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đây là các doanh nghiệp chuyên doanh về XKLĐ,
được Nhà nước cấp giấy phép hành nghề, thực hiên việc kí kết, đưa lao động đi
nước ngoài làm việc và quản lý số lao động đó theo qui định của Nhà nước. Hình
thức này đòi hỏi đối tượng lao động tương đối đa dạng, tuỳ theo yêu cầu và mức độ
phức tạp của công việc mà bên phía nước ngoài yêu cầu lao động giản đơn hay lao
động có tay nghề cao.
Người lao động trực tiếp kí với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhưng khi làm
thủ tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về XKLĐ để thực hiện các
nghĩa vụ, trách nhiệm với nhà nước, với tổ chức kinh tế đưa đi và cũng là để đảm
bảo quyền lợi cho người lao động trong quá trình làm việc ở nước ngoài. Hình thức
này hiện nay ở nước ta chưa phổ biến lắm. Do người lao động vẫn chưa có nhiều
cơ hội để tiếp xúc và tìm hiểu về các công ty nước ngoài đang cần thuê lao động
một cách trực tiếp và phổ biến.
XKLĐ tại chỗ là hình thức các tổ chức kinh tế của ta cung ứng lao động cho
các tổ chức kinh tế nước ngoài ở VN, bao gồm : Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài; các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao; các tổ chức, cơ quan
ngoại giao của nước ngoài tại VN.
- Lý thuyết di chuyển nguồn lực và nguyên nhân hình thành XKLĐ
Mặc dù mới chỉ xuất hiện từ cuối thế kỉ 19 nhưng XKLĐ đang ngày càng
khẳng định rõ tính chiến lược và tất yếu trong hoạt động KT - XH của quốc gia và
thế giới. Cũng giống như bất kì một hiện tượng kinh tế nào khác, XKLĐ cũng có
những điều kiện và tiền đề phát triển riêng của nó. Quá trình hình thành và phát
triển của XKLĐ bắt đầu từ sự di cư quốc tế. Đây là một nhân tố hình thành khách
quan tất yếu kể từ khi xuất hiện xã hội loài người.
Di cư lao động quốc tế được bắt đầu từ việc buôn bán nô lệ. Vào những năm
1440, các thuỷ thủ Châu Âu đã bắt những người Châu Phi và đưa họ về Châu Âu
để làm nô lệ cho gia đình mình. Và hơn một thế kỉ sau, chuyến tàu buôn nô lệ đầu
tiên đã đưa những người da đen từ Châu Phi tới làm việc trên các đồn điền mía và
thuốc lá tại miền Tây Châu Mĩ. 15 triệu người đã bị bắt đi làm nô lệ chỉ trong vòng
có vài thế kỉ. Bên cạnh đó là làn sóng những người lao động nghèo từ châu Âu
cũng bắt đầu đổ xô sang Châu Mĩ tìm kiếm công việc. Cho tới thế kỉ 18, nhiều
quốc gia ở Châu Âu bắt đầu áp dụng các biện pháp để hạn chế di cư ra nước ngoài
nhằm tránh mất nhiều nguồn nhân lực cần thiết. Nhưng tới giữa những năm 1800,
Chủ nghĩa tự do kinh tế đã xoá bỏ hoàn toàn những rào cản này tạo điều kiện cho
việc tự do buôn bán và đồng thời cả tự do di cư lao động quốc tế.
Cho tới sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất tình hình mới dần được cải
thiện, việc quản lý lao động nhập cư được sử dụng để bảo vệ các thị trường trong
nước. Giai đoạn 1920 và 1930, do thất nghiệp hàng loạt xảy ra ở khắp mọi nơi trên
thế giới đã khiến các nước phải thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ lao động
trong nước khỏi sự cạnh tranh của lao động nước ngoài. Di cư lao động chuyển
sang một giai đoạn mới. Tới thời kì 1950 - 1970, do sự chuyển dịch trong cơ cấu
ngành và cơ cấu lao động dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật, các
quốc gia Châu Âu có nhu cầu rất lớn về lao động phổ thông. Nhằm đáp ứng nhu
cầu đó rất nhiều lao động từ các nước Châu Phi và Châu Á đã đến làm việc tại khu
vực này. Thời gian trôi qua, xã hội loài người ngày càng bước lên một bậc thang
tiến hoá mới văn minh hơn, nhiều thành tựu khoa học ra đời cùng với sự bùng nổ
dân số toàn cầu và do các đặc điểm phân bố địa lý, dân cư ở các vùng là khác
nhau, luồng lao động di cư lại càng phát triển hơn. Từ hình thức tự phát, di cư lao
động bắt đầu chuyển sang hình thức mới có tổ chức với sự can thiệp và quản lý của
Chính phủ. Lao động ở những quốc gia có nền kinh tế chậm và đang phát triển với
mức sống thấp có xu hướng di cư tới các quốc gia có đời sống kinh tế khá hơn, các
quốc gia phát triển.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×