Tải bản đầy đủ

Thực trạng công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam

Thực trạng công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu vào
Việt Nam:
1.Cơ sở pháp lý kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu:
a.Cơ sở pháp lý quốc tế:
Với tư cách là thành viên của WTO, của ASEAN, APEC... Việt Nam đã
tham gia thực hiện các quy định của Hiệp định Quy tắc xuất xứ, Chương trình
hài hòa quy tắc xuất xứ, chương trình ưu đãi phổ cập chung của EU, các quy tắc
xuất xứ ASEAN và nhiều Hiệp định quốc tế khác làm căn cứ để phục vụ công
tác xác định, xác minh và kiểm tra xuất xứ hàng hóa.
b.Cơ sở pháp lý trong nước:
Cùng với tiến trình phát triển của hiện đại hóa Hải quan và các quy trình thủ
tục hải quan, về cơ bản hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã
cụ thể hóa các quy định quốc tế về xuát xứ hàng hóa của Hiệp định Quy tắc xuất
xứ và Phụ lục K của Công ước Kyoto sửa đổi phù hợp với điều kiện thực tế tại
Việt Nam. Để từ đó, ban hành các hệ thống văn bản luật pháp nhằm đảm bảo
công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa xuất khẩu tại hải quan Việt Nam như Luật
hải quan 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan Việt Nam
2005, Nghị định 154/ 2005/ NĐ- CP, Thông tư 45/ 2005/ TT- BTC, Thông tư
112/ 2005/ TT- BTC, Thông tư 07/ 2006/ TT- BTC, Thông tư 14/ 2006/ TT-
BTC, Thông tư 45/ 2007/ TT- BTC, Quyết định 865/ 2004/ QĐ- BTM, Quyết
định 12/ 2007/ QĐ- BTM, Quyết định 02/ 2007/ QĐ- BTM, Quyết định 19/

2008/ QĐ- BTC, Quyết định 2006/ QĐ- BTC...
2. Thực trạng công tác kiểm tra, xác định xuất xứ hang hóa
nhập khẩu tại Việt Nam:
Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, chính
thức tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại với
nhiều quốc gia Châu Á, Châu Phị và Châu Mỹ. Việt Nam đã ký kết và tham gia
nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương, tham gia vào khu vực
mậu dịch tự do AFTA, học tập được kinh nghiệm các nước phát triển trong
công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, quy tắc xuất xứ, các biện
pháp kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu phù hợp với quy định của pháp luật
quốc tế và Việt Nam. Công tác xác định, kiểm tra xuất xứ hàng hóa đã có những
thuận lợi và khó khăn nhất định.
a.Quy định về C/ O:
(i) Hoạt động xây dựng pháp luật về C/ O:
Trước khi gia nhập WTO, các Bộ, ngành quan tâm đến các quy định quốc tế
về xuất xứ hàng hóa nhưng chỉ dừng lại ở mức nghiên cứu. Các quy định liên
quan đến xác định, kiểm tra xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu được xây dựng ở
các văn bản pháp quy cấp thấp.
Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO thì công tác xây dựng các văn bản
pháp luật đã được chú trọng. Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, Ngành phối hợp rà
soát, so sánh các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến xuất
xứ hàng hóa với các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam liên quan đến
xuất xứ hàng hóa với các quy định của Hiệp định về Quy tắc xuất xứ. Bộ
Thương mại ban hành Quyết định 492/2000/QĐ-BTM ngày 20/03/2000 thay
thế Quyết định 416/TM-ĐB ngày 13/05/1996 về quy chế cấp giấy chứng nhận
xuất xứ hàng hóa ASEAN của Việt Nam để hưởng các ưu đãi theo Hiệp định
CEPT. Thông tin liên tịch số 09/2000/TTLT-BTM-TCHQ ngày 17/4/2000 quy
định về việc cấp chứng chỉ hàng hóa trong nước để xuất ra nước ngoài và kiểm
tra xuất xứ hàng hóa có xuất xứ từ nước được Việt Nam cho hưởng các ưu đãi
về thuế nhập khẩu hay các chế độ quản lý khác theo quy định của pháp luật Việt
Nam hoặc theo các Hiệp định, thỏa thuận quốc tế ký kết giữa Việt Nam với các
nước, nhóm nước hoặc các tổ chức kinh tế quốc tế. Các thông tư và quyết định
chưa đủ mạnh để đảm bảo xác định xuất xứ hàng hóa chính xác, rõ ràng. Vì
vậy, cần phải xây dựng Luật, Nghị định quy định quy định về việc xác định xuất
xứ hàng hóa trên cơ sở không phân biệt đối xử.
Hệ thống pháp luật của Việt Nam như Luật Hải quan năm 2001, Luật sửa
đổi, bổ sun một số điều của Luật hải quan năm 2005, các văn bản quy phạm
pháp luật như Thông tư 45/2005/TT-BTC ngày 06/6/2005; Nghị định
154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005; Thông tư 112/2005/TT-BTC ngày
15/12/2005; Thông tư 07/2006/TT-BTM ngày 17/4/2006 và một số Quyết định
đã được ban hành. Đây là cơ sở pháp lý cơ bản phục vụ công tác xác định, kiểm
tra xuất xứ hàng hóa. Hệ thống văn bane quy phạn pháp luật này quy định về
vai rò, trách nhiệm của các Bộ ngành trong công tác xây dựng hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật liên quan đến xuất xứ hàng hóa; vai trò, trách nhiệm của
Hải quan trong công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa nhập khẩu; vai trò của
Doanh nghiệp trong công tác khai báo, xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu.
Đồng thời cũng quy định về công tác quản lý và thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận xuất xứ, điều kiện để khu vực được ưu đãi đặc biệt về thuế quan… Về cơ
bản hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã cụ thể hóa các quy
định quốc tế về xuất xứ hàng hóa của Hiệp định Quy tắc xuất xứ và Phụ lục K
của Công ước Kyoto sửa đổi phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Sau khi gia nhập WTO, các Bộ, Ngành tích cực tham gia xây dựng, sửa đổi
các Nghị định, Thông tư hướng dẫn về xuất xứ hàng hóa cho phù hợp với những
quy định mới về xuất xứ. Các thông tư quyết định mới được ban hành như quyết
định 02/2007/QĐ-BTM ngày 08/01/2007; Quyết định 12/2007/QĐ- BTM ngày
31/5/2007; Thông tư 45/2007/TT- BTC ngày 24/09/2007; Quyêt định
19/2008/QĐ-BCT ngày 24/7/2008; Quyết định 44/2008/QĐ-BCT ngày
08/12/2008 đã tạo nhiều thuận lợi cho thương mại. Soạn thảo và góp ý xây dựng
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về C/ O điện tử, các văn bản khác liên quan đến thủ
tục Hải quan, đơn giản hóa thủ tục cấp C/ O, quy định rõ rang các trường hợp
nộp chứng từ, lập danh sách các doanh nghiệp được ưu tiên kiểm tra hồ sơ C/ O
của doanh, thực hiện tốt công tác kê khai C/ O.
Để đánh giá cụ thể hơn công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật,
Nhóm nghiên cứu đã điều tra trong cán bộ công chức hải quan và doanh nghiệp
về hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật kết quả cho thấy:
 Trong cán bộ hải quan được hỏi, có 21.45% số người đánh giá các văn bản
không rõ ràng, 27.96% số người đánh giá các văn bản không thống nhất,
48.27% số người cho rằng các văn bản là quá nhiều,15.32% số người cho rằng
các văn bản rõ ràng dễ thực hiện.
 Đối với văn bản hướng dẫn kiểm tra xuất xứ tỷ lệ như sau: 21.83% số người
đánh giá các văn bản hướng dẫn kiểm tra xuất xứ không rõ ràng, 17.24% số
người đánh giá các văn bản không có sự thống nhất, 45.21% cho rằng các văn
bản hướng dẫn kiểm tra xuất xứ đã có là quá nhiều, và chỉ có 14.94% số người
cho rằng các văn bản hướng dẫn kiểm tra xuất xứ rõ ràng dễ thực hiện.
Qua số liệu trên ta thấy sự quan tâm của những người thực hiện các văn bản
hướng dẫn xác định xuất xứ hàng hóa là chưa cao. Số người nhất trí với các văn
bản đã ban hành về hướng dẫn kiểm tra phù hợp là ít ( dưới 20%) trong đó rất
nhiều ý kiến cho rằng lượng văn bản ban hành là quá nhiều và càn phải thu gọn
lại (gần 50%). Như vậy, có thể thấy các văn bản đã bộc lộ nhiều điểm yếu, cần
phải tinh giản, chỉnh lý tạo thuận lợi áp dụng dễ dàng.
(ii) Công tác xác định, cấp C/ O:
Thực chất việc xác định xuất xứ của các Bộ, ngành chỉ dừng lại ở công tác
cấp C/ O và việc xác định xuất xứ là chấp nhận khai báo của doanh nghiệp. Số
lượng bộ C/ O được cấp năm 2008 tăng khoảng 3% so với năm 2007, riêng ở
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( VCCI) tăng 2.94%, tốc độ tăng
chậm hơn so với các năm trước ( như TP. HCM, Hà Nội các năm trước đều tăng
trên 10%).
VCCI thường xuyên gửi đăng ký mẫu con dấu và chữ ký mới cho đại sứ
quán các nước tại Việt Nam và cơ quan hải quna các nước mà các doanh nghiệp
có hoạt động nhập khẩu và cập nhật số liệu cấp C/ O hàng ngày cho Cục
Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin – Bộ Công thương, Văn phòng
kinh tế và Văn hóa Đài Bắc, Hải quan Czech, Hải quan Slovakia. Cung cấp số
liệu cho các cơ quan chức năng khi được yêu cầu ( Bộ Công an, Cục điều tra
chống buôn lậu, Cục Kiểm tra sau thông quan của Tổng cục hải quan…)
Từ năm 2006 đến nay lượng C/ O giả tăng qua các năm là 69.5% ( năm
2007), 80% ( năm 2008) (theo số liệu của VCCI) trong đó các gian lận chủ yếu
gồm:
 Áp sai mã số HS cho nguyên liệu nhập khẩu để sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn
xuất xứ theo quy tắc chuyển đổi mã số HS hoặc giảm tỷ lệ % trị giá nguyên liệu
không có xuất xứ Việt Nam để xin cấp C/ O form A.
 Tẩy sửa nội dung trên C/ O đã cấp, cắt dán thay đổi nội dung trên các chứng từ
như trên tờ khai hải quan, vận tải đơn sao y để xin C/ O.
(iii) Cải cách hoạt động cấp C/ O:
Bộ Công thương và VCCI đã tiến hành thử hành thử nghiệm và hướng dẫn
doanh nghiệp khai phần mềm cấp C/ O online tại Tổ cấp C/ O Hà Nội và TP.
HCM. Việc khai C/ O qua mạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
nhằm rút ngắn được thời gian cũng như chi phí được nhiều doanh nghiệp đánh
giá cao. Trong năm 2008, riêng VCCI đã cấp C/ O online cho khoảng 5000
doanh nghiệp ( Hà Nội khoảng 1300 doanh nghiệp, TP.HCM khoảng 3700
doanh nghiệp). Để giúp cho các doanh nghiệp vùng sâu, vùng xa và các doanh
nghiệp không kết nối mạng Internet khai C/ O qua mạng, một số Tổ cấp C/ O đã
đặt máy tính tại phòng chờ của doanh nghiệp để doanh nghiệp tự khai như: Hà
Nội, TP.HCM, Cần Thơ. Như vậy, bước đầu các Bộ, ngành đã thực hiện việc
giảm bớt chứng từ ( tờ khai hải quan nhập khẩu và các định mức đi kèm) tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×