Tải bản đầy đủ

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo

Chơng I: Những lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế,
công bằng xã hội và vấn đề xoá đói giảm nghèo.
I. Các khái niệm và thớc đo.
1. Tăng trởng kinh tế.
1.1 Khái niệm về tăng trởng kinh tế.
Tăng trởng kinh tế thờng đợc quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về
quy mô sản lợng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết quả của tất
cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Hay nói một cách
khác đó là sự gia tăng về thu nhập của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (th-
ờng là một năm).
1.2. Các chỉ tiêu đo lờng sự tăng trởng kinh tế
- Tống sản phẩm trong nớc (GDP): Thờng đợc hiểu là toàn bộ sản phẩm và
dịch vụ mới đợc tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia.
Đại lợng này thờng đợc tiếp cận các cách khác nhau:
+ Về phơng diện sản xuất, thì GDP có thể đợc xác định bằng toàn bộ giá trị
gia tăng của các ngành, các khu vực sản xuất và dịch vụ trong cả nớc.
Giá trị gia tăng (Y) = Giá trị sản lợng (GO) - Chi phí các yếu tố trung gian (IE)
+ Về phơng diện tiêu dùng, thì GDP thể hiện ở toàn bộ hàng hoá và dịch vụ cuối
cùng tính theo giá hiện hành của thị trờng, đợc tạo ra trên phạm vi lãnh thổ quốc
gia hàng năm.

Xác định GDP theo tiêu dùng:
1
GDP = C + I + G + (X - M)
C: Tổng các khoản tiêu dùng của các hộ gia đình.
I: Tổng đầu t sản xuất.
G: Các khoản chi tiêu của Chính phủ.
X: Xuất khẩu
M: Nhập khẩu.
Xác định GDP theo giá hiện hành của thị trờng.
GDP
(sản xuất )
= GDP
(tiêu dùng )
- T
e
T
e
: thuế gián thu.
+ Xác định theo phơng diện thu nhập thì GDP là toàn bộ giá trị mà các hộ
gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức Nhà nớc tu đợc từ các giá trị gia tăng
đem lại.
GDP
(thu nhập)
= C
p
+ I
p
+ T
C
p :
Các khoản mà hộ gia đình tiêu dùng
I
p
: Các khoản đầu t.
T: Thuế.
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ cuối
cùng mà tất cả công dân một nớc tạo ra và có thể thu nhập trong năm, không phân
biệt sản xuất đợc thực hiện trong nớc hay nớc ngoài.
GNP = GDP + Thu nhập tài sản ròng từ nớc ngoài.
2
Nh vậy GNP là thớc đo sản lợng gia tăng mà nhân dân của một nớc thực sự
thu nhập đợc.
- Sản phẩm thuần tuý (NNP) hay còn đợc gọi là sản phẩm quốc dân ròng.
Đó là giá trị còn lại của tổng sản phẩm quốc dân, sau khi đã trừ đi giá trị khấu hao
tài sản cố định ( D
p
) trong kỳ.
NNP = GNP - D
p
NNP phán ánh phần của cải thực sự mới tạo ra hằng năm. Do vậy có lúc ng-
ời ta gọi chỉ số đó là thu nhập quốc dân sản xuất (NI).
- Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI): Là phần mà nhân dân nhận đợc và có
thể tiêu dùng, ngời ta gọi là phần thu nhập đợc quyền chi của dân c (NDI) đó là
phần thu nhập ròng sau khi đã từ đi thuế (trực thu và gián thu) (T
i
+ T
d
) và cộng
với trợ cấp (S
d
).
NDI = NNP - (T
i
+ T
d
) + S
d
.
- Thu nhập bình quân đầu ngời: đợc phản ánh bởi hai chỉ tiêu GDP/ngời và
GNP/ngời, đây là những chỉ tiêu phản ánh thu nhập bình quân nó đã đợc điều
chỉnh theo sự biến động của dân số do đó ngời ta coi đây là chỉ tiêu phản ánh tơng
đối chính xác sự biến động thu nhập của đất nớc. Chỉ tiêu này tỷ lệ thuận với quy
mô sản lợng và tốc độ tăng trởng và tỷ lệ nghịch với dân số và tốc độ tăng trởng
dân số tự nhiên hàng năm. do vậy chỉ số thu nhập bình quân đầu ngời là một chỉ số
thích hợp để phản ánh sự tăng trởng và phát triển kinh tế.
2. Đánh giá nghèo đói.
2.1. Khái niệm, bản chất và đặc trng của đói nghèo.
* Khái niệm:
3
Theo từ điển tiếng Việt nghèo là tình trạng không, hoặc có rất ít những gì thuộc
nhu cầu tối thiểu của đới sống vật chất Đói nghèo là không có gì để ăn.
Vấn đề đói nghèo và xoá đói giảm nghèo đã đợc nhiều tác giả đề cập đến trên
những giác độ khác nhau. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà mỗi tác giả lựa chọn
các tiêu chí khác nhau để xác định tình trạng nghèo đói. Nhng tập trung thống
nhất ở một số điểm:
- Đói nghèo là vấn đề cấp bách của nhiều quốc gia, đặc biệt nan giải ở các nớc
chậm phát triển.
- Trên thế giới có nớc nghèo và nớc giàu đợc phân loại trong sự so sánh lẫn nhau
theo những tiêu chí phù hợp với trình độ phát triển kinh tế.
- Trong một nớc cũng có tình trạng một bộ phận dân c giàu có và một bộ phận dân
c nghèo đói hơn.
- Bản thân những nhóm dân c nghèo đói cũng phân thành nhiều loại: một bộ phận
không đủ ăn gọi là đói, một bộ phận theo nghĩa là không có đủ điều kiện để thoả
mãn các nhu cầu cơ bản của họ. ở nớc ta chia nghèo đói thành nghèo đói tuyệt
đối, thiếu đói và đói day gắt.
* Bản chất:
Nghèo đói không đơn giản là có ít tiền. Đó có thể là sự cách biệt hoá về văn hoá
xã hội, nó có thể là thiếu thông tin liên lạc, kinh nghiệm ứng xử trong các tình
huống khó khăn. Nghèo đói cũng có thể là khả năng bị tổn thơng rất cao, tới mức
sự khủng khoảng về sức khoẻ, hay một vụ mùa bị thất bại có thể dẫn tới việc bán
tài sản và rơi vào nợ nần. Đó cũng có thể là việc tác động đến những quyết định có
ảnh hởng đến đời sống của mình. Nghèo đói cũng có nghĩa là bị yếu thế ngay
trong hộ gia đình của mình.
* Đặc trng của hộ gia đình nghèo.
4
- Là nông dân có trình độ văn hoá tơng đối thấp, các hộ gia đình có nhiều con, ít có
điều kiện sử dụng các cơ sở hạ tầng của xã hội, các hộ không có hoặc có rất ít đất
đai canh tác.
- Nghèo đói là một hiện tợng phổ biến ở nông thôn Việt Nam, khoảng hơn 90%
ngời nghèo sống ở nông thôn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn (45%) cao hơn ở thành thị
(10-15%) tuỳ thuộc vào ớc tính về tỉ lệ nghèo của số ngời nhập c không đăng ký.
- Nghèo đói rõ ràng là trầm trọng hơn là ở các vùng miềm núi ở phía Bắc và Tây
Nguyên.
Mặc dù chính phủ đã đầu t và hỗ trợ tích cực nhng một số cộng đồng dân tộc thiểu
số vẫn gặp những bất lợi riêng và những bất lợi này ngày càng trầm trọng do sự cô
lập về văn hoá và địa lý.
2.2 Sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội.
Nớc ta đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trờng, hiện tợng đáng quan
tâm là sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân c trong xã hội.
* Nguyên nhân của hiện tợng này là do:
- Một là: Năng lực sản xuất và hoạt động kinh tế của mỗi bản chất cong ngời là
tích cực. Trong qua trình sản xuất họ luôn tìm cách giảm bớt các chi tiết làm thừa,
làm tăng năng suất lao động. Tuy nhiên do hạn chế về thể lực và trí tuệ mỗi nời
mỗi khác nhau nên trong cùng một thời gian cung một điều kiện sản xuất năng
sứt lao động của họ lại rất khác nhau. Những ngời có sức khoẻ tốt, biết vận dụng
sáng tạo thờng có kết quả sản xuất cao hơn so với ngời có thể lực và trí tuệ kém.
Với tình hình trên, theo thời gian của quá trình phát triển, nếu không có nhân tố
chủ quan nào can thiệp, thì tất yếu xuất hiện một bộ phận dân c có cuộc sống đầy
đủ hơn bộ phận dân c khác.
- Hai là: Tác động thúc đẩy của kinh tế thị trờng: Trong kinh tế thị trờng, mọi chủ
thể sản xuất không còn giới hạn việc sản xuất cho nhu cầu bản thân và hộ gia
5
đình, nên họ đều hớng vào nhu cầu thị trờng, vì thế họ phải cạnh tranh với nhau.
Cạnh tranh làm cho hàng hoá xuất hiện ngày càng nhiều hơn, chất lợng tốt hơn,
mẫu mã đẹp hơn, giá cả càng ngày càng rẻ hơn. Mặt khác cạnh tranh làm xuất
hiện một số chủ thể tham gia trở nên năng động hơn, hàng hoá của họ bán chạy
hơn, thu nhập cao hơn. Trong khi đó có những chủ thể kém năng động thiếu nhạy
bén nên thu nhập kém hơn. Đây là xu hớng tất yếu nảy sinh một bộ phận dân c
giàu có, còn bộ phận khác nghèo.Trong kinh tế thị trờng phân hoá giàu nghèo diễn
ra nhanh hơn rõ rệt hơn so với kinh tế tự nhiên.
- Ba là: Tăng trởng nhanh và xu thế đánh đổi: Phân hoá giàu nghèo nảy sinh do đó
có sự khác biệt về năng lực sản xuất của mỗi ngời dới sự phát triển của kinh tế thị
trờng sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt hơn, đặc biệt trong giai đoạn công
nghiệp hoá với mục tiêu tăng trởng nhanh thì hiện tợng này diễn ra với tốc độ
mạnh hơn, đặc biệt trong giai đoạn con ngời hoá với mục tiêu tăng trởng nhanh thì
hiện tợng này diễn ra với tốc độ mạnh hơn.
* Thực trạng phân hoá giàu nghèo:
- Trong thời kỳ đế quốc phong kiến: ngoài những nguyên nhân khách quan
về năng lực sản xuất kinh doanh của mỗi hộ, điều kiện đất đai khí hậu, sự phân
hóa giàu nghèo còn bị thúc đẩy bởi chế độ chính trị kinh tế xã hội. Nó đi liền với
bất công, hộ giàu bốc lột hộ nghèo, ngời có quyền lực bóc lột dân đen.
- Trong thời kỳ bao cấp: Thu nhập đợc phân phối theo tiêu chuẩn, theo mức
bình quân chung, vì thế phân hoá giàu nghèo có nhng không rõ rệt và không cao.
-Trong thời kỳ đổi mới: Kinh tế với bớc phát triển mạnh vợt bậc và toàn diện.
Cùng với tăng trởng kinh tế và tăng nhanh thu nhập tốc độ phân hoá giàu nghèo
cũng diễn ra nhanh hơn. Một bộ phận nhanh nhạy với thời đại trở nên giàu có hơn,
bộ phận khác không theo kịp với sự biến đổi trở nên tụt hậu, nghèo hơn. Xoá đói
giảm nghèo là vấn đề xã hội búc xúc ở nớc ta.
6
II. Sự cần thiết phải giải quyết mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế
và công bằng x hội.ã
Tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mục tiêu mà một số quốc gia theo
đuổi. Các nớc đang phát triển đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tăng trởng.
Coi đó là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân.
Thực tế cho thấy, ở một số quốc gia tuy nền kinh tế tăng trởng nhng vấn đề bất
bình đẳng trong xã hội vẫn diễn ra mà còn có phần trầm trọng hơn, đời sống của
nhiều ngời vẫn ở mức nghèo khổ và sự bất bình đẳng đó tiếp tục tăng lên rõ rệt ở
các nớc đang phát triển, số đông ngời vãn ở một số nớc này hầu nh không đợc lợi
ích gì do tăng trởng đem lại.
Các quốc gia khác nhau thì có sự lựa chọn con đờng phát triểm của mình khác
nhau. Có nớc thì đề cao mục tiêu tăng trởng kinh tế, có nớc đề cao công bằng xã
hội, có nớc lại chọn kết hợp cả hai mục tiêu đó một cách hợp lý ở Việt Nam,
xuất phát từ quan điểm chủ nghĩa xã hội, về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế
và công bằng xã hội. Tăng trởng kinh tế đợc coi là phơng tiện cơ bản để phát triển,
bản thân nó là một tiêu chí của sự tiến bộ xã hội. Trong khi đó công bằng xã hội là
lý tởng thúc giục chúng ta vơn tới. Chính vì vậy, vấn đề kết hợp tăng trởng kinh tế
đi đôi vơí công bằng xã hội đợc Đảng, Nhà nớc ta đặc biệt quan tâm. Nhiều năm
trớc cơ chế bao cấp tạo ra sự công bằng theo hớng san đều mức thu nhập đã không
kích thích đợc sự tăng trởng kinh tế. Ngợc lại sự công bằng đã làm cho nền sản
xuất bị trì trệ bởi nó thủ tiêu mất động lực của sự lao động nỗ lực và sáng tạo. Nh
vậy có thể nói tăng trởng là điều kiện cần nhng cha đủ để cải thiện đợc vấn đề
công bằng xã hội, cải thiện đợc đời sống vật chất cho nhân dân.
- Thứ nhất: Tăng trởng nhanh sẽ làm tăng bất bình đẳng xã hội.
- Thứ hai: Sự giảm bất bình đẳng xã hội sẽ kìm hãm sự tăng trởng.
Hay nói cách khác tăng trởng kinh tế và công bằng xã hội là hai mục tiêu mâu
thuẫn không thể dung hòa. Nếu muốn tăng trởng mục tiêu này thì phải hy sinh
7
mục tiêu khác và ngợc lại. Bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng trởng kinh
tế mà còn là nguyên nhân của sự tăng trởng ấy.
Từ những thực tế và quan điểm đờng lối phát triển của mình. Muốn nền kinh tế
vẫn tăng trởng cao, giảm bất bình đẳng và giữ vững đợc định hớng xã hội chủ
nghĩa thì không còn cách nào khác. Việt Nam phải lựa chọn con đờng riêng cho
mình. Đó là sự kết hợp giữa hai mục tiêu tăng trởng đi đôi với công bằng xã hội.
Đảng và Nhà nớc ta nhấn mạnh trong các kỳ Đại hội rằng: Tăng trởng kinh tế phải
gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bớc và trong suốt quá trình
phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý t liệu sản
xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất ở việc tạo điều kiện cho mọi ngời có cơ
hội phát triển và sử dụng tốt năng
III. Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế và công bằng
x hội trong quá trình phát triển kinh tế.ã
1. Quan điểm của Simon Kuznets.
Simon Kuznets là nhà kinh tế học ngời Mỹ, trong tác phẩm Sự tăng trởng
kinh tế của các nớc, ông đã đa ra lý thuyết phát triển cân bằng. Theo ông, phát
triển là một quá trình cân bằng, trong đó các nớc tiến lên một bớc vững chắc.
Trong tác phẩm này ông chú ý tới mối quan hệ giữa tổng sản phẩm quốc dân
bình quân đầu ngời và sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Ông cho rằng
mối quan hệ giữa tăng sản phẩm quốc dân bình quân đầu ngời và sự bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập có dạng hình chữ U ngợc.
Theo ông, ở một nớc nghèo, mức độ bình đẳng trong phân phối thu nhập là
thấp thể hiện ở hệ số Gini khá nhỏ (hệ số Gini khoảng 0,2 -> 0,3. Nhng khi nền
kinh tế tăng trởng cao hơn, thu nhập bình quân đầu ngời tăng lên thì sự bất bình
đẳng trong phân phối thu nhập cũng tăng lên và đạt cực đại ở mức trung bình của
mức thu nhập. Sau đó, mặc dù nền kinh tế tiếp tục tăng trởng, thu nhập bình quân
đầu ngời tiếp tục tăng nhng sự không công bằng trong phân phối thu nhập sẽ giảm
8
dần cho đến khi thu nhập bình quân đầu ngời đạt tới mức đặc trng của một nớc
công nghiệp phát triển.
2. Quan điểm của A.Lewis.
Lewis là nhà kinh tế học gốc Jamaica. Năm 1955, trong tác phẩm Lý thuyết và
phát triển kinh tế, ông đã trình bày mô hình d thừa lao động cũng nh nghiên cứu
mối quan hệ giữa hai khu vực: nông nghiệp và công nghiệp. Dựa vào luận điểm
của Ricardo cho rằng lợi nhuận trong nông nghiệp có xu hớng giảm dần vì để mở
rộng sản xuất, nông nghiệp ngày càng phải sử dụng đất đai xấu hơn, dẫn đến chi
phí sản xuất ngày càng tăng, chính vì vậy ở nông thôn có lao động d thừa; và khi
đất đai là giới hạn của sự phát triển nông nghiệp thì cần phải chuyển bớt số lao
động d thừa trong nông nghiệp sang khu vực công nghiệp A. Lewis cho rằng:
muốn lôi kéo đợc lao động d thừa từ nông nghiệp sang công nghiệp thì các xí
nghiệp công nghiệp phải trả tiền công tơng xứng với mức tiền công tối thiểu mà
những lao động này kiếm đợc ở nông thôn. Nhng đến một mức nào đó nó sẽ làm
ảnh hởng đến sản xuất nông nghiệp. Khi đó lao động sẽ trở nên đắt hơn, do vậy,
các chủ xí nghiệp công nghiệp phải trả tiền công cao hơn mới đủ sức lôi kéo lao
động từnông nghiệp sang công nghiệp.
Quan điểm trên của A. Lewis có thể đi đến kết luận: thời gian đầu của quá
trình tăng trởng thì bất đẳng tăng lên vì quy mô sản xuất của nông nghiệp ngày
càng mở rộng làm cho lao động từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp ngày
càng tăng, nhng tiền công của công nhân nói chung vẫn ở mức tối thiểu nhng thu
nhập của các nhà t bản tăng lên do mở rộng quy mô sản xuất. Vì thế trong giai
đoạn này, đại bộ phận những ngời lao động nghèo khổ, chỉ có một số ít các nhà t
bản trở nên giàu có. Nhng sang giai đoạn sau của quá trình tăng trởng bất bình
đẳng giảm bớt vì khi lao động d thừa đã đợc hút hết vào khu vực công nghiệp thì
lao động trở thành một yếu tố khan hiếm của sản xuất. Khi đó nhu cầu lao động
tăng lên đòi hỏi tiền lơng cũng phải tăng lên và sự tăng lên này dẫn đến sự giảm
bớt bất bình đẳng.
9
Nh vậy, theo Lewis, tăng trởng diễn ra trớc, bình đẳng diễn ra sau, chỉ trên cơ
sở tăng trởng mới dẫn đến làm giảm bớt bất bình đẳng xã hội. Song sự bất bình
đẳng không chỉ là kết quả của sự tăng trởng mà còn là điều kiện cần thiết của tăng
trởng. Trong sự bất bình đẳng đó, những ngời có thu nhập cao sẽ giành một phần
đáng kể thu nhập của mình cho tích luỹ, dẫn đến tăng đàu t, từ đó thúc đẩy phát
triển kinh tế nhanh hơn. Vì vậy, các cố gắng để phân phối lại thu nhập một cách
vội vã không đúng lúc sẽ dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt sự tăng trởng kinh tế.
3. Quan điểm của Harry Oshima
H.oshima là nhà kinh tế học Nhật Bản, dựa vào những luận điểm của Ricardo về
mối quan hệ giữa khu vực nông nghiệp và công nghiệp, ông đã đi sâu nghiên cứu
mối quan hệ này trong điều kiện một nền nông nghiệp lúa nớc có tính thời vụ cao.
Trong tác phẩm Tăng trởng kinh tế ở Châu á gió mùa, H.oshima đã đa ra một
mô hình tăng trởng mới gắn liền với giải quyết vấn đề công bằng xã hội.
Theo H.oshima, do nền nông nghiệp có tính thời vụ cao có lúc thiếu lao động, lại
có lúc thừa lao động. Do đó trong thời kỳ đầu có thể tăng năng suất lao động bằng
cách giảm tình trạng thiếu việc làm trong luc nông nhàn. Giải pháp cơ bản để giảm
tình trạng thiếu việc làm là tăng vụ, đa dạng hoá cơ cấu cây trồng, phát triển chăn
nuôi, trồng cây công nghiệp và cây lâm nghiệp. Vì có việc làm nhiều hơn, nên thu
nhập của nông dân cũng sẽ đợc tăng lên, giảm bớt sự bất bình đẳng trong thu nhập
giữa nông thôn và thành thị. Khi thu nhập tăng lên nông dân bắt đầu có tích luỹ và
có thể tăng đầu t cho sản xuất, nhờ vậy nông nghiệp đợc tăng trởng nhanh hơn.
Đồng thời nhà nớc phải có chính sách hỗ trợ nông nghiệp về cơ sở hạ tầng nh thuỷ
lợi, giao thông, điện để nông nghiệp phát triển nhanh hơn.
Tiếp theo, do nông nghiệp đã đợc phát triển ở mức độ nhất định có thể cho phép
đa dạng hóa ngành nghề ở nông thôn. ngoài các hoạt động nông nghiệp, các hoạt
động chế biến lợng thực thực phẩm, thủ công mỹ nghệ cũng ngày càng đ ợc phát
triển. Điều này đòi hỏi có sự hoạt động đồng bộ từ sản xuất, vận chuyển tiêu thụ,
10
đến các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nh tín dụng, cung cấp nguyên liệu, công cụ sản
xuất cho công nghiệp.
Nh vậy, phát triển nông nghiệp đã tạo điều kiện mở rộng thị trờng cho công
nghiệp, do đó thúc đẩy mở rộng sản xuất công nghiệp và thúc đẩy dịch vụ phát
triển. Điều đó tạo nên sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp
và các ngành dịch vụ. Quá trình nh vậy diễn ra trong một thời gian dài cho đến khi
khả năng tăng việc làm vợt quá tốc độ tăng lao động, làm cho lao động bắt đầu
khan hiếm, tiền công lao động thực tế tăng lên, và điều này sẽ làm giảm bớt sự bất
bình đẳng trong phân phối thu nhập. Sau đó, cùng với quá trình phát triển công
nghiệp, tiền lơng trong nông nghiệp cũng dần dần đợc tăng lên. Khi đó xuất hiện
xu hớng sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay, vì lúc này sử dụng máy
móc rẻ hơn. Trong điều kiện đó, có thể chuyển lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp ở thành phố, trong khi đó ở nông thôn sản xuất lơng thực vẫn tiếp tục
tăng.
Khi các ngành công nghiệp phát triển, có thể tìm đợc thị trờng xuất khẩu mạnh
mẽ, sẽ tăng sức hút lao động mạnh hơn nữa. Điều này dẫn đến cầu về lao động vợt
quá cung về lao động. Do đó, ở nông thôn đạt đến mức đủ việc làm, tiền công
cũng tăng lên, nh vậy, theo H.Oshima, tăng trởng kinh tế sẽ kéo theo vấn đề công
bằng xã hội. Và khi công bằng xã hội đạt đến mức độ nào đó lại là tiền đề thúc
đẩy tăng trởng kinh tế hơn nữa.
4.Quan điểm của Các Mác về phân phối bất bình đẳng trong xã
hội
Theo C.Mác, phân phối thu nhập quốc dân lần đầu trong xã hội t bản chủ
nghĩa đợc chia làm hai phần:
- Phần thứ nhất: Ngời lao động nhận đợc tiền công (C.Mác ký hiệu là v).
- Phần thứ hai: Thu nhập của nhà t bản và địa chủ (C.Mác ký hiệu là m).
11
Nếu nh tiền công của công nhân chỉ đủ sống cho bản thân và gia đình họ thì
phần thu nhập của nhà t bản và địa chủ còn tích luỹ một phần để tái sản xuất mở
rộng. Với sự tích luỹ đó, nhà t bản và địa chủ lại mở rộng sản xuất, thuê thêm
công nhân, do đó, họ ngày càng giầu lên, còn công nhân ngày càng nghèo đi.
Các nhà kinh tế t sản cho rằng trong chủ nghĩa t bản tài sản là yếu tố quan
trọng nhất, do đó phân phối theo tài sản là phơng thức phân phối cơ bản. Theo
C.Mác, trong chủ nghĩa t bản, tài sản tập trung trong tay một số ngời giàu, còn đại
bộ phận dân c chỉ có sức lao động. Vì thế, việc phân phối theo tài sản chính là làm
tăng tính bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, đó là sự phân phối tạo nên kẻ
bóc lột và ngời bị bóc lột. Từ đó, C.Mác sự đoán hình thức phân phối công bằng
hơn trong một xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Trong xã hội cộng sản chủ
nghĩa dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản xuất, phơng thức phân phối cơ bản
trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản - chủ nghĩa xã hội - là phân phối theo lao
động; trong giai đoạn sau - chủ nghĩa cộng sản - là phân phối theo nhu cầu, từ đó
sẽ xoá bỏ đợc sự phân phối bất bình đẳng nh trong chủ nghiã t bản.
12
Chơng II: Thực trạng về mối quan hệ tăng trởng kinh tế, công
bằng xã hội và đói nghèo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
I. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc về công bằng x hội và xoáã
đói giảm nghèo.
1. Quan điểm về công bằng xã hội.
Quan điểm của Đảng ta là tăng trởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bớc và trong suốt qúa trình phát triển. Công bằng xã
hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối kết quả sản xuất cũng nh ở việc tạo điều
kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng.
Phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi chúng ta phải quan tâm hơn tới
tiến bộ xã hội và công bằng xã hội trong quá trình tăng trởng kinh tế, nhất là trong
quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng phát triển theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Công bằng xã hội trong phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa không chỉ là
việc điều hoà lợi ích, điều tiết phân phối lại thu nhập của các giai tầng trong xã hội
cho hợp lý, mà quan trọng hơn là phải bảo đảm cho mọi tầng lớp xã hội đợc hởng
các quyền lợi xã hội nh giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, đào tạo nghề nghiệp, đựơc
giúp đỡ lúc khó khăn, hoạn nạn. Công bằng xã hội bảo đảm cho mọi thành viên
trong xã hội không ngừng nâng cao mức sống và tự khẳng định mình. Công bằng ở
đây không phải là sự công bằng, thực hiện chủ nghĩa bình quân, mà vấn đề mấu
chốt để thực hiện công bằng xã hội là phải gắn kiền nó với sự tăng trởng kinh tế.
Công bằng xã hội của nớc ta gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là một trong
những biểu hiện đặc trng của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự
thống nhất và phát triển biện chứng giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng xã hội và giải phóng con ngời. Chủ nghĩa xã hội sẽ tiến tới xoá bỏ mọi
áp bức, bóc lột, bất công và mu cầu hạnh phúc cho mọi ngời, mọi gia đình và toàn
13
xã hội, đó là công bằng xã hội lớn nhất, triệt để nhất mà chúng ta phấn đấu. Mục
tiêu lâu dài đó đợc cụ thể hoá cho giai đoạn trớc mắt ở nớc ta bằng khẩu hiệu toàn
dân đoàn kết phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng xã hội,
văn minh. Bằng khẩu hiệu đó, Đảng và Nhà nớc ta khuyến khích mọi ngời tham
gia làm giàu chính đán. Phấn đấu để ngời nghèo thì đủ ăn, ngời đủ ăn thì trở nên
khá giả, ngời khá giả thì trở nên giàu có. Chúng ta thừa nhận có một bộ phận dân
c giàu lên trớc, một số vùng giàu lên trớc là điều cần thiết, để thúc đẩy hỗ trợ cho
sự phát triển và tiến bộ chung. Đồng thời phải có những chính sách kinh tế, xã hội
đặc biệt để trợ giúp ngời nghèo, vùng nghèo khá dần lên.
2. Quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế với công
bằng xã hội.
Tự năm 1986 đến nay, đất nớc ta bớc vào một thời kỳ mới - thời kỳ chuyển từ
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
Qua hơn 10 năm đổi mới,nền kinh tế đã vợt qua đợc giai đoạn khủng hoảng,
bớc đầu đi vào giai đoạn phát triển, có vị trí xứng đáng trong khu vực và trên thế
giới.
Trong giai đoạn này, Đảng ta từng bớc đã xử lý đúng đắn mối quan hệ tăng
trởng kinh tế và công bằng xã hội. Đảng ta coi vuệc giải quyết mối quan hệ này là
một trong những nội dung cơ bản đảm bảo tính định hớng xã hội chủ nghĩa trong
quá trình phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:
tăng tr ởng kinh tế phải luông gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Công
bằng xã hội không chỉ đợc thực hiện trong phân phối kết quả sản xuất, mà còn đợc
thực hiện ở khâu phân phối t kiệu sản xuất, ở việc tạo ra những điều kiện cho mọi
ngời phát huy tốt năng lực của mình.
Hội nghị Trung ơng lần thứ t (Khoá VIII) cũng đã xác định cụ thể t tởng
của Đảng Cộng sản Việt Nam là: Phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công
14
bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng mở rộng ở cả
thành thị và nông thôn.
Những quan điểm trên đây của Đảng ta đợc thể hiện qua các vấn đề sau:
Tăng trởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong
từng bớc và trong suốt quá trình phát triển. Đảng ta cho rằng tăng trởng và công
bằng có sự thống nhất với nhau, do đó cần có các chơng trình, chính sách đồng
thời giải quyết hai mục tiêu: tăng trởng và công bằng. Mỗi bớc tăng trởng kinh tế
phải đa đến lợi ích cho đa số đại đa số dân c, nói cách khác, phần lớn dân c phải đ-
ợc hởng lợi ích từ kết quả tăng trởng. Và thực hiện tốt điều này sẽ tạo ra động lực
xã hội để thúc đẩy tăng trởng kinh tế nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Để phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội và khắc phục tìn trạng
phân hoá giàu nghèo ngày càng mở rộng, quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt
Nam thể hiện trong Hội nghị Trung ơng lần thứ t (Khoá VIII) là Phải phân phối
đối tợng lao động (đất đai, tài nguyên ), t liệu sản xuất, kết quả lao động thế nào
để bảo đảm công bằng xã hội? Khuyến khích làm giàu hợp pháp, nhng phải chăm
lo xoá đói giảm nghèo. Trong cơ chế kinh tế hiên nay, chúng ta còn phải chấp
nhận có bóc lột, bên cạnh phân phối cho lao động, còn phân phối cho các yếu tố
sản xuất khác, nhng thừa nhận bóc lột đến đâu thì chấp nhận đợc? Phát triển kinh
tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, thu hẹp dần khoảng cách giữa thành
thị và nông thôn, nông thôn với nông thôn và cả giữa thành thị với thành thị, giữa
các tầng lớp xã hội.
II. Thực trạng về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế, công bằng xã
hội và xoá đói giảm nghèo.
1. Tăng trởng kinh tế với công bằng xã hội.
1.1. Tăng trởng kinh tế trong thời kỳ đổi mới.
15
Thời kỳ 1976-1985 tốc độ tăng trởng kinh tế nớc ta bình quân hàng năm chỉ đạt
2.0%, trong khi tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm 2.4%, cho nên mức thu
nhập bình quân đầu ngời giảm bình quân 0.4% mỗi năm. Trong những năm đó,
nền kinh tế Việt Nam tăng trởng thấp, làm không đủ ăn và dựa vào nguồn lực bên
ngoài ngày càng lớn. Nhu cầu cơ bản của ngời dân thành thị đợc đảm bảo bằng
chế độ tem phiếu, sự khác nhau trong tiền lơng danh nghĩa giữa những ngời làm
công ăn lơng trở nên không đáng kể. ở nông thôn, hầu hết nông dân đều là xã
viên hợp tác xã nông nghiệp, nhu cầu cơ bản của họ cũng đợc bảo đảm bằng chế
độ phân phối theo định suất (phụ thuộc chủ yếu vào số khẩu trong gia đình). Vì
vậy, chế độ phân phối mang nặng tính chất bình quân, cào bằng. Động lực không
còn, công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng, kinh tế nớc ta rơi vào khủng
hoảng nặng nề.
Đại hội VI năm 1986 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xớng công cuộc đổi
mới. Những nội dung quan trọng của đờng lối đổi mới kinh tế là thực hành dân
chủ hoá đời sống kinh tế, chuyển cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ
sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa,
chuyển việc phát triển kinh tế quốc doanh và tập thể ồ ạt sang phát triển kinh tế
nhiều thành phần, chuyển việc cấp phát hiện vật và bao cấp sang sử dụng quy luật
giá trị của sản xuất hàng hoá, mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu t nớc ngoài, chuyển
quan hệ kinh tế đối ngoại từ đơn phơng sang đa phơng theo hớng nền kinh tế mở,
đa dạng hoá hình thức và đa dạng hoá quan hệ.
Trong những năm đầu đổi mới, thành công nhất là đã chuyển đổi về cơ bản cơ chế
quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới trong khi vẫn giữ vững đợc ổn định chính trị
và xã hội. Quá trình chuyển đổi này không những khắc phục đợc những khó khăn,
vấp váp của sự tìm tòi, thủ nghiệm đổi mới trong các giai đoạn trớc, mà còn đạt đ-
ợc nhịp độ tăng trởng nhất định về kinh tế. Tổng sản phẩm trong nớc năm 1987
tăng 3.6%, năm 1988 tăng 5.0%, năm 1989 tăng 4.7%, năm 1990 tăng 5.1%, năm
1991 tăng 6.0%, từ năm 1992 tăng lên 8% và từ năm 1995 tăng lên 9.0% trở lên.
16
Cơ chế mới đi vào thực tiễn từ năm 1989, tem phiếu đợc xoá bỏ, lạm phát phi mã
đã bị kìm lại, đời sống ngời dân từng bớc đợc cải thiện.
Bảng 1: dân số tốc độ tăng trởng kinh tế (GDP và GDP đầu ngời)
Năm Dân số (triệu
ngời)
Tăng GDP (%) Tăng GDP đầu
ngời (%)
1977 50,41 2,8 0,25
1978 51,42 2,3 0,28
1979 52,46 -2,0 -3,95
1980 53,72 -1,4 -3,71
1981 54,92 2,3 0,06
1982 56,17 8,8 6,40
1983 57,37 7,2 5,08
1984 58,45 8,3 5,80
1985 59,67 5,7 3,56
1986 61,11 6,5 4,34
1987 62,45 3,6 1,38
1988 63,73 6,0 3,81
1989 64,77 4,7 2,44
1990 66,23 5,1 3,24
1991 67,77 6,0 3,54
1992 69,41 8,6 6,39
1993 71,03 8,1 5,82
1994 72,51 8,8 6,61
1995 74,00 9,5 7,35
1996 75,52 9,3 7,20
1997 77,08 9,0 7,00
Tăng trung bình
hàng năm (%)
% % %
1986 1990 2,20 5,0 2,60
1991 1995 2,15 8,2 5,80
1996 1997 2,00 9,2 7,05
Nguồn: Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê qua các năm.
Nhịp độ tăng trởng kinh tế cao thể hiện rõ nét ở hầu hết các ngành kinh tế then
chốt.
17

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×