Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NH TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

1
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NH TMCP KỸ THƯƠNG
VIỆT NAM
3.1. Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh của Techcombank
3.1.1. Chính sách của nhà nước và diễn biến của thị trường thế giới
Nhà nước sẽ chú trọng nới lỏng gánh nặng cho doanh nghiệp bằng
cách giảm thuế, thị trường nội địa sẽ được chú trọng khai thác trong năm
2010. NHNN sẽ tập trung tín dụng và tạo điều kiện hỗ trợ cho các nhu cầu
vay vốn trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu, nông nghiệp và phát triển
nông thôn, hạn chế tín dụng đối với các nhu cầu vốn ở các lĩnh vực phi sản
xuất. Nhà nước thông qua nghiệp vụ hoạt động thị trường mở làm cho thị
trường liên ngân hàng phải tương thích với lói suất tỏi cấp vốn - tỏi chiết
khấu, trỏnh những cỳ sốc về lói suất.
Trong năm 2010 theo dự báo của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền
tệ Quốc tế (IMF), nhiều khả năng kinh tế thế giới sẽ có những chuyển biến
tích cực hơn. Tuy nhiên sẽ tiềm ẩn nhiều khó khăn trong năm 2010. Khu vực
tiền tệ chưa bền vững, rủi ro cao. Các thị trường chứng khoán, tiền tệ, ngoại
hối đó cú dấu hiệu phục hồi, song cũn chứa đựng nhiều bất ổn.
3.1.2. Định hướng của Tehcombank
Trước nguy cơ khó khăn và suy thoái vẫn có thể xảy ra trong năm
2010, HĐQT và Ban TGĐ của Techcombank đó đề ra một chương trỡnh hành

động thiết thực trong năm 2010 cụ thể như sau: Techcombank sẽ tập trung
vào chuẩn hoá đội ngũ nhân viên, củng cố hệ thống quản trị rủi ro, phát triển
huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế, củng cố cơ sở khách hàng và
nguồn vốn huy động, triển khai và phát huy các chương trỡnh kinh doanh
chủ đạo, tập trung phát triển công nghệ.
Trong đó, những chỉ tiêu cụ thể về chính sách huy động vốn như sau:
điều chỉnh cơ cấu huy động vốn hợp lý theo xu hướng giảm thiểu chi phí huy
2
động vốn bằng cách củng cố cơ sở khách hàng cá nhân và doanh nghiệp hiện
có, phát triển khách hàng mới một cách chọn lọc, tiếp tục tập trung huy động
vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế, thúc đẩy hơn nữa các sản phẩm huy
động mới và các chương trỡnh quảng bá nhằm thu hút thêm nguồn huy
động mới.
3.2. Giải pháp tăng cường huy động vốn của Techcombank
3.2.1. Hoàn thiện và mở rộng cỏc hỡnh thức huy động vốn
Đa dạng hoỏ sản phẩm theo cỏc loại hỡnh khỏc nhau. Học tập các
ngân hàng nước ngoài đó ỏp dụng như trỡnh bày trong chương 1 về sản
phẩm tiền gửi của Citibank, Standard Chater Bank, ANZ...
Phân nhóm và mở rộng đối tượng khách hàng. Đa dạng hoá sản phẩm
theo nhóm khách hàng là hướng đa dạng bằng cách chia khách hàng ra theo
từng nhóm đặc thù, đồng thời thiết kế sản phẩm tiền gửi có những nét đặc
thù dành cho nhóm đối tượng khách hàng đó.
3.2.2. Đẩy mạnh chính sách Marketing
Thực hiện thường xuyên việc nghiên cứu thị trường. Việc nghiên cứu
thị trường phải thường xuyên, trên cơ sở so sánh sản phẩm, lói suất, các
hoạt động quảng cáo, mạng lưới ngân hàng... với các đối thủ cạnh tranh. Đa
dạng các loại tờ rơi, sách giới thiệu về sản phẩm dịch vụ của Techcombank,
tăng cường quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng hỡnh
ảnh. Xây dựng một biểu tượng đẹp và ấn tượng thông qua cơ sở vật chất,
văn hoá trong nhân viên cũng như cam kết chất lượng dịch vụ là những điều
kiện cần phải hoàn thành. Techcombank cần duy trỡ mối quan hệ lõu dài với
khỏch hàng và chăm sóc khách hàng tận tỡnh, chu đáo.
Techcombank nên thường xuyên cung cấp thông tin về khả năng tài
chính, báo cáo có kiểm toán của ngân hàng thông qua các phương tiện thông
3
tin đại chúng để mọi nhà đầu tư cũng như khách hàng có thể tỡm hiểu về
năng lực tài chính và kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Tỡm kiếm thị trường tiềm năng và mở rộng mạng lưới chi nhánh.
Techcombank cần tiến hành phân tích đánh giá lại tính hiệu quả của mạng
lưới hoạt động và mở rộng hệ thống nếu thấy cần thiết.


3.2.3. Chú trọng đến chính sách nhân sự
Techcombank phải mở nhiều khóa đào tạo chuyên nghiệp cho giao
dịch viên về hỡnh ảnh chuyờn nghiệp, khiến thức sản phẩm, kỹ năng giao
tiếp và xử lý tỡnh huống tốt. Xây dựng môi trường làm việc tích cực và có
chính sách đói ngộ xứng đáng. Chính sách đói ngộ thỏa đáng sẽ là cơ sở để
nhân viên Techcombank gắn bó lâu dài với ngân hàng và ra sức cống hiến
nhiều hơn cho sự phát triển của ngân hàng. Có chương trỡnh đánh giá năng
suất lao động của nhân viên bằng hệ thống đánh giá hiệu quả lao động chính
xác. Tất cả cán bộ, nhân viên của Techcombank từ cấp thấp nhất phải có
được tinh thần tận tuỵ vỡ sự thành cụng của một ngõn hàng vững chắc, tin
cậy, chuyờn nghiệp, hiện đại.
3.2.4. Tăng cường công nghệ và trang bị thiết bị quản lý hiện đại
Công nghệ phải không ngừng được cải tiến, nâng cấp và hiện đại, thực
sự trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhân viên ngân hàng. Trung
tâm công nghệ cần phải rà soát lại toàn bộ công cụ trong T24, phần nào cần
giữ lại, phần nào cần bỏ đi để giảm tải cho hệ thống. Bên cạnh đó,
Techcombank cần lập kế hoạch nâng cấp và đổi mới trang thiết bị công nghệ
để tăng khả năng xử lý trong quỏ trỡnh tỏc nghiệp của cỏn bộ nhõn viờn.
trường đại học kinh tế quốc dân
---------- -----------
Hà thị Huyền
Tăng cường huy động vốn tại Ngân Hàng Thương
Mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam
Chuyên ngành: tàI chính – ngân hàng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Đức Lữ
Hà nội, năm 2010
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận văn
Nền kinh tế hiện nay có nhiều biến động nhất là về mặt giá đó ảnh
hưởng không nhỏ tới tỡnh hỡnh kinh doanh của hệ thống ngõn hàng đặc
biệt là nghiệp vụ huy động vốn.
Nghiệp vụ huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng
nhất của mỗi ngân hàng. Nguồn vốn huy động được chính là nguyên liệu
đầu vào với ngân hàng để từ đó ngân hàng sẽ luân chuyển và điều phối để
tạo ra những sản phẩm thiết thực cho thị trường. Để đảm bảo đầu vào của
ngân hàng được đều đặn và chi phí ít nhất luôn là mục tiêu đầu tiên với mỗi
ngân hàng. Trong giai đoạn hệ thống ngân hàng trong nước đang cạnh
tranh gay gắt như hiện nay thỡ việc duy trỡ được nguồn vốn đầu vào giá rẻ
là rất cấp bách. Techcombank hiểu rừ được nhiệm vụ hàng đầu này và đó
luụn cố gắng tạo sự khỏc biệt, cải tiến trong dịch vụ để thu hút nhiều khách
hàng hơn nữa.
Xuất phát từ nhận định trên, tôi chọn đề tài: “Tăng cường huy động
vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Qua quỏ trỡnh tỡm hiểu và phõn tớch về tỡnh hỡnh huy động vốn
của Techcombank tôi đưa ra những nhận định về điểm mạnh cũng như
điểm yếu của Techcombank. Từ đó đưa ra giải pháp nhằm phát huy điểm
mạnh và hạn chế những điểm yếu trong đó có đưa ra những giải pháp hạn
chế rủi ro trong huy động vốn đặc biệt là rủi ro lói suất để hỗ trợ
Techcombank huy động vốn hiệu quả hơn nữa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đi sâu vào phân tích thực trạng
huy động vốn của Techcombank thông qua quy mô huy động vốn, cơ cấu
huy động vốn. Sau là nghiên cứu đưa ra giải pháp thiết thực cho hoạt động
huy động vốn của Techcombank.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chủ yếu hoạt động huy động vốn
nợ của Techcombank trong 3 năm gần đây nhất là từ năm 2007 đến 2009
và 06 tháng đầu năm 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm phương pháp luận cơ bản cho việc
nghiên cứu. Ngoài ra luận văn cũn sử dụng phương pháp hệ thống hoá,
phân tích thống kê, so sánh, tổng hợp... đánh giá sự phát triển trong quy mô
huy động vốn của Techcombank.
5. Những đóng góp của luận văn
Trờn cở sở thống kờ và phõn tớch về tỡnh hỡnh huy động vốn tại
Techcombank có so sánh với các ngân hàng khác trong nước và các ngân
hàng nước ngoài, luận văn đó tỡm hiểu được điểm tích cực và điểm hạn chế
trong chính sách của Techcombank. Từ đó đưa ra giải pháp đúng đắn nhất
để tăng cường huy động vốn nhiều hơn cho ngân hàng đó là:
- Đa dạng hoá sản phẩm.
- Đẩy mạnh công tác Marketing.
- Có chế độ đói ngộ nhõn viờn tốt nhất.
- Nâng cấp hệ thống công nghệ ngân hàng.
6. Kết cấu cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành 3 chương sau:
Chương 1: Tổng quan về huy động vốn của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại NH TMCP Kỹ Thương
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại NH TMCP
Kỹ Thương Việt Nam
Tuy nhiên, do bị hạn chế về cập nhật thông tin cũng như về kiến thức,
luận văn chắc chắn sẽ có thiếu sót. Kính mong nhận được nhiều ý kiến đóng
góp của Quý thầy cô, bạn bè và độc giả để nội dung luận văn được hoàn
chỉnh hơn.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền
kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương
mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng
các ngân hàng.
Lịch sử hỡnh thành và phỏt triển của ngõn hàng gắn liền với lịch sử phỏt
triển của nền sản xuất hàng hoỏ. Qỳa trỡnh phỏt triển kinh tế là điều kiện và
đũi hỏi sự phỏt triển của ngõn hàng, đến lượt mỡnh, sự phỏt triển của hệ
thống ngõn hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi tiền hoặc đúc tiền của các
thợ vàng. Việc lưu hành những đồng tiền riêng của mỗi quốc gia hoặc vùng
lónh thổ kết hợp với thương mại và giao lưu quốc tế tạo ra yêu cầu đúc và đổi
tiền thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược
lại. Lợi nhuận thu được là từ chênh lệch giá mua bán.
Túm lại, ngõn hàng là một loại hỡnh tổ chức quan trọng đối với nền kinh
tế. Các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai
trũ mà chỳng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề ở chỗ các yếu tố trên đang
không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính – bao gồm cả các
công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty
bảo hiểm ngân hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân
hàng. Ngược lại, ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh (các tổ
chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về
bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư
vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương
diện những loại hỡnh dịch vụ mà chỳng cung cấp. Ngõn hàng là cỏc tổ chức tài
chớnh cung cấp một danh mục cỏc dịch vụ tài chớnh đa dạng nhất - đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Một số định
nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu. Ví dụ: Luật các tổ chức tín dụng của
nước Cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam ghi: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ
thanh toán”.
1.1.2. Hoạt động của Ngân Hàng Thương mại
Chương 3 của luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động của tổ chức tín
dụng, trong đó chủ yếu là ngân hàng thương mại, bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động tín dụng.
- Hoạt động dịch vụ thanh toán.
- Hoạt động ngân quỹ.
- Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường
tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh
doanh dịch vụ mua bảo hiểm, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các
dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng.
■ Hoạt động huy động vốn:
Ngân hàng thương mại được huy động vốn dưới các hỡnh thức sau:
• Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới
hỡnh thức tiền gửi khụng kỳ hạn, tiền gửi cú kỳ hạn và cỏc loai tiền gửi
khỏc.
• Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.
• Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ
chức tín dụng nước ngoài.
• Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng nhà nước.
• Cỏc hỡnh thức huy động khác theo quy định của nhà nước.
■ Hoạt động tín dụng:
Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các
hỡnh thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lónh,
cho thuờ tài chớnh và cỏc hỡnh thức khỏc theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước. Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm
tỷ trọng lớn nhất.
* Cho vay: Ngân hàng thương mại được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn
dưới các hỡnh thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản
xuất kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
* Bảo lónh: NHTM được bảo lónh vay, bảo lónh thanh toỏn, bảo lónh thực
hiện hợp đồng, bảo lónh đấu thầu và các hỡnh thức bảo lónh ngõn hàng khỏc
bằng uy tớn và bằng khả năng tài chính của mỡnh đối với người nhận bảo
lónh. Mức bảo lónh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lónh của một
NHTM khụng được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.
* Chiết khấu: NHTM được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương
phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác.
* Cho thuê tài chính: NHTM được hoạt động cho thuê tài chính nhưng
phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt
động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo nghị định của chính phủ về
tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính.
■ Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ:
Để thực hiện được các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông
qua ngân hàng, NHTM được mở tài khoản cho các khách hàng trong và ngoài
nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua ngân
hàng nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại NHNN
nơi NHTM đặt trụ sở chính và duy trỡ tại đó số dư dự trữ bắt buộc theo quy
định. Ngoài ra, chi nhánh của ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền
gửi tại Chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt
động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ bao gồm các hoạt động sau:
• Cung cấp các phương tiện thanh toán.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
• Thực hiện thu hộ và chi hộ.
• Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
• Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
• Thực hiện dịch vụ thu và phạt tiền mặt cho khách hàng.
• Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và thanh toán liên ngân hàng trong
nước.
• Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
■ Các hoạt động khác:
Ngoài các hoạt động chính bao gồm huy động tiền gửi, cấp tín dụng và
cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM cũn thể hiện một số hoạt động
khác, bao gồm:
Góp vốn và mua cổ phần: NHTM được sử dụng vốn điều lệ và quỹ dự
trữ để góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng
khác trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, NHTM cũn được góp
vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân
hàng liên doanh.
Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia thị trường tiền tệ,
theo quy định của NHNN, thông qua các hỡnh thức mua bỏn cỏc cụng cụ của
thị trường tiền tệ.
Kinh doanh ngoại hối: NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc
thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường
trong nước và thị trường quốc tế.
Uỷ thác và nhận uỷ thác: NHTM được uỷ thác và nhận uỷ thác làm đại
lý trong cỏc lĩnh vực liờn quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài
sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ
thác, đại lý.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm,
được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm
theo quy định của pháp luật.
Tư vấn tài chính: NHTM được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính,
tiền tệ cho khách hàng dưới hỡnh thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty
tư vấn trực thuộc ngân hàng.
Bảo quản vật quý giỏ: NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật
quý, giấy tờ cú giỏ, cho thuờ tủ kột, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan
theo quy định của pháp luật.
1.1.3. Các nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Trong cơ chế thị trường, vốn là một trong những yếu tố tiên quyết tác
động đến quy mô và hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Ngân hàng thương
mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tớn dụng, một
tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Cho nờn việc tạo
lập, tổ chức và quản lý vốn của ngõn hàng thương mại là một trong những vấn
đề được quan tâm hàng đầu không chỉ với riêng bản thân các ngân hàng
thương mại mà cũn vỡ sự phỏt triển chung của nền kinh tế.
Một cách tổng thể, vốn của ngân hàng thương mại cũng bao gồm hai bộ
phận: Vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Tuy nhiên, do đặc thù của lĩnh vực kinh
doanh cho nên các nguồn hỡnh thành nờn vốn hoạt động của ngân hàng
thương mại có những sự khác biệt, được xem xét cụ thể qua các nguồn vốn của
ngân hàng sau đây:
1.1.3.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn của ngõn hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngõn hàng (nờn cũn
gọi là vốn chủ sở hữu), nú bao gồm vốn tự cú và vốn coi như tự có.
+ Vốn tự có: bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ.
Vốn điều lệ: là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản
điều lệ của ngân hàng, được hỡnh thành ngay từ khi ngõn hàng thương mại
được thành lập. Gọi là vốn điều lệ vỡ vốn này được ghi rừ trong điều lệ hoạt
động của ngân hàng. Vốn điều lệ có thể điều chỉnh được tăng lên trong quá
trỡnh hoạt động của ngân hàng.
Quy mô vốn điều lệ của ngân hàng thương mại lớn hay nhỏ là tuỳ vào
quy mô của ngân hàng với số lượng chi nhánh nhiều hay ít và địa bàn hoạt
động là thành thị hay nông thôn, và không được nhỏ hơn vốn pháp định quy
định cho ngân hàng đó. Đây là số vốn tối thiểu theo luật định mà ngân hàng
phải có để đi vào hoạt động. Số vốn pháp định phụ thuộc vào các nghiệp vụ mà
ngân hàng thực hiện, địa bàn hoạt động, số chi nhánh mà nó có...
Quỹ dự trữ: Được hỡnh thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn
điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này được trích từ lợi
nhuận rũng (là lợi nhuận sau khi đó trừ thuế), hàng năm của ngõn hàng. Việc
hỡnh thành cỏc quỹ này nhằm làm tăng vốn tự có của Ngân hàng, đồng thời
đảm bảo an toàn trong kinh doanh.
+ Vốn coi như tự có:
Vốn coi như tự có bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân
hàng. Đây là những khoản vốn đó được phân bổ cho những mục đích chỉ tiêu
nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng, ví dụ: lợi nhuận chờ phân bổ,
tiền lương chưa đến hạn thanh toán hoặc các quỹ chuyên dùng chưa sử dụng
đến như quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi,
quỹ khấu hao tài sản cố định...
1.1.3.2. Vốn huy động
a. Tiền gửi không kỳ hạn
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào (nên cũn
được gọi là “tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu”.
Với loại tiền gửi này, người gửi không nhằm mục đích hưởng lói mà chủ
yếu là nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện các hoạt động thanh
toán qua ngân hàng. Chính vỡ vậy mà loại tiền gửi này cũn được gọi là tiền gửi
thanh toán. Người gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi tài
khoản bất cứ lúc nào.
b. Tiền gửi có kỳ hạn
Là loại tiền gửi chỉ được rút sau một thời hạn nhất định từ một vài
tháng đến vài năm. Mức lói suất của tiền gửi cú kỳ hạn thường cao hơn tiền
gửi không kỳ hạn nhưng những người gửi tiền loại này không được hưởng
dịch vụ thanh toán qua ngân hàng (ví dụ như không được ký phát séc). Mục
đích chủ yếu của những người gửi tiền có kỳ hạn là để lấy lói.
Ở các nước phát triển, tiền gửi có kỳ hạn thường dưới dạng các chứng
chỉ tiền gửi, cũn ở Việt Nam tiền gửi cú kỳ hạn thường dưới hai dạng:
- Tiền gửi có kỳ hạn theo tài khoản;
- Tiền gửi có kỳ hạn dưới hỡnh thức phỏt hành kỳ phiếu ngõn hàng.
Trong hỡnh thức này, ngõn hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động
vốn nhằm mục đích đó định, ví dụ để đầu tư cho một dự án...
Kỳ phiếu được phát hành theo hai phương thức:
- Phỏt hành theo mệnh giỏ: Trong hỡnh thức này người mua trả tiền
mua kỳ phiếu theo mệnh giá như ghi trên kỳ phiếu. Khi đến hạn ngân hàng sẽ
hoàn trả vốn gốc và thanh toán lói cho người mua kỳ phiếu.
- Phát hành dưới hỡnh thức chiết khấu: Trong hỡnh thức này người
mua sẽ trả số tiền mua kỳ phiếu bằng mệnh giá trừ đi khoản lói mà họ được
hưởng. Khi đến hạn, ngân hàng sẽ hoàn trả cho khách hàng theo mệnh giá của
kỳ phiếu. Như vậy, trong trường hợp này, khách hàng đó được trả lói trước.
c. Tiền gửi tiết kiệm
Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục
đích hưởng lói theo định kỳ. Hỡnh thức phổ biến và cổ điển nhất của tiền gửi
tiết kiệm là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Ngoài ra, cũn cú những hỡnh thức
khác như chứng chỉ tiết kiệm, trái phiếu tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm bao gồm ba loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi tiết kiệm mà
người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần
báo trước cho ngân hàng. Ngõn hàng trả lói cho loại tiền gửi này nhưng rất
thấp. Loại tiền gửi này gần giống với tiền gửi không kỳ hạn, chỉ khác là nó luôn
được hưởng lói, nhưng đổi lại không được hưởng các dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Là loại tiền gửi tiết kiệm có thời hạn gửi
cố định trước. Loại tiền gửi này cũng tương tự như tiền gửi có kỳ hạn ở các
điểm là không được phép rút trước hạn (nếu rút trước sẽ phải chịu phạt như
chỉ được hưởng lói suất khụng kỳ hạn hoặc thậm chớ khụng được hưởng lói),
được hưởng lói cao hơn các dạng tiền gửi không kỳ hạn và không được hưởng
các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với dạng tiền gửi này, người gửi chỉ
được gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lói khi đến hạn. Một lần
gửi được coi là một khoản tiền gửi riêng biệt. Mức tối thiểu của mỗi lần gửi
tiền do từng ngân hàng qui định.
- Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: Là hỡnh thức tiết kiệm trung và dài hạn
nhằm mục đích xây dựng nhà ở. Ngoài hưởng lói, thỡ người gửi tiền cũn được
ngân hàng cho vay nhằm bổ sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở. Mức
cho vay tối đa bằng số dư tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn là nguồn vốn quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại. Đây là nguốn vốn tương đối ổn định vỡ ngõn
hàng nắm được những kỳ luân chuyển của vốn, vỡ vậy ngõn hàng cú thể dựng
để cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn đều được. Vốn tiền gửi là nguồn
vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồn vốn chủ yếu để
ngân hàng kinh doanh. Nó phản ánh bản chất của ngân hàng là đi vay để cho
vay. Chính vỡ vậy, người ta gọi bản chất của ngân hàng thương mại là ngân
hàng tiền gửi.
1.1.3.3. Nguồn vốn đi vay
Trong quỏ trỡnh hoạt động, ngân hàng cũn cú thể vay vốn từ NHTW hay
cỏc tổ chức tớn dụng khỏc, hoặc từ thị trường tài chính trong và ngoài nước.
a. Vay từ NHTW
Bất kỳ ngân hàng thương mại nào khi được NHTW cho phép thành lập
hoặc hoạt động đều hưởng quyền vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu
hụt dự trữ hay quá thiếu tiền mặt. NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng
thương mại chủ yếu dưới hai hỡnh thức, đó là:
- Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá.
- Cho vay thế chấp hay ứng trước.
Do vậy, tiền vay NHTW cũn gọi là tiền chiết khấu hay ứng trước.
Hiện nay, NHNN Việt Nam ỏp dụng 3 hỡnh thức cấp tín dụng sau:
- Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác.
- Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. Thường là các hồ sơ tín dụng hỗ trợ
theo yêu cầu của nền kinh tế, như thu mua lương thực, nông sản; dự trữ vật tư,
nguyên liệu; sản xuất hàng hoá XK thuộc diện ưu tiên...
b. Vay ngắn hạn các khoản dự trự từ các TCTD khác
Mục đích chính của loại vay này là nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo
qui định của NHTW. Trong quá trỡnh hoạt động, một số ngân hàng thương
mại có những ngày cho vay quá nhiều dẫn đến sự thiếu hụt dự trữ bắt buộc tại
NHTW. Trong khi đó lại có một vài ngân hàng thương mại khác thừa dự trữ.
Để đảm bảo dự trữ theo qui định của NHTW, ngân hàng thương mại thiếu hụt
dự trữ sẽ vay của ngân hàng thương mại có dự trữ dư thừa. Thời hạn của loại
cho vay này rất ngắn, thường không quá một tuần.
c. Vay từ các công ty
Ở các nước phát triển, ngân hàng thương mại cũn cú thể vay trực tiếp
từ cỏc cụng ty bằng cỏc hỡnh thức:
- Vay ngắn hạn bằng các Hợp đồng mua lại: Hợp đồng mua lại là hợp
đồng trong đó ngân hàng bán các tín phiếu kho bạc mà mỡnh đang nắm giữ
cho các tổ chức kinh tế đang tạm thời thừa thiếu tiền mặt, có kèm theo điều
khoản mua lại số tín phiếu đó sau một vài ngày hay một vài tuần với mức giá
cao hơn. Về thực chất đây là một công cụ để vay nợ ngắn hạn (thường không
quá hai tuần) của các ngân hàng trong đó sử dụng tín phiếu kho bạc làm vật
thế chấp.
- Vay từ công ty mẹ: Ở các nước phát triển, một công ty hoặc tập đoàn
kinh doanh có thể là chủ của một hoặc nhiều ngân hàng thương mại. Khi ngân
hàng thương mại phát hành trái phiếu hay giấy nợ để vay tiền từ thị trường,
nó sẽ chịu sự quản lý và ràng buộc của NHTW về dự trữ, lói suất và thủ tục.
Trong khi đó, nếu công ty mẹ thực hiện điều này, nó không phải bị ràng buộc về
dự trữ, lói suất, số lượng do NHTW qui định, vỡ bản thõn nú khụng phải là một
ngõn hàng. Do vậy, cỏc cụng ty mẹ của ngõn hàng thường thay thế nó phát
hành trái phiếu, cổ phiếu công ty hay các loại thương phiếu để huy động vốn,
sau đó chuyển vốn huy động được về cho ngân hàng hoạt động dưới hỡnh thức
cho vay lại.
d. Vay từ thị trường tài chính trong nước
Các ngân hàng thương mại có thể vay từ thị trường tài chính thông qua
phát hành các chứng từ có giá như:
- Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng: Đây thực chất là các
chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn, có thể mua đi bán lại trên thị trường khi
chưa đáo hạn. Thời gian đáo hạn của loại chứng chỉ này thường không quá 6
tháng kể từ ngày phát hành.
- Trái phiếu ngân hàng: Đây là một công cụ vay nợ dài hạn ngân hàng từ
thị trường chứng khoán. Thời hạn vay thường từ 2 năm trở lên. Loại này có
thể mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán khi đáo hạn.
e. Vay nước ngoài
Các ngân hàng thương mại cũng có thể tỡm kiếm nguồn vốn hoạt động
từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nước ngoài. Do loại tiền sử dụng
trong thanh toán quốc tế hiện nay là USD cho nên vay tiền ở nước ngoài
thường vay bằng USD. Các ngân hàng thương mại ở Mỹ là những ngân hàng đi
đầu trong việc vay tiền ngoài nước để hoạt động ( từ những năm 1940). Đến
những năm 1960, các ngân hàng thương mại ở các nước Nhật, Pháp, Đức, Anh
cũng phát hành phiếu nợ để vay USD từ nước ngoài không chỉ ở Châu Âu mà
cũn lan sang cỏc thị trường giàu có USD khác như các nước xuất khẩu dầu lửa
Trung Đông, Nam Mỹ, Đông Á... Vốn vay đó trở thành một nguồn vốn quan
trọng hơn của ngân hàng trong thời gian qua.
1.1.3.4. Các nguồn vốn khác
- Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư để cho vay theo
các chương trỡnh, dự ỏn xõy dựng...
- Vốn hỡnh thành trong quỏ trỡnh hoạt động của ngân hàng, ví dụ như
trong nghiệp vụ qua lại đồng nghiệp (tiền gửi của các ngân hàng khác để nhờ
thanh toán hộ), trong nghiệp vụ trung gian của ngân hàng (tiền ký quỹ của
khỏch hàng để đảm bảo thanh toán trong phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ - L/C).
1.2. Công tác huy động vốn tại ngân hàng thương mại
1.2.1. Mục tiêu của hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn được xem là một trong những nghiệp vụ xuất
hiện sớm nhất trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Xuất hiện từ khá
lâu đời, mục đích ban đầu của huy động vốn chỉ đơn thuần là hoạt động cất
giữ tài sản có giá nhằm mục đích đảm bảo an toàn. Nhưng theo thời gian và
cùng với sự phát triển của nền kinh tế huy động vốn đó và đang mở rộng ra rất
nhiều phương thức để đáp ứng nhiều hơn nữa nhu cầu của ngân hàng thương
mại.
Trong đó quan trọng nhất là đáp ứng nhu cầu tăng trưởng về quy mô
nguồn vốn để thiết lập một cơ cấu nguồn vốn hợp lý. Nền kinh tế thị trường
hiện nay đũi hỏi bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải cú năng lực cạnh
tranh mạnh mẽ. Vốn là một trong những yếu tố hỗ trợ ngõn hàng trong quỏ
trỡnh tăng cường khả năng cạnh tranh. Khi ngân hàng có nguồn vốn lớn thỡ
tiềm lực tài chớnh của ngõn hàng sẽ dồi dào và ngõn hàng sẽ cú nhiều cơ hội
tham gia vào các dự án có quy mô lớn và trọng điểm. Năng lực cạnh tranh của
ngân hàng cũn thể hiện ở chớnh sỏch lói suất phự hợp mà vẫn đáp ứng được
nhu cầu của thị trường ngân hàng. Một chính sách lói suất cõn bằng giữa đầu
vào và đầu ra sẽ giảm bớt gánh nặng chi phí cho ngân hàng nhưng cũng là
cách đề thu hút khách hàng hiệu quả nhất.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng.
Ngân hàng có nhiều vốn sẽ có ưu thế cạnh tranh hơn so với ngân hàng ít vốn.
Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hỡnh thức tín dụng
linh hoạt, có điều kiện để hạ lói suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng. Các
ngân hàng lớn, nhiều vốn thường có rất nhiều các dịch vụ ngân hàng. Phạm vi
hoạt động kinh doanh của họ sẽ rộng hơn nhiều các ngân hàng nhỏ. Chính vỡ
vậy càng khẳng định rừ tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
Ngoài ra, nguồn vốn lớn đồng thời với một cơ cấu vốn hợp lý sẽ là nền
tảng vững chắc để ngân hàng xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp và đảm
bảo rủi ro ít nhất. Khi có một cơ cấu hợp lý đồng nghĩa với việc khả năng tài
chính của ngân hàng là ổn định và có khả năng chống chọi với những bất
thường của nền kinh tế.
1.2.2. Các phương thức huy động vốn
1.2.2.1. Phân loại căn cứ theo thời gian
Phõn loại theo thời gian cú ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vỡ nú
liên quan mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy
động cũng như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hỡnh thức
huy động được chia thành:
a. Huy động ngắn hạn
Đây là hỡnh thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng thương mại
thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường tiền tệ và
các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán....Phần lớn số này
được dùng để cho vay ngắn hạn ( dưới 1 năm ) hoặc được chuyển hoán kỳ hạn
để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lói suất huy động ngắn
hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.
b. Huy động trung hạn
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ nợ
trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm).
Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện. Tuy
nhiờn lói suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn. Nguồn
huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện các
hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lói suất cao.
c. Huy động dài hạn
Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường
vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn
định cao ( từ 5 năm trở lên ). Do vậy lói suất mà ngõn hàng phải trả cũng rất
cao.
1.2.2.2. Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động
a. Huy động vốn từ dân cư
Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các ngân hàng. Ngân
hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến
cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Nguồn huy động từ
dân cư thường khá ổn định .
b. Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xó hội
Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong
tổng nguồn vốn. Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh
nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh
nghiệp khi bán được hàng hoá đều gửi tiền vào ngân hàng và rút ra khi cần.
Chu kỳ rút tiền của cỏc doanh nghiệp và cỏc tổ chức xó hội khụng giống nhau.
Vỡ vậy ngõn hàng luụn cú trong tay một khoản tiền lớn mà mỡnh cú thể sử
dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên độ lớn của khoản tiền này phụ
thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách
hàng sử dụng các dịch vụ. Điều này khiến cho việc huy động vốn từ cỏc doanh
nghiệp và cỏc tổ chức xó hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ
ngân hàng.
c. Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Trong quỏ trỡnh hoạt động các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi
ở lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán... Ngoài ra việc vay lẫn
nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động. Điều này tuy
không thường xuyên song là cần thiết trong hoạt động kinh doanh của mỗi
ngân hàng thương mại. Khi xuất hiện việc thiếu hụt dự trữ hay khả năng
thanh toán bị đe doạ... các ngân hàng thương mại có thể vay lẫn nhau. Quá
trỡnh vay này là một thoả thuận tớn dụng giữa hai bờn. Quỏ trỡnh tăng vốn
huy động này có thể được thực hiện ở trên thị trường nội tệ hay thị trường
ngoại tệ. Trong số những người cho ngân hàng vay có một người đặc biệt. Đó
là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương đóng vai trũ là người cho
vay cuối cùng để cứu cho các ngân hàng thương mại khỏi các trục trặc xảy ra.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác tuy cũng khá dễ
dàng nhưng số lượng thường không nhiều và chi phí huy động thường cao
hơn. Do vậy, hỡnh thức này cỏc ngõn hàng sử dụng khụng nhiều.
1.2.2.3. Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn
Hỡnh thức phõn loại này là hỡnh thức chủ yếu được các ngân hàng
thương mại sử dụng hiện nay. Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rừ ràng
tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hỡnh thức huy
động bao gồm:
a. Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi
* Huy động tiền gửi không kỳ hạn
Đây là phần tiền huy động tương đối quan trọng ở những nước phát triển
có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao. Mục đích của các khoản tiền gửi
này không phải là để lấy lói mà chủ yếu dựng để thanh toán. Khách hàng gửi
tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn
buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên tục. Người gửi tiền có thể
rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho người thứ ba. Hỡnh thức rỳt cú thể
là tiền mặt hay lấy qua hỡnh thức thanh toàn bằng sộc. Đặc biệt người gửi
tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể rút qua các máy
rút tiền tự động ( máy ATM). Ngân hàng thường bảo quản loại tiền gửi này
trờn hai tài khoản: tài khoản thanh toỏn và tài khoản vóng lai:
+ Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có
toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư
tiền gửi. Loại tài khoản này luôn luôn có số dư có.
+ Tài khoản vóng lai là tài khoản cú thể dư có hoặc dư nợ, thường
được sử dụng cho các tổ chức kinh tế. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách
hàng cũn số dư nợ thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng
vay.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng
nờn mức lói suất mà ngõn hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm
chí khụng phải trả lói. Tuy nhiờn ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không
dùng tiền mặt thấp ( trong đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền
gửi, ngõn hàng vẫn trả lói cho tiền gửi này ( có những thời điểm được trả
ngang bằng với lói suất tiền gửi tiết kiệm khụng kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ
nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ đa dạng, sản phẩm
ngân hàng chất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rói đáp ứng tốt các
nhu cầu của người gửi tiền.
* Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Là các tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và
rút ra sau một thời hạn nhất định. Khoản này thường gắn với các tổ chức
kinh tế có chu kỳ kinh doanh gần như xác định, thời gian thanh toán tiền
ổn định, ít có sự biến động. Phần tiền gửi này ngân hàng sử dụng dễ dàng
nên mức lói suất mà ngân hàng phải trả cũng cao hơn. Người gửi tiền
ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng cũn cú mục đích kiếm lời.
Do đó, sự thay đổi lói suất sẽ có tác động rất nhanh và rừ nột đối với nguồn
vốn huy động của ngân hàng.
Ở Việt Nam, hỡnh thức tiền gửi cú kỳ hạn bằng cỏc chứng chỉ tiền gửi
(mà chỳng ta vẫn gọi là kỳ phiếu ngõn hàng cú mục đích ) với các thời hạn
3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm... ngày càng phổ biến, đó và đang phát huy
vai trũ hay việc tạo vốn cho cỏc ngõn hàng.
* Huy động tiền gửi tiết kiệm
Đây là hỡnh thức phổ biến nhất, lõu đời nhất của các ngân hàng
thương
mại. Bao gồm các loại sau:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Hỡnh thức này gần giống như huy động tiền gửi không kỳ hạn. Tuy
nhiờn so với tiền gửi khụng kỳ hạn thỡ số dư của phần này ổn định hơn, ít
biến động hơn nên ngân hàng phải trả lói suất cao hơn.
-Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×