Tải bản đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm: Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
-
Đăng ngày: 21/01/2008- Lượt đọc: 70
I- NHẬN THỨC VẤN ĐỀ:
Trong giảng dạy bộ môn nào cũng phải theo đúng đặc trưng của bộ môn ấy. Đó là nguyên
tắc hàng đầu mà bất cứ người giáo viên ở bộ môn nào cũng phải tuân theo. Đối với bộ môn
Ngữ văn trong trường THCS là một môn học đồng tâm của ba phân môn Văn- Tiếng Việt-
Tập làm văn. Cả 3 phân môn được tích hợp với nhau trong từng bài dạy. Đối với phân môn
Văn, việc dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại không phải chỉ khi thay sách giáo
viên mới làm mà việc này chúng ta cũng đã từng bước thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học. Thực hiện việc thay sách đồng bộ và cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực
phát huy năng lực chủ động tư duy sáng tạo của học sinh từ năm 2002 đến nay (Năm học
2006- 2007) bước sang vòng 2 của việc thay sách, chúng ta, giáo viên trực tiếp đứng lớp,
giảng dạy bộ môn Ngữ văn cũng đã đạt được những kết quả bước đầu và có thể rút ra được
những kinh nghiệm nhỏ của bản thân về phương pháp dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng
thể loại: Tự sự, biểu cảm, nghị luận...
Bản thân tôi, trực tiếp đứng lớp giảng dạy, xin mạnh dạn trình bày với các đồng chí đồng
nghiệp những suy nghĩ và việc làm "Dạy Đọc- Hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại" cụ
thể là thể loại tự sự, truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười trong phần văn học dân
gian như sau:
II- LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:

Tự sự là loại tác phẩm văn chương dùng lời kể để tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan
nhằm dựng lại một dòng đời qua những sự việc, những biến cố, những con người. Qua đó bày
tỏ cách hiểu, một thái độ nhất định. Loại hình tự sự bao gồm nhiều thể tài như thần thoại, sử
thi, truyện cổ, truyện thơ, tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn... các thể ký như hồi ký, bút ký,
ký sự, tuỳ bút, phóng sự...
Kể ra các sự việc, các biến cố, các việc làm, lời nói cụ thể cá biệt của nhân vật bằng một câu
chuyện, một dòng đời theo một cách nhìn, một giọng điệu nhất định.
Tác phẩm tự sự giúp chúng ta quan sát thế giới khách quan trong toàn bộ biểu hiện của nó
trong toàn cảnh cũng như trong chi tiết. Ở cấp THCS, các tác phẩm tự sự thường đơn giản:
Sự việc, biến cố, việc làm của nhân vật... giúp ta dễ dàng nắm bắt, theo dõi, hiểu và cảm tác
phẩm.
Các tác phẩm tự sự dân gian (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười) ở trong nước và
nước ngoài đều là những truyện phù hợp với tâm lý các em học sinh và được học trọn vẹn
trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6. Khi dạy học loại tự sự này chúng ta cần
quan tâm tới những đặc điểm nổi bật về đặc trưng thi pháp và phương thức tiếp cận của tác
phẩm, đó là:
*Tính diễn xướng: Tác phẩm tự sự dân gian là một nghệ thuật tổng hợp vừa là nghệ thuật có
tính diễn xướng. Nó chỉ thực sự sống trong biểu diễn, trong diễn xướng tức là qua nói, kể, ca,
diễn.
Ví dụ: Truyện cổ tích "Tấm Cám" người ta có thể nói, kể lại truyện, có thể ca chèo, diễn
kịch...
*Tính truyền miệng và tính diễn xướng là hai thuộc tính khác nhau của tác phẩm tự sự dân
gian nhưng lại có mối quan hệ rất mật thiết. Tính truyền miệng không chỉ phản ánh những
phương thức lưu truyền mà còn phản ánh cả phương thức sáng tác. Tính chất này cũng chi
phối tác phẩm dân gian ở nhiều phương diện mà trước hết là tính dị bản.
*Tính tập thể: Do nhân dân sáng tác nhằm mục đích thể hiện một quan niệm, một cái nhìn về
những mặt cuộc sống, về những ước mơ tốt đẹp, mong muốn một xã hội công bằng... Do đó
tính trữ tình và châm biếm, hài hước cũng được bộc lộ.
*Tính trữ tình được thể hiện thông qua những nhân vật chính diện đại diện cái thiện, cái
chính nghĩa, cái tốt đẹp mà nhân dân hướng tới. Nhân vật phản diện bao giờ cũng bị trừng trị
đích đáng, sự yêu ghét thể hiện rõ ràng trong từng tác phẩm tự sự, truyền thuyết, cổ tích.
Những tác phẩm ngụ ngôn, truyện cười thì đậm chất châm biếm, hài hước, mua vui.
Có thể nói: Tác phẩm tự sự dân gian là một kho lưu giữ trí tuệ tưởng tượng phong phú, thông
minh, sáng tạo, nghệ thuật của nhân dân ta. Tư tưởng, tình cảm của nhân dân cũng được bộc
lộ phong phú, muôn hình, muôn vẻ. Vì thế mỗi tác phẩm tự sự dân gian (truyền thuyết, cổ
tích, ngụ ngôn, truyện cười) đều dễ ăn nhập vào trí nhớ người đọc, người nghe, nhất là đối
với thế giới trẻ thơ. Đối tượng của chúng ta trong nhà trường, các em rất yêu thích khi được
tiếp xúc, học tập thể loại này.
Người giáo viên khi dạy Đọc- Hiểu về đặc trưng thể loại này cũng cần phải linh hoạt, nắm
vững khái niệm chung của thể loại cùng với phương thức cơ bản của nó để cung cấp cho học
sinh. Cũng là tác phẩm tự sự nhưng truyền thuyết khác cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Trong
giờ dạy Đọc- Hiểu phải chú ý tới 4 vấn đề lớn đó là:
1. Học sinh đọc kỹ văn bản, hiểu văn bản theo tư duy nhận thức cá nhận.
2. Sự tác động của giáo viên tới học sinh trong giờ Đọc- Hiểu.
3. Hoạt động ngoại khoá mở rộng tri thức văn học của học sinh.
4. Học sinh tích luỹ tri thức và huy động vốn ngôn ngữ, tri thức trong tạo lập văn bản nói và
viết.
VẤN ĐỀ THỨ NHẤT:
Học sinh Đọc- Hiểu văn bản theo tư duy nhận thức cá nhân.
1. Để đọc hiểu tác phẩm tự sự dân gian theo những chuẩn mực nào đó đã được quy định
trong chương trình, sách giáo khoa. Trước hết, giáo viên phải giúp học sinh tái hiện tác phẩm
vì tái hiện là thao tác tư duy đầu tiên, quan trọng nhất của đọc để cảm nhận tác phẩm.
Ví dụ: Khi dạy truyện truyền thuyết: "Con Rồng cháu Tiên" (SGK- Ngữ văn 6- tập 1).
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh ảnh Đền Hùng, gợi cho học sinh liên tưởng về nguồn
gốc lịch sử dân tộc, tạo tâm thế vào bài. Học sinh gọi được tên Đền Hùng, liên tưởng đến một
di tích thiêng liêng gắn với lịch sử cội nguồn dân tộc. Giáo viên tiếp tục gợi cho học sinh nhớ
đến một câu hát dân gian nhắc đến cội nguồn dân tộc Việt Nam:
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba."
và câu nói của Bác Hồ với các chiến sĩ dưới chân Đền Hùng:
"Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước."
để chuyển tiếp vào bài.
Nguồn gốc là một sức mạnh bí ẩn của con người. Bất cứ ai, dân tộc nào, từ cổ tới kim đều đặt
ra câu hỏi thiêng liêng về nguồn gốc của mình. Sự hiểu biết về nguồn gốc có giá trị làm cho
con người dường như được tiếp sức và trở nên mạnh mẽ hơn.
Tổ chức tốt tâm thế tiếp nhận tác phẩm cho học sinh, với một bài Đọc- Hiểu trên lớp thì sự
mở đầu để tiếp cận tác phẩm có giá trị như là một sự "khơi mào" của tưởng tượng. Bước tiếp
theo mới là đọc.
2. Hoạt động đọc có thể diễn ra dưới các hình thức đọc bằng mắt, đọc thầm, đọc thành tiếng,
đọc một mình, đọc trước một nhóm, đọc trước tập thể vài chục người. Tuỳ từng tác phẩm mà
giáo viên hướng dẫn học sinh đọc vận dụng cho linh hoạt trong suốt cả quá trình tìm hiểu
khám phá tác phẩm và cả sau giờ học trên lớp đã kết thúc. Yêu cầu đọc đúng vẫn được đặt ra
song song với các yêu cầu khác như đọc hiểu nhanh, đọc thầm liên tưởng, đọc tái hiện, đọc
diễn cảm... Đọc thành tiếng với yêu cầu đọc đúng (đúng chính tả, ngữ âm, nhịp điệu). Đọc
diễn cảm ở mức độ nghệ thuật có sự hỗ trợ của tình cảm, cảm xúc góp phần tái hiện tác phẩm.
Đọc diễn cảm chỉ thành công khi học sinh tự hiểu, rung động với những gì tác phẩm đề cập.
Ví dụ: Khi dạy truyện ngụ ngôn: "Thày bói xem voi":+Giáo viên cho học sinh đọc diễn cảm
phân vai sẽ góp phần tái hiện lại không gian thời điểm, sự việc diễn ra của 5 ông thầy bói mù
xem voi, đoán dựa rồi xô xát, đánh nhau toạc cả máu đầu như một màn kịch vừa xảy ra. Qua
đó đã giúp cho người đọc, người nghe thấy được tính chất hài hước mua vui, châm biếm của
câu chuyện và tự rút ra được ý nghĩa của câu chuyện bằng cảm nhận và rung động riêng của
cá nhân.
Qua việc đọc cùng với hiểu thông tin ngay trên từng dòng văn bản (theo nghĩa hiển ngôn),
cao hơn nữa là tìm ra mối liên hệ giữa văn bản với những vấn đề ngoài văn bản (thực tế cuộc
sống) để tìm ra lớp nghĩa hàm ngôn trong câu chuyện. Như vậy từ khâu đọc cũng có thể hình
thành cho học sinh kỹ năng nhận xét, đánh giá, cảm thụ và nghe tốt, nói tốt, viết tốt Tiếng
Việt. Đồng thời với việc đọc, học sinh cũng có thể huy động vốn ngôn ngữ nói để kể lại câu
chuyện, hoặc đoạn truyện, kể tóm tắt truyện khi cần thiết phục vụ trong giờ Đọc- Hiểu văn
bản tự sự.
Đọc- Hiểu tốt, bản thân học sinh phải chủ động, tích cực, tiếp nhận khám phá văn bản theo
hướng: Đọc --> suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện --> huy động vốn kiến thức nâng cao cảm thụ cá
nhân.
Trong quá trình đọc, học sinh sự quan tâm tới các từ khó, các chú thích của văn bản, vừa đọc
vừa nhập vai vào nhân vật, hiện thực hoá chức năng biểu cảm của ngôn ngữ, tái tạo các biểu
tượng đậm đà màu sắc dân gian, tưởng tượng sinh động giúp cho năng lực cảm thụ văn của cá
nhân được phát triển và nâng lên. Học sinh nhìn nhận và có thái độ đánh giá đúng về cốt
truyện, nhân vật, lời kể, thái độ của nhân dân, ý nghĩa của câu chuyện liên quan đến các vấn
đề đời sống, lịch sử của dân tộc... vốn sống, tâm hồn, tình cảm, thông minh sáng tạo nghệ
thuật phong phú của nhân dân. Đọc- quan sát tranh hình SGK cũng là để nắm được nội dung,
ý nghĩa trực quan sinh động của câu chuyện...
Cốt truyện trong các văn bản tự sự dân gian là các biến cố, các sự kiện xảy ra liên tiếp từ cái
này đến cái kia, cái sau tiếp nối cái trước cho đến khi kết thúc câu chuyện. Cốt truyện là điểm
tựa cho câu chuyện đứng được và lưu truyền. Tuy nhiên, truyện dân gian cốt truyện còn đơn
giản, không phức tạp vì thế học sinh dễ nắm bắt, dễ thuộc, dễ nhớ, dễ kể.
Ví dụ: Khi Đọc- Hiểu văn bản: "Thánh Gióng" (Ngữ văn 6- Tập 1).
Học sinh đã chỉ ra được các sự việc:
1- Sự ra đời kỳ lạ của Thánh Gióng.
2- Gióng gặp sứ giả, cả làng nuôi Gióng.
3- Gióng cùng nhân dân chiến đấu và chiến thắng giặc Ân.
4- Gióng bay về trời.Các sự việc diễn ra đơn giản nhưng theo trình tự hành động của nhân
vật từ đầu câu chuyện đến khi kết thúc. Trong truyện dân gian, cốt truyện gắn chặt với nhân
vật đến nỗi nhiều khi kể chuyện tức là kể người như: Thánh Gióng, Sơn Tinh- Thuỷ Tinh, Sọ
Dừa, Thày bói xem voi...
Nhân vật trong truyện dân gian ít, chủ yếu sống bằng hành động. Sức hấp dẫn của truyện dân
gian thường dựa và sự đột ngột, ly kỳ, còn sự hấp dẫn của các nhân vật lại thường dựa vào sự
phóng đại theo tinh thần lãng mạn kỳ diệu (như trong truyện truyền thuyết, cổ tích) và thậm
xưng theo tinh thần hài hước (như ngụ ngôn, truyện cười).
Lời kể trong các tác phẩm tự sự dân gian được kể theo kí ức và kiến thức cộng đồng, trong
đó người ta gọi các sự vật, nhân vật theo tên gọi của chúng. Khi kể thường bắt đầu bằng
những từ ngữ chỉ thời gian đững trước các tình tiết, sự việc. Chẳng hạn như: "Ngày xửa ngày
xưa", "Vào đời", "Vào thời", "Một hôm", "ít lâu sau", "Thế rồi một ngày kia",... sử dụng ngôn
ngữ nhân dân đời thường cùng với ngôn ngữ kể, thứ 3, giấu mình thể hiện tính khách quan
của câu chuyện, nhưng cũng có lúc bộc lộ thái độ chủ quan của người kể nếu như họ muốn
nói thêm: "thật đáng đời", "dáng kiếp cho mẹ con Lý Thông",... Học sinh từ đó cũng dễ nhớ,
dễ thuộc và kể đợc chuyện dễ dàng.
Khi dạy các tác phẩm văn học dân gian, sau phần đọc, nhất thiết học sinh phải được kể lại
truyện hoặc có thể sau đọc-hiểu học sinh kể lại. Có thể kể tóm tắt, kể một đoạn, kể theo nội
dung tranh hình, kể ý nguyện hoặc kể sáng tạo... cũng có khi kể đan xen trong tiết học để làm
nổi bật trọng tâm những phần kiến thức tìm hiểu. Học sinh có thể đóng vai nhân vật kể lại
(dùng ngôi kể thứ nhất), đóng vai người kể giấu mình để thể hiện cái nhìn nhiều chiều (dùng
ngôi kể thứ ba). Học sinh kể sẽ rèn luyện được kỹ năng diễn đạt (nói) lưu loát, mạnh dạn
trước tập thể đông người, khiến các em có nhiều tự tin trong giao tiếp và học tập.
3. Khi dạy Đọc- Hiểu một văn bản tự sự cụ thể phải chú ý tới những nét đặc trưng
riêng của từng thể loại.
*Với truyện truyền thuyết, cổ tích hướng cho học sinh chú ý đến yếu tố siêu nhiên, thần kỳ,
những sự việc kỳ lạ, tính ngẫu nhiên, những yếu tố tình cờ xen vào câu chuyện.
Ví dụ: Truyện truyền thuyết "Sự tích Hồ Gươm" (Ngữ văn 6- tập 1) có bao nhiêu điều lạ: Lê
Thận được lưỡi gươm ở dưới nước, Lê Lợi được chuôi gươm ở trên rừng mà chắp lại rất
khớp, lưỡi gươm phát sáng kỳ lạ, chuôi gươm có chữ "Thuận Thiên". Việc trả gươm cũng
chứa đựng nhiều yếu tố thần kỳ. Tất cả đều là những yếu tố ngẫu nhiên, kỳ lạ, chứa đựng ý
nghĩa sâu xa. Đó là những điều ta không thể bỏ qua khi cho học sinh Đọc- Hiểu, khám phá
văn bản.
Trong truyện truyền thuyết, nhân vật "thần" luôn xuất hiện đậm nét, được tác giả dân gian
giới thiệu, miêu tả qua các chi tiết về lai lịch, hình dạng, chức năng của thần, mối quan hệ của
thần với xã hội người.
Ví dụ: Lạc Long Quân, Âu Cơ (truyền thuyết: Con Rồng cháu Tiên- Ngữ văn 6- tập 1); thần
mách bảo Lang Liêu (truyền thuyết: Bánh chưng bánh giầy), Đức Long Quân cho Lê Lợi
mượn gươm thần (truyền thuyết: Sự tích Hồ Gươm)...
Đọc- Hiểu văn bản truyền thuyết không chỉ khám phá, phát hiện nhân vật thần, yếu tố siêu
nhiên thần thánh mà cần phải hiểu được ý nghĩa sâu xa của các hình tượng thần. Trong buổi
đầu sơ khai mở nước, dựng nước, giữ nước của dân tộc, nhân dân mong muốn có sức mạnh
siêu nhiên thần kỳ để làm nên các việc lớn lao. Do vậy họ đã tưởng tượng xây dựng hình
tượng nghệ thuật thi vị hoá để ca ngợi công lao to lớn, thành quả tốt đẹp phải vượt qua không
ít những khó khăn, trở ngại, nguy hiểm: Thú dữ, thiên tai, lũ lụt, giặc ngoại xâm; công việc
làm ăn... vươn lên những cái tốt đẹp trong cuộc sống. Mối quan hệ của các vị thần với xã hội
người gần gũi, thân thiện.
Ví dụ: Lạc Long Quân: Giúp dân trừ diệt Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, dạy dân cách trồng
trọt... Sự xuất hiện đến, đi cũng rất nhanh "Thoắt hiện, thoắt biến" ly kỳ và hấp dẫn. Với
truyền thuyết, vốn chỉ là những mẩu chuyện nhằm bổ sung cho khuyết sử cho nên khi đọc
hiểu tiếp cận, phân tích học sinh không được coi đây là những tài liệu lịch sử mà coi như
những sáng tạo nghệ thuật tức là phải hiểu và phân tích chất "thơ và mộng" hoá các vấn đề
liên quan đến lịch sử nhằm giải thích vấn đề liên quan đến lịch sử dân tộc.
Truyện truyền thuyết "Sơn Tinh - Thuỷ Tinh" cũng bắt đầu từ những yếu tố kỳ lạ, đó là phép
lạ của 2 vị thần: Một vị "vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi...", một vị "gọi gió gió
đến, hô mưa mưa về..." Yếu tố thần kỳ khi hai vị đánh nhau, các con vật của vua Hùng đòi
sính lễ cũng đầy những dấu hiệu kỳ lạ "Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao", sự
việc "nước dâng cao bao nhiêu thì đồi núi cao lên bấy nhiêu"... Tất cả đều thật là kỳ diệu.
Mục đích sáng tác truyện này của nhân dân nhằm giải thích hiện tượng lũ lụt hàng năm vào
tháng 7, tháng 8 ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và thể hiện ước mơ chiến thắng lũ lụt của cha ông.
Khi đọc hiểu, học sinh có thể rất thích thú tài năng của hai vị thần nhưng tình cảm của các em
ngay từ đầu đã nghiêng về Sơn Tinh và thích thú bơi cách giải thích và ước mơ cao đẹp của
nhân dân. Cũng qua truyện này, học sinh tích hợp mở rộng thêm trong kho tàng truyện cổ
VIệt Nam ông cha ta còn tưởng tượng ra thần linh để giải thích hiện tượng thiên nhiên như
Thần Trụ trời, Thần Sét...
Yếu tố thần trong truyện cổ tích chỉ được xuất hiện khi con người gặp khó khăn nhất mà
chưa tìm ra cách giải quyết các sự việc. Thần chỉ xuất hiện kèm với một lời nói hoặc một việc
làm rồi lại thoắt biến rất nhanh.
Ví dụ: Truyện cổ tích "Cây bút thần" trong giấc ngủ Mã Lương nằm mơ thấy thần hiện lên
cho em một cây bút bằng vàng sáng lấp lánh..., học sinh đọc hiểu chi tiết và phát hiện được ý
nghĩa khi Mã Lương chưa qua "Khổ luyện thành tài" thì thần vẫn không cho bút. Khi thành
tài thần mới cho bút là phần thưởng xứng đáng đối với Mã Lương và cũng là thể hiện được
ước mơ người lao động nghệ thuật chân chính có phương tiện lao động để phục vụ chân
chính.
Học sinh cũng có thể tích hợp với các truyện cổ tích khác, có yếu tố "Thần" xuất hiện giúp
con người lao động, lương thiện như truyện "Tấm Cám", "Cây tre trăm đốt"...
Mô típ kể chuyện trong truyện cổ tích thường có 2 tuyến nhân vật đối lập. Khi Đọc- Hiểu
từng văn bản, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nhân vật, hành động, kết quả nhân vật
và rút ra nhận xét ý nghĩa, mục đích của truyện được kể.
Ví dụ:
Truyện cổ tích "Em bé thông minh" kể về nhân vật kỳ tài nên truyện không có yếu tố thần
linh. Nhân vật em bé thông minh đã 4 lần giải đố những câu đố oái oăm của viên quan, vua,
sứ thần nước ngoài, nhằm đề cao trí thông minh trên cơ sở vốn sống, kinh nghiệm thực tế của
dân gian rất hấp dẫn, sinh động.
Truyện cổ tích "Thạch Sanh" ngoài yếu tố thần kỳ, hai tuyến nhân vật đối lập thiện và ác
được thể hiện rất rõ. Kết cục của truyện người ăn ở hiền lành, thật thà, tốt bụng được đền bù
xứng đáng, kẻ bất nhân bị trừng trị, đánh đập, rút ra cho người đọc những ước mơ công bằng
xã hội, quan niệm sống đúng đắn của nhân dân. Truyện kể hấp dẫn bởi nhân vật là một dũng
sĩ vừa đấu tranh với thiên nhiên, chống các loài yêu quái, vừa đấu tranh chống giai cấp trong
xã hội, lại vừa đấu tranh chống 18 nước Chư hầu, đấu tranh cho tình yêu hạnh phúc. Trí
tượng tưởng bay bổng của nhân dân qua yếu tố thần kỳ: Bộ cung tên vàng, cây đàn thần, niêm
cơm thần... Học sinh đọc hiểu phát hiện ra các chi tiết, sự việc, nhân vật, các diễn biến tình
tiết và kết quả nhân vật kết hợp với phân tích, bình xét, đánh giá nhân vật theo quan niệm,
ước mơ của nhân dân, bộc lộ sự yêu ghét rõ ràng trong nhận thức cá nhân.
*Đối với Đọc - Hiểu truyện ngụ ngôn cần nắm bắt đặc trưng của truyện thường mượn
chuyện của vật để nói về chuyện người, nhân vật thường là những con vật (Ếch ngồi đáy
giếng; Thỏ và Rùa; Hươu và Rùa...). Nhưng cũng có khi kể chuyện người để rút ra bài học
triết lý được gửi gắm trong đó (Thày bói xem voi). Cần chú ý từ một câu chuyện ngụ ngôn
đôi khi người ta có thể rút ra những bài học khác nhau. Cho nên cần đem những bài học rút ra
được đó nghiệm lại với câu chuyện kể và lựa chọn lấy bài học mà ta coi là của chính người
đặt truyện ngụ ngôn trong câu chuyện để đánh giá. Giáo viên có thể đưa ra các hình thức để
học sinh bày tỏ quan điểm, thống nhất ý kiến qua hình thức: Trao đổi nhanh, phiếu học tập
hoặc câu hỏi trắc nghiệm.+Tên các văn bản truyện ngụ ngôn thường là một thành ngữ: "Ếch
ngồi đáy giếng", "Thày bói xem voi", "Đeo nhạc cho mèo" (Ngữ văn 6- tập 1) bước đầu đã
gây sự chú ý người đọc về vỏ âm thanh bề ngoài, về tính hình tượng và ý nghĩa của tính hình
tượng của thành ngữ. Từ đó có thể rút ra bài học triết lý sâu sắc của nhân dân gửi gắm trong
câu chuyện phù hợp với quan điểm nhận thức của từng truyện đặt ra. Học sinh còn có thể tích
hợp được với phần Tiếng Việt đã học (ở bậc Tiểu học) về Thành ngữ- hiểu thành ngữ và như
vậy cũng có thể hiểu ngay nội dung chủ đề chính của văn bản đang học thể hiện ngay ở đầu
đề văn bản.
*Khi Đọc- Hiểu truyện cười, cần hiểu truyện cười lấy tiếng cười làm mục đích cho nên làm
thế nào gây được cười đó là điều tác giả dân gian hằng nghĩ tới. Về hình thức nghệ thuật nói
chung truyện cười là thể loại truyện dân gian ngắn nhất. Kết cấu của truyện chặt chẽ, cái cười
là sản phẩm của nhận thức, lý tính, là kết quả của sự phát hiện ra cái mâu thuẫn giữa nội dung
và hình thức giữa lời nói và việc làm. Sự trái tự nhiên, không phù hợp... đều dẫn đến tiếng
cười. Tiếng cười khi là để mua vui, giải trí, có khi là để châm biếm, đả kích nhưng cái đáng
cười bao giờ cũng được đặt trong tình thế nực cười nhất. Khi đọc hiểu truyện cười người ta
cũng có thể bật lên thành tiếng cưới to, cười khúc khích, cười tủm tỉm, cười thầm. Học sinh
đọc hiểu truyện cười không chỉ dừng lại ở chỗ gây cười mà cần phải hiểu rõ cười cái gì ?
Vì sao mà cười?
Nghệ thuật gây cười ở chỗ nào?
Suy nghĩ gì về cái đáng cười, về cái điều nằm ở phía sau hiện tượng gây cười hay nói cách
khác là ý nghĩa truyện cười. Tìm được ý nghĩa tác phẩm tức là đã hiểu tác phẩm. Muốn tìm
được ý nghĩa tác phẩm phải thông qua phân tích tác phẩm hoặc "giải mã" các đơn vị nghệ
thuật của tác phẩm.
Ví dụ: Đọc- Hiểu truyện cười "Lợn cưới áo mới" (Ngữ văn 6- tập 1) cái cười được bộc lộ qua
hành động, ngôn ngữ của từng nhân vật thích khoe của. Của chẳng đáng là bao (chiếc áo, con
lợn) mà vẫn thích khoe. Hành động và ngôn ngữ khoe của các nhân vật đều quá đáng, lố bịch.
Tác giả dân gian đã tạo được cuộc ganh đua trong việc khoe của ở các nhân vật "anh áo mới"

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×