Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng dưa chuột trồng trong khay xốp vụ thu đông 2009

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rau xanh là loại thực phẩm quan trọng không thể thiếu trong bữa
ăn hàng ngày của mọi gia đình. Rau cung cấp nhiều loại dinh dưỡng cần
thiết cho sự phát triển của cơ thể như: vitamin, protein, lipit,
khoáng chất, hydrat cacbon…và các chất xơ cần thiết cho sự tiêu hoá.
Rau là nguồn cung cấp vitamin rất phong phú về thành phần và hàm
lượng
lại rẻ tiền.
Thời gian gần đây, khi mà đời sống nhân dân được cải thiện thì nhu cầu
con người về rau càng cao không chỉ là số lượng mà còn cả chất lượng
rau. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho diện
tích đất nông nghiệp bị thu hẹp dần trong đó có cả diện tích đất trồng
rau, mặt khác chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt đô thị ảnh
hưởng mạnh tới nền nông nghiệp bền vững nói chung và an toàn thực
phẩm
nói riêng trong đó có ngành sản xuất rau.
Hiện nay, rau được bày bán tràn ngập trên thị trường các thành phố
lớn, những khu đông dân cư với số lượng khá lớn. Tất cả các hộ ở Việt
Nam đều tiêu thụ rau quả. Trong điều tra mức sống ở Việt Nam năm
1998

cho biết tất cả các hộ đều tiêu thụ rau, với mức tiêu thụ trung bình
hàng năm là 53,25 kg rau đối với một người [15]. Tuy nhiên, chất lượng
của rau trên thị trường chưa được quan tâm đúng đắn cụ thể như thực
trạng rau không sạch, nhiều tàn dư chất bảo vệ thực vật do quá lạm
dụng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng quá nhiều chất kích thích tăng
trưởng. Trong khi đó rau sạch bày bán trong các cửa hàng hay siêu thị
lại có giá cao mà vẫn không đảm bảo được chất lượng, chưa phù hợp với
thu nhập của đại đa số người dân. Rau tự trồng không chỉ đáp ứng được
nhu cầu trực tiếp trong sinh hoạt hàng ngày mà nó còn là một cách
trang trí cho căn nhà của mình. Tự thiết kế cho mình một vườn rau nho
nhỏ ở sân thượng, ban công, hành lang tạo cho ta một không gian thú vị
giúp giảm stress hiệu quả. Như vậy có được những khay, thùng xốp để
trồng rau là điều mong muốn của người dân sống trong các đô thị chung
cư,…
Một giải pháp đặt ra là trồng rau trong các hộp xốp với các giá thể
trồng: xơ dừa, trấu hun, đất bột,…tốn một diện tích nhỏ, có thể đặt
trên nhiều vị trí khác nhau, tận dụng nhiều khoảng trống trong nhà,
không tốn nhiều kinh phí, đơn giản, tận dụng được lao động những lúc
nhàn rỗi, rau tự trồng nên an toàn và đáp ứng được nhu cầu trực tiếp
trong sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó thì phương thức sản xuất này
giúp người trồng có thời gian thư giãn làm giảm những stress của cuộc
sống. Trồng rau trong khay xốp tuy có nhiều ưu điểm nhưng vẫn chưa
được ứng dụng rộng rãi vào thực tế.
Rau trồng trong khay chậu sinh trưởng, phát triển và cho năng
suất cao phụ thuộc vào vật liệu làm khay chậu, tỉ lệ phối trộn giá
thể, quy trình chăm sóc hợp lí,…song ảnh hưởng của giá thể đóng vai
trò quan trọng.
Để giải pháp trên được ứng dụng rộng rãi trong thực tế, tìm được loại
giá thể phù hợp nhất thì cần sự nghiên cứu của các nhà nông học. Với
nhiệm vụ đó chúng tôi tiến hành đề tài:
“ Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển, năng
suất, chất lượng dưa chuột trồng trong khay xốp vụ thu đông 2009”
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
Trên cơ sở đánh giá quá trình sinh trưởng, phát triển, các yếu tố
cấu thành năng suất và chất lượng dưa chuột trồng trong khay xốp với
các công thức phối trộn giá thể khác nhau, xác định được công thức
phối trộn giá thể phù hợp nhất làm tăng năng suất, chất lượng dưa
chuột. Từ đó góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật trồng dưa chuột
trong khay xốp phục vụ sản xuất.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh hại
trên cây dưa chuột trồng trong khay xốp với những công thức phối trộn
giá thể khác nhau.
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của dưa chuột.
- Xác định được công thức phối trộn giá thể thích hợp cho sản xuất dưa
chuột trong khay xốp.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của dưa chuột trồng trong khay xốp với
những công thức phối trộn giá thể khác nhau.
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với cây dưa chuột
Điều kiện môi trường tác động đến sinh trưởng của cây dưa, bao
gồm: khí hậu (ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ), thổ nhưỡng, yếu tố sinh vật
và tác động của con người. Về mặt sinh lý học cây dưa chuột phản ứng
mạnh với tác động của điều kiện ngoại cảnh.
2.1.1. Nhiệt độ:
Dưa chuột cũng như các cây trong họ bầu bí rất mẫn cảm với sương giá
đặc biệt là nhiệt độ thấp [2]. Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa nhiệt, yêu
cầu khí hậu ấm áp và khô ráo để sinh trưởng, phát triển. Dưa chuột yêu
cầu đất ấm áp để nảy mầm, nhiệt độ bình thường tối thiểu từ 10-180C.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình nảy mầm là rất lớn vì vậy phải
nghiên cứu kỹ mới đi đến quyết định khi nào và ở đâu có thể gieo thẳng
dưa chuột. Nhiệt độ tối thiểu cho dưa chuột nảy mầm là 15,50C, nhiệt
độ tối đa là 40,50C, nhiệt độ thích hợp là >15,5-350C. Nhiệt độ thích
hợp cho sinh trưởng là 200C. Ở 120C cây sinh trưởng rất chậm, ở nhiệt
độ thấp kéo dài (150C) các giống sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn,
lá nhỏ, hoa đực màu nhạt, vàng úa. Ở 50C hầu hết các giống dưa chuột
có nguy cơ bị chết rét, khi nhiệt độ lên cao 400C cây ngừng sinh
trưởng, hoa cái không xuất hiện. Lá bị héo khi nhiệt độ trên 400C. Hầu
hết các giống dưa chuột đều phải qua giai đoạn xuân hoá ở nhiệt độ
20-220C [1].
Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới thời gian ra hoa của cây. Nhiệt
độ thích hợp cho cây ra hoa cái ở ngày thứ 26 sau khi nảy mầm. Nhiệt
độ càng thấp thời gian càng kéo dài. Tổng tích ôn từ lúc hạt nảy mầm
đến thu quả đầu tiên ở các giống địa phương là 9000C, đến kết thúc là
16500C [3]
Nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt phấn 17-240C, nhiệt độ quá
cao hay quá thấp so với ngưỡng nhiệt độ này đều làm giảm sức sống hạt
phấn, đó chính là nguyên nhân giảm năng suất [4].
2.1.2. Ánh sáng:
Dưa chuột thuộc nhóm cây ưa sáng ngày ngắn, độ dài chiếu sáng thích
hợp cho cây sinh trưởng phát dục là 10-12 giờ/ngày. Phản ứng của dưa
chuột đối với ánh sáng không phụ thuộc vào giống và thời vụ gieo
trồng. Cường độ ánh sáng thích hợp cho dưa chuột sinh trưởng, phát
triển giúp cho cây tăng hiệu suất quang hợp, tăng năng suất, chất
lượng quả và rút ngắn thời gian lớn của quả trong khoảng 15000-17000
lux [5] [3].
Trong điều kiện thiếu ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển kém, ra hoa
cái muộn, màu sắc hoa nhạt, vàng úa, hoa cái dễ rụng, năng suất quả
thấp, chất lượng quả giảm, hương vị kém [1].
Mức độ phản ứng của cây với thời gian chiếu sáng trong quá trình phát
sinh cũng khác nhau. Thí nghiệm đã kết luận rằng dưa chuột ở tuổi
20-25 ngày sau khi nảy mầm có phản ứng thuận với độ dài chiếu sáng
dưới 12 giờ [4].
2.1.3. Độ ẩm:
Dưa chuột là loại cây chịu hạn, chịu úng kém. Trong thân cây nước
chiếm 91,3%, trong quả chứa tới 93-95% nước, bộ lá dưa chuột to, hệ số
thoát hơi nước lớn nên dưa chuột yêu cầu độ ẩm cao, là cây đứng đầu về
nước trong họ bầu bí, độ ẩm thích hợp cho cây dưa chuột là 85-90%, độ
ẩm không khí: 90-95%. Trong giai đoạn ra quả phải giữ ẩm thường xuyên
từ 90-100% độ ẩm đồng ruộng. Dưa chuột kém chịu hạn, nếu thiếu nước
cây không những sinh trưởng kém mà còn tích luỹ chất cucurbitancin gây
đắng trong quả. Chất này thường tập trung nhiều ở phần cuối thân và
dưới lớp vỏ cây.
Khi thiếu nước nghiêm trọng sẽ xuất hiện quả dị hình, quả bị đắng và
cây dễ bị nhiễm virus. Thời kỳ cây ra hoa, tạo quả yêu cầu lượng nước
cao nhất. Hạt nảy mầm, yêu cầu lượng nước bằng 50% khối lượng hạt
[6].
2.1.4. Đất và dinh dưỡng:
Cây dưa chuột ưa thích đất màu mỡ, giàu chất hữu cơ, đất tơi xốp, độ
pH từ 5,5-6,8 và tốt nhất từ 6-6,5. Dưa chuột gieo trồng trên đất thịt
nhẹ, đất cát pha thường cho năng suất cao, chất lượng quả tốt.
Cây dưa chuột yêu cầu độ phì trong đất rất cao. Dinh dưỡng khoáng
không đủ ảnh hưởng không tốt đến sinh trưởng và phát triển của cây.
Bón phân chuồng với phân khoáng một cách hợp lý sẽ làm tăng lượng
đường trong quả. Ở thời kỳ đầu sinh trưởng cây cần đạm và lân, cuối
thời kỳ sinh trưởng cây không cần nhiều đạm, nếu giảm bón đạm sẽ làm
tăng thu hoạch một cách rõ rệt. Cây dưa chuột lấy dinh dưỡng từ đất ít
hơn rất nhiều so với cây rau khác (cà chua, cải bắp). Thí dụ: nếu năng
suất dưa chuột là 30 tấn/ha thì lượng NPK do cây lấy đi từ đất là 170
kg, trong khi đó cải bắp muộn năng suất là 70 tấn/ha, yếu tố NPK cây
sử dụng là 630 kg [1].
Khi nghiên cứu về hiệu suất sử dụng phân khoáng chủ yếu của dưa chuột
thấy rằng: dưa chuột sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, thứ đến đạm
rồi đến lân. Khi bón N60 P60 K60 thì dưa chuột sử dụng 92% đạm, 33%
lân và 100% kali. Dưa chuột không chịu được nồng độ phân cao nhưng
lại
nhanh chóng phản ứng với hiện tượng thiếu dinh dưỡng. Phân hữu cơ,
đặc
biệt là phân chuồng có tác dụng rõ rệt làm tăng năng suất ruộng dưa
chuột [6].
Bên cạnh các nguyên tố đa lượng thì các nguyên tố vi lượng đóng vai
trò hết sức quan trọng. Khi bổ sung các nguyên tố vi lượng vào dung
dịch phân đa lượng bón cho cây sẽ thu được quả có chất lượng cao, đặc
biệt trộn hạt dưa với phân vi lượng trước sẽ làm tăng năng suất từ
50-60 tạ/ha [7].
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
2.2.1. Tình hình nghiên cứu về trồng rau trong khay chậu trên thế giới
2.2.1.1. Nghiên cứu vật liệu và kích thước khay chậu dùng để trồng rau
Trồng cây trong giá thể là biện pháp trồng cây trong các giá thể tự
tạo không phải là đất. Dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân
bón trộn trong giá thể và bón thúc. Giá thể được để trong những khay
chậu. Khay chậu có thể làm bằng gỗ, xốp, đất nung, sành, sứ, đá, kim
loại,…tuỳ vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo
sở thích của mình.
Theo GS. Mary Meyer, trường Đại học Minnesota cho rằng khay chậu
cho
trồng cây trong giá thể có thể là bất cứ vật liệu gì giữ được giá thể
và thoát nước, có thể lựa chọn các loại khay chậu sau:
- Khay chậu làm bằng đất nung hoặc đất sét: loại này được sử dụng từ
lâu, giúp cho sự trao đổi oxi trong khay chậu thuận lợi cho sự phát
triển bộ rễ cây trồng. Tuy nhiên loại giá thể này nặng và nhanh mất
nước.
- Khay chậu làm bằng gỗ: dễ chế tạo, có khả năng cách nhiệt tốt, phải
thay thế nếu sử dụng lâu.
- Khay chậu làm bằng kim loại: có khả năng cách nhiệt kém, có thể rất
nóng hoặc rất lạnh tuỳ theo thay đổi nhiệt độ bên ngoài, khay chậu cỡ
lớn ít bị ảnh hưởng hơn.
- Khay chậu làm bằng chất dẻo và sợi thuỷ tinh: nhẹ, giữ ẩm lâu, đặc
biệt là có rất nhiều màu sắc nên dễ nhìn và hấp dẫn.
- Khay chậu làm bằng đá: loại khay chậu này trọng lượng lớn, đắt, khó
tìm và khi trồng cây khả năng thoát nước kém.
- Khay chậu làm bằng đồ gốm tráng men: khay chậu loại này đẹp, bắt mắt
nhưng không thông thoáng cho sự phát triển của rễ cây.
Tác giả Richard Jauron và cộng sự [23] đưa ra kích thước tối thiểu của
khay chậu và số lượng cây trồng cho một số cây như sau:
Cây trồng Kích thước tối thiểu của khay chậu Số cây/1 khay chậu
Bắp cải 1 gallon -
Củ cải đường 2 gallon 1
Cà rốt 2 gallon -
Dưa chuột 1 gallon 2
Cây cà 2 gallon 1
Đậu xanh 1 gallon 2-3
Rau diếp 1 gallon 4-6
Mùi tây ½ gallon 1
Ớt 2 gallon 2
Củ cải đỏ 2 gallon -
Rau dền 1 gallon -
Củ cải đường Thuỵ Sĩ 1 gallon 1
Cà chua Chery 1 gallon 1
Cà chua Standard 3 gallon 1
( 1 gallon= 4,546 lít ở Anh)
Tuy nhiên theo Tammy Kohleppel và Dan Lineberger [16], khay chậu
làm
bằng bất cứ vật liệu gì và kích cỡ bao nhiêu đều phải có lỗ thoát
nước. Lỗ thoát nước có thể ở đáy hoặc ở mặt bên của khay chậu. Ở bên
dưới đáy của khay chậu nên bổ sung 1 lớp sỏi thô dày 1 inch để dễ
thoát nước.
2.2.1.2. Nghiên cứu về dinh dưỡng bón cho rau trồng trên giá thể
Theo các nhà khoa học của Trung tâm nhà vườn, trường đại học
Maryland
bón phân cho cây trồng trong khay chậu với liều lượng bao nhiêu và
cách bón như thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại phân, nhu
cầu của cây, loại giá thể, loại khay chậu,… Mỗi thời kỳ sinh trưởng
của cây rau có yêu cầu về dinh dưỡng khác nhau. Vào thời kỳ nảy mầm
cây sống nhờ vào năng lượng dự trữ trong hạt, không cần lấy dinh dưỡng
từ đất, nhu cầu dinh dưỡng của cây trong giai đoạn này không cao. Sau
đó cùng với sự phát triển của rễ, thân lá sự hấp thụ dinh dưỡng trong
đất tăng lên. Và vào cuối thời kỳ phát triển các cơ quan tích luỹ dinh
dưỡng đã hoàn thiện thì ở tất cả các loại rau nhu cầu dinh dưỡng giảm
mạnh. Các loại rau ngắn ngày như rau dền, rau cải…có thời gian sinh
trưởng từ lúc gieo trồng tới thu hoạch khoảng 30 ngày thì trong suốt
quá trình sinh trưởng chỉ bón 1-2 lần. Còn các loại rau dài ngày như:
cà chua, dưa chuột, ớt…thì cần phải bón nhiều hơn có thể là 2 tuần/lần
hoặc hơn. Phân bón dạng dung dịch hoặc dạng bột thì sử dụng thuận tiện
và hiệu quả vì dinh dưỡng được cung cấp nhanh chóng.
Phân bón cho cây trồng có thể chia làm 2 loại là phân chậm tan và phân
dễ tan. Theo Karen Demboski và cs., cả 2 loại phân bón này đều cần
thiết cho cây trồng trong khay chậu bởi vì hầu hết các loại giá thể
đều không chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây sinh trưởng và phát
triển tốt nhất. Các tác giả cũng giới thiệu một số loại phân có thể sử
dụng như: phân chậm tan Osmocote có tỷ lệ 14-14-14, 10-10-10 hay
13-13-13, phân dễ tan như: Peter 20-20-20, Miracle Gro 15-30-15. Phân
chậm tan nên sử dụng ngay từ đầu khi phối trộn giá thể, phân dễ tan sử
dụng khi cây bắt đầu sinh trưởng cho sản phẩm với lượng 1-2 tuần/lần
[22].
Theo Bunt (1965) [21], hỗn hợp bầu gieo hạt (tính theo thể tích) 1
than bùn rêu nước + 1 cát bổ sung 2,4kg đá vôi nghiền + 0,6kg
supephotphat 20% + 285g KNOP3. Nhưng ở hỗn hợp bầu trồng cây 3
than
bùn rêu nước + 1 cát thì bổ sung 1,8kg đá vôi nghiền + 1,5kg
supephotphat 20% + 740g KNOP3 + 1,2g NH4NO3.
Lawtence và Neverell (1950) [17] cho biết ở Anh bổ sung 1,5kg đá vôi
nghiền và 3kg supephotphat 20%P2O5 vào 1m3 hỗn hợp giá thể là hợp lí.
Nhưng khi sử dụng cho hỗn hợp trồng cây là 1,5kg đá vôi nghiền + 8,5kg
phân bazơ + 12kg phân N-P-K dạng 5-10-10 cho 1m3 hỗn hợp bầu.
Theo Kaplina (1976) hỗn hợp làm bầu cho bắp cải, cải xanh và dưa chuột
được bổ sung 1g N, 4g P2O5, 1g K2O cho 1kg hỗn hợp giá thể cho cây
con
sinh trưởng, phát triển tốt hơn trồng cây trực tiếp từ hạt. Ngoài ra
tác giả còn cho biết vai trò của chất khoáng có ảnh hưởng trực tiếp
đến tốc độ sinh trưởng của cây con. Có thể trộn thêm 0,5kg supelân cho
10kg hỗn hợp giá thể nhằm xúc tiến quá trình hình thành và phát triển
của hệ rễ.
2.2.1.3. Nghiên cứu về giá thể trồng rau
Giá thể trồng cây cũng có rất nhiều loại nhưng hầu hết được phối trộn
từ các vật liệu dễ kiếm trong tự nhiên như: trấu hun, xơ dừa, mùn cưa,
cát, bột đá…tuy nhiên giá thể được tạo ra phải có độ thông thoáng và
có khả năng giữ nước tốt.
Ở các nước đang phát triển, hỗn hợp đặc biệt gồm đá trân châu, than
bùn có sẵn ở dạng sử dụng được cung cấp ngay cho mục đích thay thế
cho
đất. Các trang trại thâm canh chủ yếu ở các nước đang phát triển thiên
về nhập khẩu những hỗn hợp không phải là đất này, không có khả năng
khai thác việc sử dụng vật liệu sẵn có ở địa phương. Thực tế, môi
trường nhiệt đới có rất nhiều vật liệu có thể sử dụng pha chế hỗn hợp
bầu trong vườn ươm. Hỗn hợp bầu trong vườn ươm cần đảm bảo khả
năng
giữ nước và làm thoáng khí, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây
trồng, sạch bệnh. Hỗn hợp bầu vườn ươm được sử dụng có rất nhiều công
thức phối trộn, dựa vào khả năng có sẵn của nguyên vật liệu có tỉ lệ
1:1:1 là cát rây + đất vườn + phân hữu cơ; đất vườn + bột xơ dừa +
phân hữu cơ hay đất vườn + phân chuồng + bột xơ dừa.[8]
Theo Lawtence; Newell (1950) [17] cho biết ở Anh sử dụng hỗn hợp đất
mùn + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỉ lệ 2:1:1 để gieo
hạt, để trồng cây là 7:3:2.
Theo Kaplina (1976), đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần
giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau: Để gieo hạt cải bắp, cái
xanh nếu thành phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phần
phân bò và trong 1kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1 gK2O thì
năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha. Nếu thành phần giá thể gồm than bùn 3
phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần và lượng chất khoáng như trên thì
năng suất sớm đạt 170 tạ/ha. Không chỉ đối với cải bắp, cải xanh mà
đối với dưa chuột cũng thế. Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần
mùn + 1 phần đất đồi và trong 1 hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5 và
1g K2O thì năng suất sớm đạt 238 tạ/ha. Nếu thành phần giá thể gồm 4
phần mùn + 1 phần đất trồng thì năng suất sớm đạt 189 tạ/ha.
Roe và cs. (1993) [18] việc ứng dụng sản xuất giá thể đặt nền tảng cho
việc phòng trừ cỏ dại sinh trưởng giữa các hàng rau ở các thời vụ.
Chất thải hữu cơ là tiền đề làm tăng giá trị thương mại của các loại
giá thể. Nhờ vào kỹ thuật, công nghệ mà làm tăng chất lượng cây và
giảm thời gian sản xuất. Cho thấy lợi nhuận của việc sử dụng giá thể
trên vùng đất nghèo dinh dưỡng làm tăng độ màu mỡ của đất, tăng thêm
lượng đạm trong đất và làm tăng năng suất rau.
Trung tâm nghiên cứu phát triển Rau châu Á khuyến cáo việc sử dụng rêu
than bùn hoặc chất khoáng được coi như môi trường tốt cho cây con. Ví
dụ: đối với ớt, sử dụng 3 phần than bùn + 1 phần chất khoáng. Hỗn hợp
đặc biệt bao gồm đất + rêu than bùn + phân chuồng. Trấu hun và trấu
đốt cũng được sử dụng như thành phần của hỗn hợp [19].
Masstalerz (1997) [20] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính
theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm mùn sét, mùn cát sét và
mùn cát có tỉ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả. Cho thêm
5,5- 7,7g bột đá vôi và 7,7- 9,6g supe photphat cho 1 đơn vị thể tích.
Bunt (1965) [21] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (tính theo thể tích) 1
than bùn rêu nước + 1 cát + 2,4kg/m3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng
cây: 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg đá vôi nghiền đều cho thấy
cây con mập, khoẻ.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1. Nghiên cứu về dinh dưỡng bón cho rau trồng trên giá thể
Ngô Thị Hạnh (1997),[12] Viện rau quả Hà Nội đưa ra công thức phối
trộn giá thể cho gieo cải bao trong khay gồm đất + cát + phân chuồng +
trấu hun theo tỷ lệ 3:1:1:1 và lượng NPK là 500g sunphat amon, 500g
supe photphat và 170g clorua kali trong 1tấn giá thể.
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Lê Hữu Phan (2001) [13] qua thực tế cho biết:
trong nhà lưới có mái che, cứ 100kg đất than bùn thì trộn 10kg vôi
bột, 10kg supe lân và 6kg N-P-K con cò (13-8-12) và ủ 1-2 tháng rồi
đem vào khay để gieo hạt.
Theo Tạ Thu Cúc và cs., (2000) [1] cứ 10 kg giá thể gieo hạt rau trộn
thêm 0,5 kg supe lân để xúc tác quá trình hình thành và sinh trưởng
của rễ.
2.2.2.2. Nghiên cứu giá thể trồng rau
Trước đây giá thể chủ yếu sử dụng là cát hoặc sỏi. Ngày nay giá thể đã
được thay đổi rất nhiều. Như ta đã biết, cây cần cả oxi và dinh dưỡng
tiếp xúc với rễ cây. Giá thể lí tưởng là loại có khả năng giữ nước
tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của
giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó.
Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều
nước và oxi. Ngược lại, sỏi thô tạo ra những khoảng trống quá lớn,
nhiều không khí nhưng mất nước nhanh [25].
Giá thể lí tưởng phải có những đặc điểm:
- Có khả năng giữ ẩm cũng tốt như độ thoáng khí.
- Có pH trung tính và có khả năng ổn định pH.
- Thấm nước dễ dàng.
- Bền, có khả năng tái sử dụng hoặc phân huỷ an toàn cho môi trường.
- Nhẹ, rẻ và thông dụng.
Giá thể có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ
hạt đậu), đất nung xốp, đá trân châu, đá bọt núi lửa, rockwool (loại
vật liệu có nhiều thớ, sợi, rất được các trang trại lớn ở nước ngoài
ưa chuộng),...Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm
từng loại.
Sau nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu, Tiến sĩ Lê Thị Khánh, Trưởng bộ
môn Khoa học nghề vườn thuộc khoa Nông học, Trường Đại học Nông
lâm
Huế đã trồng thử nghiệm rau sạch trên giá thể thành công. Đây là mô
hình trồng rau sạch đầu tiên tại Thừa Thiên Huế nói riêng và miền
Trung nói chung, mở ra nhiều hướng phát triển mới cho nông nghiệp.
Hiện nay, Tiến sĩ Lê Thị Khánh đã thành công trong việc tạo ra giá thể
bằng trấu hun, mùn cưa, vỏ lạc ủ, đầu tôm ủ, rơm sau khi đã trồng nấm.
Đây là những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, không mất tiền mua, lại giải
quyết được vấn đề vệ sinh môi trường. Điều đặc biệt giá thể sau thời
gian nuôi rau sạch (khoảng 3-4 năm) trong nhà lưới, có thể dùng vào
việc bón phân cho cây cảnh [20].
Cũng sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm và xây dựng nhiều mô hình
trên diện rộng thành công, mới đây Trung tâm nghiên cứu phân bón và
dinh dưỡng cây trồng trực thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hoá đưa ra
khuyến
cáo bà con nông dân và các hộ gia đình ở thành phố áp dụng kỹ thuật
trồng rau an toàn trên nền giá thể GT 05. GT 05 là giá thể sinh học
không đất, có hàm lượng chất hữu cơ (OM) và dinh dưỡng cao: 44% chất
hữu cơ (OM), 1,2% đạm (N), 0,8% lân (P2O5), 0,7% kali (K2O) và các
dinh dưỡng trung và vi lượng cần thiết khác cho cây trồng. Giá thể GT
05 cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, có độ tơi
xốp, thoáng khí, nhẹ, sạch nguồn bệnh, không có tuyến trùng, hút và
giữ ẩm tốt. Trong sản xuất rau an toàn, GT 05 được sử dụng làm bầu
gieo ươm cây rau giống, sản xuất rau mầm, rau thương phẩm như các loại
rau ăn lá, rau ăn quả rất hiệu quả và thuận lợi [26].
Dòng sản phẩm đất Multi của Công ty TNHH Nguyên Nông Gino đã
được xử
lý bằng công nghệ sinh học, thích hợp khí hậu Việt Nam để trồng trong
khay, chậu, máng, bồn hay luống. Thành phần chính của hệ Multi là giá
thể hữu cơ từ bụi xơ dừa, phân trùn quế, rong biển, hệ vi sinh vật hữu
ích, bánh dầu lên men,...Đây là nguồn hữu cơ lâu dài, thân thiện môi
trường, không chất độc và vi sinh vật gây hại; hoàn toàn không có đất
thật, không dùng phân hoá học, thuốc trừ sâu bệnh hoá học. Hệ Multi có
11 sản phẩm riêng được phối trộn khác nhau để tạo nền dinh dưỡng cân
đối cho nhiều loại cây trồng; đồng thời có sự kết hợp liên hoàn giữa
các sản phẩm với nhau. Ví dụ: đất multi tổng quát, đất cho rau ăn lá,
đất rau ăn quả và hoa, đất ăn trái, đất ginut chuyên trồng rau mầm
[27].
Sở nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội (2003) [11] qua nghiên
cứu bước đầu, đã đưa ra 5 công thức phối trộn giá thể cho 5 loại cây
trồng như sau: cây hồng Đà Lạt: than bùn 76,5% + bèo dâu 13,5% + đất
10%; cây cảnh: than bùn 76,5% + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu + 10%
đất;
hoa giống: than bùn 45% + 22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% đất; ớt:
than bùn 67,5% + 22,5% trấu hun + 10% đất và cà chua: 67,5% than bùn
+
22,5% bèo dâu + 10% đất.
Theo Tạ Thu Cúc và cs., (2000) [1] ở những vùng có điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt và đối với những giống rau quý hiếm có thể gieo cây con
trong vườn ươm. Giá thể làm bầu gồm đất bột đã phơi ải, đập nhỏ, sạch
cỏ dại chiếm 1/3 khối lượng ruột bầu, 1/3 xỉ than và 1/3 phân chuồng
hoai mục trộn đều, cứ 10kg ruột bầu (chất bồi dưỡng cây giống) trộn
thêm 0,5kg supe lân để xúc tiến quá trình hình thành và sinh trưởng
của rễ. Nếu gieo hạt vào khay thì độ dày của chất bồi dưỡng tuỳ theo
loại cây trồng, trung bình từ 5-7cm.
Nghiên cứu về giá thể để trồng rau sạch cũng đã được Trường Đại học
An
Giang nghiên cứu, với đề tài: “Nghiên cứu một số giá thể trồng cải mầm
thích hợp và cho hiệu quả kinh tế cao”. Nghiên cứu sử dụng giá thể và
dinh dưỡng thích hợp cho việc trồng cải mầm được thực hiện tại khoa
Nông nghiệp TNTN- Trường Đại học An Giang từ tháng 5 đến tháng 8
năm
2005 với 4 loại giá thể rẻ tiền và có sẵn tại tỉnh An Giang là trấu,
tro trấu, đất hỗn hợp với các trường hợp không sử dụng hoặc có sử
dụng bổ sung phân cá, dinh dưỡng thủy canh rau châu Á (Hà Nội), dinh
dưỡng MS (Murashge Skoog) tự pha chế. Qua thí nghiệm đã cho thấy sử
dụng phân cá với giá thể tro trấu + trấu cho lợi nhuận cao 23.616
đồng/kg. Từ đó có thể thấy việc trồng cải mầm bằng giá thể là khá đơn
giản, dễ thực hiện, giá thể trồng rất dồi dào và luôn có sẵn, chi phí
đầu tư thấp, hiệu quả kinh tế khá cao.
Theo Dương Thiên Tước (1997) [10] để nhân giống cây trong vườn dùng
chậu, bồn để giâm. Dưới đáy bồn chậu nên lót bằng than củi để dễ thoát
nước, bên trên dùng 4/5 bùn ao phơi khô, đập nhỏ và 1/5 cát vàng (hoặc
cát đen) trộn phủ một lớp tro bếp mịn.
Đánh giá về các nguồn nguyên liệu sử dụng để phối trộn giá thể, đối
với rau giống và rau an toàn thì đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long
là thành phần cơ bản của giá thể. Tuy nhiên, tỉ lệ phối trộn ở miền
Bắc và miền Nam khác nhau phụ thuộc vào chất độn hữu cơ. Miền Bắc
chủ
yếu dùng trấu hun và rơm rạ mục, miền Nam chủ yếu là xơ dừa ngoài ra
có bổ sung than bùn và phân chuồng hoai mục [9].
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành trên giống dưa chuột
VC 29- giống dưa chuột vô hạn, là giống lai F1 do Viện Rau – Hoa - Quả
Hà Nội mới chọn tạo ra.
* Vật liệu nghiên cứu:
- Giá thể sử dụng để trồng dưa chuột gồm:
+ Đất: đất màu được phơi khô, đập nhỏ, sàng, rây nhằm loại bỏ đất to,
sỏi đá và các vật hỗn tạp.
+ Trấu hun: vỏ trấu đem hun không hoàn toàn, có tính thoát nước, thông
thoáng, nhẹ, xốp, không ảnh hưởng đến độ pH.
+ Xơ dừa: giữ nước, thông thoáng
+ Phân hữu cơ vi sinh: sử dụng phân hữu cơ sinh học Sông Gianh
- Khay xốp: rửa sạch, khử trùng bằng vôi, lót nilông đen
Kích thước khay xốp: dài 45cm, rộng 25cm, cao 30cm, dày 3cm
3.1.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu:
* Địa điểm nghiên cứu:
Khu thí nghiệm khoa Nông học- Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội-
Gia
Lâm- Hà Nội.
* Thời gian nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành từ 01/ 09/ 2009 đến 15/01/2010
3.2. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển, năng
suất và chất lượng dưa chuột trồng trong khay xốp vụ thu đông 2009
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm:
Thí nghiệm được bố trí trong khay xốp theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên
RCD, mỗi công thức có 3 lần nhắc lại, trồng 4 cây/ 1 khay.
Thí nghiệm gồm 6 công thức giá thể được phối trộn như sau:
CTĐC: trồng ngoài ruộng sản xuất.
CT1: 30% đất + 70% trấu hun.
CT2: 50% đất + 50% trấu hun.
CT3: 70% đất + 30% trấu hun.
CT4: 50% đất + 50% xơ dừa.
CT5: 70% đất + 30% xơ dừa.
Mỗi khay xốp trộn thêm 1kg phân hữu cơ sinh học Sông Gianh.
Trong cùng điều kiện chăm sóc, để so sánh sự sinh trưởng, phát triển,
năng suất và chất lượng dưa chuột giữa trồng trong nhà lưới với trồng
ngoài ruộng sản xuất, chúng tôi bố trí thêm công thức trồng dưa chuột
ngoài ruộng sản xuất làm công thức đối chứng.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm các CT theo kiểu RCD:
CT1 CT4 CT3
CT3 CT5 CT4
CT2 CT1 CT2
CT4 CT2 CT5
CT5 CT3 CT1
Nhắc lại lần 1 Nhắc lại lần 2
Nhắc lại lần 3
3.3.2. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
* Chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển
● Chỉ tiêu về sinh trưởng
- Thời gian sinh trưởng (ngày):
+ Từ gieo đến ngày mọc mầm
+ Từ gieo đến xuất hiện lá thật
+ Từ gieo đến khi xuất hiện tua cuốn
+ Từ gieo đến khi xuất hiện chùm hoa đầu tiên
+ Từ gieo đến khi hoa nở (50%)
+ Từ gieo đến khi bắt đầu đậu quả
+ Thời gian từ gieo đến khi thu quả lần đầu, các lần tiếp theo và lần cuối
Tổng thời gian sinh trưởng: từ khi gieo đến khi thu đợt quả cuối cùng
(ngày).
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: đo từ sát mặt đất đến đỉnh sinh
trưởng của thân chính, theo dõi 10 cây/1CT/lần nhắc lại, định kỳ 7
ngày theo dõi 1 lần.
- Đặc điểm hình thái thân: đường kính thân cuối cùng
- Động thái ra lá: đếm số lá/thân chính, theo dõi 10 cây/1CT/lần nhắc
lại, theo dõi 7 ngày/lần.
● Chỉ tiêu về phát triển
- Vị trí xuất hiện hoa cái.
- Số hoa/cây
- Tỉ lệ đậu quả:
Số quả đậu
Tỉ lệ đậu quả (%) = × 100
Tổng số hoa cái
* Chỉ tiêu về sâu bệnh hại
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu hại
+ Đối tượng gây hại: Sâu xám, sâu khoang, sâu xanh, sâu đục quả,
ruồi đục quả, bọ trĩ, sâu vẽ bùa, rệp.
+ Mức độ gây hại: Đánh giá theo thang điểm của Trung tâm rau thế giới –
AVRDC.
Điểm 1: Không bị sâu hại
Điểm 2: Một số cây bị hại
Điểm 3: 50% số cây, số quả, số hạt bị hại
Điểm 4: Phần lớn các cây bị hại
- Đánh giá khả năng chống chịu bệnh hại
+ Đối tượng bệnh hại:
Bệnh sương mai (Eryshiphe cichoracearum D C.)
Bệnh phấn trắng: (Pseudoperonaspora cubesis Berk and Curt)
Virus: CMV, TYLCV,…
+ Mức độ gây hại: Theo dõi, đánh giá theo thang điểm của AVRDC
Điểm 0: Không có triệu chứng (không bị hại)
Điểm 1: Triệu chứng đầu tiên đến 19% diện tích lá bị nhiễm (bị hại rất
nhẹ)
Điểm 2: 20 – 39% diện tích lá bị nhiễm (bị hại nhẹ)
Điểm 3: 40 – 59% diện tích lá bị nhiễm (bị hại trung bình)
Điểm 4: 60 – 79% diện tích lá bị nhiễm (bị hại nặng)
Điểm 5: Trên 80% diện tích lá bị nhiễm (bị hại rất nặng)
Theo dõi tỷ lệ nhiễm do virus bằng cách tính % số cây bị hại.
* Các chỉ tiêu về năng suất
- Khối lượng TB quả
- Số quả/cây
- Số quả dị dạng/cây.
- NS cá thể (g/cây) = số quả/cây × KLTB quả
- NS khay (kg/khay) = NS cá thể × 4
- NS lý thuyết (quy ra m2)
- NS thực thu (quy ra m2)
* Các chỉ tiêu về chất lượng quả
- Cấu trúc quả:
+ Chiều dài quả
+ Đường kính quả
+ Độ dày thịt quả
- Chỉ tiêu hoá sinh:
+ Dư lượng Nitrat trong quả
* Đánh giá hiệu quả kinh tế
- Tổng chi = Chi phí khả biến + Chi phí lao động
Chi phí khả biến: giá thể, giống, phân bón…
- Giá bán tại thời điểm thu hoạch
- Tổng thu tính theo giá bán tại thời điểm thu hoạch
- Lãi thuần = Tổng thu – Tổng chi.
3.3.3. Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng phần mềm
IRRISTAT 4.0 và EXCEL trên máy tính.
3.4. Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc
- Thời vụ: vụ thu đông
- Gieo trồng: gieo 4 hạt/khay vào 4 góc khay xốp và gieo hạt lên
luống. Ngoài ra, gieo hạt vào khay dùng để dặm.
- Tưới nước: tưới 2 lần/ngày (sáng và chiều)
- Sau gieo 10 ngày, một số cây bị sên ăn, chúng tôi đã tiến hành dặm.
- Làm giàn: sau gieo 20 ngày khi đã xuất hiện tua cuốn thì bắt đầu làm
giàn
- Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi hàng ngày phát hiện cây bệnh sớm, loại
bỏ mầm mống gây bệnh ngay khi xuất hiện.
- Bón phân:
+ Phun phân bón lá Pomior p-198: pha 25ml với 8lit nước để phun.
Phun lần đầu: sau gieo 12 ngày, các lần tiếp theo phun định kỳ 1
tuần/lần.
Sau gieo 30 ngày ngừng phun phân bón lá.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×