Tải bản đầy đủ

Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007

Mục lục
Phần I: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Xác định vấn đề nghiên cứu...........................................................................3
3. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu......................................................................4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.....................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................4
Phần II: Nội dung
1. Khái quát chung về khủng hoảng kinh tế.......................................................5
1.1 Định nghĩa chung và một số khái niệm cơ bản...........................................5
1.1.1 Khủng hoảng kinh tế............................................................................5
1.1.2 Khủng hoàng tài chính..........................................................................6
1.1.3 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng.............................................................7
1.1.4 Quỹ phòng hộ.......................................................................................7
1.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế...............................................7
1.2.1 Nguyên nhân khách quan......................................................................7
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan.........................................................................8
2. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại một số quốc gia giai đoạn 2007-2010..............9
2.1 Mỹ.............................................................................................................9
2.1.1 Nguyên nhân........................................................................................9
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 1

2.1.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng.............................................12
2.1.3 Giải pháp của chính phủ Mỹ...............................................................16
2.2 Liên minh châu Âu – EU.........................................................................18
2.2.1 Nguyên nhân......................................................................................18
2.2.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng.............................................21
2.2.3 Giải pháp của EU...............................................................................29
2.3 Trung Quốc.............................................................................................31
2.3.1 Nguyên nhân......................................................................................31
2.3.2 Diễn biên và tác động của khủng hoảng..............................................32
2.3.3 Giải pháp của chính phủ Trung Quốc.................................................33
2.4 Việt Nam.................................................................................................34
2.4.1 Nguyên nhân......................................................................................34
2.4.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng.............................................34
2.4.3 Giải pháp của chính phủ Việt Nam.....................................................39
Phần III: Đánh giá các giải pháp của chính phủ, các bài học rút ra
1. Đánh giá......................................................................................................41
2. Bài học rút ra...............................................................................................48
Tài liệu tham khảo
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 2
Phần I: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài.
Như chúng ta đã biết, ngày nay khủng hoảng kinh tế không còn là một khái niệm xa
lạ nữa. Mà ngược lại, khủng hoảng kinh tế ngày càng trở thành một đề tài nóng mà
mỗi quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm. Vậy khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ
đâu? Nó đã hình thành và phát triển như thế nào? Sự móc nối của nó với nền kinh tế
các nước ra sao? Đó chính là những câu hỏi thú vị mà chúng ta sẽ được giải đáp khi
tìm hiểu về khủng hoảng kinh tế.
Là sinh viên khối ngành kinh tế, ngày ngày được học về các khái niệm kinh tế
chung: Kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô, thống kê…. Đến những khái niệm nhỏ hơn
trong đó: Lạm phát, chính sách tài chính, tiền tệ….Chúng tôi càng muốn hiểu sâu
hơn về những khái niệm mà ai làm kinh tế cũng phải quan tâm đó chính là “khủng
hoảng kinh tế”. Đây cũng chính là một trong những lý do nhóm chúng tôi chọn đề
tài này để nghiên cứu.
Ngoài ra, nhóm chúng tôi muốn ứng dụng những kiến thức đã học được ở bộ môn
kinh tế vi mô và vĩ mô để nhìn khủng hoảng kinh tế ở góc độ là những nhà kinh tế
tương lai. Nói một cách đơn giản, khủng hoảng kinh tế đưa đến những thách thức,
nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội. Điều chúng ta quan tâm là làm sao hạn chế được
hậu quả và nắm bắt được các cơ hội kịp thời. Tìm ra những đáp án cho những câu
hỏi trên là chúng ta đã hiểu được khủng hoảng kinh tế.
2. Xác định vấn đề nghiên cứu
Trước tiên để có thể nghiên cứu được vấn đề này cần phải tìm hiểu về các khái
niệm cơ bản nhất của khủng hoảng kinh tế. Nguyên nhân vì sao lại xảy ra các cuộc
khủng hoảng kinh tế, tác động của chúng ra sao. Và trên hết là các cách giải quyết
các vấn đề khủng hoảng của một số quốc gia và liên minh khu vực trên thế giới bao
gồm: Mỹ, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Việt Nam. Trên cơ sở đó, hiểu ra
được vì sao khủng hoảng lại gây ra được các tác hại đó và vì sao nó ảnh hưởng rất
nghiêm trọng đến quốc gia này trong khi lại tương đối nhẹ nhàng ở quốc gia khác.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 3
3. Mục tiêu đề tài nghiên cứu
Cung cấp một cái nhìn khách quan cho các nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp cũng
như các cá nhân trước cơn khủng hoảng, để họ có các biện pháp kịp thời.
Tìm ra con đường để tránh được các tác hại, rủi ro mà khủng hoảng kinh tế gây ra,
đồng thời nắm bắt được cơ hội kịp thời để phát triển.
Đánh giá được các chính sách giải quyết của các nhà nước, chính phủ, từ đó rút ra
được những chính sách hay, đáng được học hỏi và phát huy.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007-2009.
Về phạm vi nghiên cứu là tại Mỹ, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo các nguồn tài liệu sách báo, internet và các đề tài nghiên cứu khác có
liên quan về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007-2009.
Đưa ra nhận xét và đánh giá cá nhân về các phương pháp giải quyết của từng chính
phủ.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 4
Phần II: Nội dung
1. Khái quát chung về khủng hoảng kinh tế
1.1 Định nghĩa chung và một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khủng hoảng kinh tế
Một nước nào đó trải qua càng nhiều chấn động kinh tế, càng nhiều điểm yếu được
loại bỏ, và khi kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, càng khỏe mạnh hơn trước...
Câu chuyện về doanh nghiệp đóng cửa, thất nghiệp tăng lên, ngan hang sụp đổ, hệ
thống thanh toán thất bại, tăng cường tích tụ nhiều hang hóa không bán được trên
thị trường, phá giá tiền tệ … đã trở nên rất cũ. Theo quan điểm lịch sử thì khủng
hoàng kinh tế hiện nay chằng phải là một hiện tượng siêu nhiên. Khủng hoàng trong
kinh tế là quá trình thong thường, tiến triển phụ thuộc vào sự vận động bên trong
của hệ thống kinh tế.
Luật chu kỳ
Bất kỳ khủng hoảng nào cũng chỉ xuất hiện khi bị mất thăng bằng, bị mất cân đối
giữa những phần cấu thành sự thống nhất. Trong phạm trù kinh tế thì khủng hoảng
xuất hiện khi thăng bằng giữa cầu và cung của hàng hóa hoặc dịch vụ bị mất.
Có bao nhiêu lý thuyết về kinh tế, thì có bấy nhiêu loại khủng hoảng kinh tế. Và gần
như tất cả các lý thuyết đều nói là không thể tránh khỏi khủng hoảng kinh tế được.
Nó là một phần của hệ thống kinh tế và sẽ chỉ biến mất khi chúng ta xóa bỏ luật lệ
kinh tế theo kiểu mẫu thị trường và kế hoạch.
Trường phái tự do chủ nghĩa khẳng định rằng kinh tế có tính chất chu trình, có thời
kỳ phát triển và đổ vỡ, bởi vì nhu cầu tiêu dùng và đầu tư có dạng sóng. Còn chủ
nghĩa Mác khẳng định rằng khủng hoảng tài chính là thuộc tính cần thiết của chủ
nghĩa tư bản, vì mục tiêu chính trong hệ thống của chủ nghĩa tư bản đã khởi sự là
phải thu lợi nhuận.
Mô tả dưới dạng sơ đồ thì nó thể hiện câu chuyện như sau: mức độ sản xuất hàng
hóa tăng lên và vượt nhu cầu tương ứng khả năng thanh toán thực tế, dẫn tới chuyện
phải cho vay tiền để mua hàng hóa với mục tiêu tăng cầu. Nợ nần dần dần tích lũy,
tiền-hàng hóa không cho vay được nữa và sự sản xuất rút ngắn lại vì không cần
thiết. Bắt đầu qúa trình sa thải nhân viên-công nhân với quy mô lớn, tỷ lệ thất
nghiệp tăng lên, mức độ sung túc trong cuộc sống và sinh hoạt sụt giảm.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 5
1.1.2 Khủng hoàng tài chính
Nói một cách đơn giản, là sự mất khả năng thanh toán của các tập đoàn tài chính,
dẫn tới sự sụp đổ và phá sản dây chuyền trong hệ thống tài chính. Mở rộng ra,
khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố tài chính của nền
kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Dấu hiệu
của khủng hoảng tài chính là:
Các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi
đến.
Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn
trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Hay : Khủng hoảng tài chính là trạng thái chấn động của hệ thống tài chính, từ
hệ thống lưu thông tiền tệ, tín dụng, đến tài chính nhà nước, biểu hiện chủ yếu ở sự
mất ổn định, mất cân đối giữa thu và chi, thiếu hụt nghiêm trọng và kéo dài các
nguồn vốn ngân sách nhà nước và tín dụng của ngân hàng, kéo theo lạm phát, đồng
tiền mất giá nghiêm trọng. KHTC bắt nguồn từ sự thiếu hụt ngân sách do đề phòng
và chuẩn bị chiến tranh, tăng cường lực lượng quân sự, hoặc do chi tiêu vào phúc
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 6
lợi xã hội quá sức chịu đựng của nền kinh tế, hoặc đầu tư nhiều mà không có hiệu
quả, tất cả đều có thể dẫn đến KHTC. Khủng hoảng thị trường tài chính xảy ra khi
những món nợ đến hạn không thu hồi được, do việc cấp phát vốn, cấp tín dụng
không kiểm tra, kiểm soát, không xem xét khả năng hoàn vốn của những đơn vị vay
hoặc, do giá chứng khoán cổ phần đột nhiên giảm sút.
1.1.3 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng
Là sự chấn động, rối loạn của hệ thống lưu thông tiền tệ và tín dụng, nảy sinh do
khủng hoảng chu kì của sản xuất (khủng hoảng kinh tế) hoặc do các sự kiện đặc biệt
thất thường về kinh tế và chính trị. Trên thị trường tiền tệ, KHTT-TD biểu hiện
dưới dạng thiếu tiền cho vay và tăng cao lãi suất. Trong thời kì khủng hoảng tiền tệ,
trong lĩnh vực tín dụng và thương mại xảy ra việc thủ tiêu có tính chất cưỡng bức
một phần số dư nợ lẫn nhau của các nhà kinh doanh về kì phiếu và giảm khối lượng
tín dụng thương mại. Trong lĩnh vực tín dụng quốc tế, KHTT - TD biểu hiện: sự đứt
quãng tức thời các mối quan hệ tín dụng quốc tế và sự phá sản của những người vay
tiền nước ngoài, sự ách tắc của người xuất khẩu do các ngân hàng không cho họ vay
thêm những khoản tín dụng mới; sự thiếu hụt lớn của các bảng cân đối thanh toán,
và giảm sút lớn xuất khẩu tư bản. Ảnh hưởng của KHTT - TD cũng biểu hiện cả
trên thị trường chứng khoán và trong lĩnh vực lưu thông tiền tệ. Đặc trưng của nó là
"nạn đói tiền" hay là sự "rối loạn" toàn bộ lưu thông tiền tệ, và sự mất giá đồng tiền.
Khủng hoảng tiền tệ, với ý nghĩa là khủng hoảng thị trường tín dụng ngắn hạn,
thường gây ra khủng hoảng thị trường vốn (tư bản) là nơi cấp phát các khoản tín
dụng dài hạn, dẫn đến khủng hoảng tài chính - tiền tệ. Vào nửa cuối 1997, một cuộc
khủng hoảng tài chính - tiền tệ nghiêm trọng xảy ra ở các nước Đông Nam Á (Thái
Lan, Inđônêxia, Philippin, Malaixia) và một số nước Đông Á khác, và ở cả một số
nước phát triển Châu Âu. Nó diễn ra trong quá trình đẩy mạnh tự do hoá thương
mại, đầu tư, thị trường tài chính. Nó biểu hiện qua sự thâm hụt lớn tài chính và ngân
sách, nợ nước ngoài chiếm tỉ trọng lớn trong GDP và không có khả năng thanh toán,
đồng tiền mất giá mạnh, dự trữ ngoại tệ giảm sút nặng.
1.1.4 Quỹ phòng hộ
Là quỹ tiền tệ được để đề phòng những rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt là các ngân
hàng, tổ chức tín dụng.
1.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế
1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân chủ yếu là mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản; từ đó nảy sinh một
loạt mâu thuẫn phái sinh: mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, mâu thuẫn giữa sản
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 7
xuất và tiêu dùng, mâu thuẫn giữa tính có tổ chức trong các xí nghiệp riêng biệt và
tình trạng sản xuất vô chính phủ trong toàn xã hội.
Những mâu thuẫn đó đưa nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đến khủng hoảng kinh tế.
Khủng hoảng là giai đoạn cơ bản của chu kì kinh tế tư bản chủ nghĩa. Cơ sở vật
chất của sự phát triển có tính chu kì của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và sự phát sinh
một cách định kì các cuộc khủng hoảng kinh tế sản xuất thừa là sự thay thế tư bản
cố định (khoảng 8 - 10 năm). Khối lượng hàng hoá sản xuất vượt quá khối lượng
nhu cầu có khả năng thanh toán.
Do đó, nảy sinh những sự mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân, và do đó "chủ
nghĩa tư bản cần trải qua một cuộc khủng hoảng mới tạo nên được một sự cân đối
thường xuyên bị phá hoại" (V. I. Lênin). Hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa
đã kinh qua những cuộc KHKTSXT những năm 1825, 1836, 1847, 1857, 1866,
1873, 1882, 1890. Bước vào thế kỉ 20, thời kì đế quốc chủ nghĩa, các cuộc khủng
hoảng xảy ra vào những năm 1900, 1907, 1914 - 21, 1929 - 33, 1937 - 38, 1948 -
49,1953 - 54, 1957 - 58, 1960 - 61, 1969 - 71, 1974 - 75, 1980 - 82. Khủng hoảng
kinh tế gây ra tác động tiêu cực: phá hoại lực lượng sản xuất, làm phá sản một loạt
xí nghiệp, một bộ phận người lao động bị thất nghiệp, và khôi phục tạm thời những
mất cân đối của tái sản xuất.
Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế 2007-2009 bắt đầu từ sự sụp đổ tài chính
phố Wall với chính sách tín dụng dưới chuẩn, hay còn gọi là tín dụng thế chấp bất
động sản rủi ro cao, Cục Dự Trử Liên bang Mỹ thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng
làm cho Đô la rẻ so với các đơn vị tiền tệ khác trên thế giới. Kết quả là thị trường
tài chính và thị trường bất động sản sôi lên và nổ tung. Trong đó người ta nêu lên
nguyên nhân chính là do sự thiếu kiểm soát chặt chẽ của nhà nước nên mới có sự nổ
tung của thị trường tài chính và thị trường bất động sản.
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết và giám sát lĩnh vực tài chính, kỹ thuật tài chính
và các thiết chế tài chính tư nhân lớn. Trong đó, hai nguyên nhân lớn nhất là sự thất
bại của chính sách kinh tế vĩ mô và trong điều tiết, giám sát tài chính.
Cuộc khủng hoảng kinh tế là bắt nguồn từ lòng tham của con người mà gây ra. Và
lòng tham đó đã được các nhà tài phiệt tận dụng một cách triệt để, để vơ vét và làm
giàu cho tập đoàn của mình. Họ chủ động kích cầu lòng tham của thế giới còn lại
bằng giấc mơ ảo từ tín phiếu, từ cổ đông, từ bất động sản, etc… Họ nâng giá bằng
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 8
những đợt kích giá trên thị trường chứng khoán. Họ cho vay thả ga những đồng vốn
kết sù họ có. Đến khi chiếc bong bóng họ thổi đã đến đỉnh điểm, họ bắt đầu châm
kim bằng những đợt thắt chặt hầu bao cho vay và nâng giá lãi suất.
2. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại một số quốc gia giai đoạn 2007-2010
2.1 Mỹ
2.1.1 Nguyên nhân
Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ bắt đầu diễn ra từ năm 2007, đây là cuộc khủng
hoảng trên nhiều lĩnh vực tài chính ( bảo hiểm, chứng khoán, tín dụng). Nó bắt
nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp. Và nhanh chóng lan ra quy mô
lớn, trở thành nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
2.1.1.1.Nguyên nhân trực tiếp:
Nợ dưới chuẩn-chứng khoán hóa
Nợ dưới chuẩn được hiểu là các khoản cho vay các đối tượng có mức tín nhiệm
thấp. Những đối tượng đi vay này thường là những người nghèo, không có công ăn
việc làm ổn định, vị thế xã hội thấp hoặc có lịch sử thanh toán tín dụng không tốt
trong quá khứ. Những đối tượng này tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán
nợ đến hạn và do đó rất khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng truyền
thống vốn chỉ dành cho những đối tượng trên chuẩn.
Chính vì vậy, nợ dưới chuẩn có mức độ rủi ro tín dụng rất cao song bù lại có mức
lãi suất cũng rất hấp dẫn. Tại Mỹ, nợ dưới chuẩn được thực hiện đối với các sản
phẩm cho vay thế chấp mua nhà (mortgage), thế chấp mua trả góp ô tô, thẻ tín
dụng... Các đối tượng tín dụng dưới chuẩn phần nhiều là dân nhập cư vào Mỹ.
Sự bùng nổ của cho vay nợ dưới chuẩn bắt nguồn sâu xa từ sự bất cân đối về nguồn
vốn tín dụng toàn cầu trong những năm gần đây, dẫn đến việc thừa các nguồn vốn
mà thị trường không sử dụng hiệu quả. Cho vay nợ dưới chuẩn là một giải pháp để
giải quyết bài toán thừa vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn được thực hiện thông qua một công cụ tài chính
hiện đại rất khá tinh vi được gọi là nghiệp vụ chứng khoán hóa (securitisation).
Hiểu một cách đơn giản, chứng khoán hóa là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài
sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 9
các khoản phải thu, các khoản nợ rồi chuyển đổi chúng thành trái phiếu và đưa ra
giao dịch trên thị trường tài chính. Cho nên chứng khoán hóa đôi khi còn được gọi
là trái phiếu hóa.
Các sản phẩm chứng khoán hóa đã xuất hiện từ những năm 70, nhưng phải đến năm
2001 khi chính sách tiền tệ được nới lỏng thì nó mới phát triển mạnh.
Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán
đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các
loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Việc tồn tại 4 chủ thể kinh
tế trong chứng khoán hóa ( thay vì 2 như giao dịch tín dụng truyền thống); sự xuất
hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn
thất tín dụng (CDS);thêm vào đó là sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục
đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và
CDO nên đã làm tồn tại những rủi ro hệ thống mà mo hình giám sát tài chính của
Mỹ trước khủng hoảng không đủ năng lực để giám sát.
Những rủi ro này tồn tại, và chỉ cần một sự cố xảy ra đối với thị trường, nó sẽ gây
mất lòng tin nghiêm trong ở các bên liên quan. Cơ cấu liên ngân hàng dễ dàng làm
cho sự cố lan ra toàn hệ thống, một ngân hàng phá sản sẽ kéo các ngân hàng khác
chìm theo. Một khi đã mất lòng tin, người gửi tiền sẽ đua nhau đi rút tiền, làm cho
tình hình nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.
Bong bóng thị trường nhà ở
Sau khi bong bóng Dot-com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự
kiện 11 tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để
cứu nền kinh tế nước này khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên
ngân hàng. Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002,
lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn 1,75%. Tín dụng thứ cấp
cũng giảm lãi suất theo. Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản
và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường tín
dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm kể cả cho
những người nhập cư bất hợp pháp vay. Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mục
đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở. Năm 2005, có tới 28% số nhà
được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không. Năm này, bong
bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ. Từ quý IV năm 2005 đến quý I
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 10
năm 2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3%. Thời điểm đó, tổng giá trị lũy tích
các khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ dollar.
Giá nhà mới tại Mỹ giảm gần 10% trong tháng 9/2007 , mức cao nhất trong suốt
gần 4 thập kỷ tại nước này. Theo thống kê của Bộ Thương mại Mỹ, giá trung bình
của những ngôi nhà mới được bán ra trong tháng 9 là 217.100 USD - giảm 9,7% so
với cùng kỳ năm ngoái.Đây là lần đầu tiên thị trường nhà đất Mỹ chứng kiến mức
giảm giá kỷ lục, kể từ tháng 12/1970.
Sau khi bong bóng nhà ở vỡ, các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả nợ. Nhiều tổ
chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ. Giá nhà ở
giảm nhanh khiến cho CDO và MBS do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá
nghiêm trọng. Kết quả là bảng cân đối tài sản của các tổ chức này xấu đi và xếp
hạng tín dụng của họ bị các tổ chức đánh giá đánh tụt. Cuộc khủng hoảng tín dụng
nhà ở thứ cấp nổ ra. Tóm lại, sự cho vay dễ dãi của các ngân hàng tín dụng tại Hoa
Kỳ đã đưa tới sự sụp đổ thị trường bất động sản, kéo theo sự lỗ lã của các ngân
hàng, làm cho các ngành nghề khác bị đóng cửa, thợ thuyền thất nghiệp. Tiền đầu
tư, hưu trí của dân chúng bị bốc thành hơi. Đây là giọt nước làm tràn ly, dẫn đến
cuộc khủng hoảng tài chính.
2.1.1.2 Nguyên nhân gián tiếp:
Có thể nói, những yêu cầu của pháp luật về sự minh bạch hóa và năng lực kiểm tra,
giám sát của các cơ quan nhà nước đã không bắt kịp với những biến đổi sâu rộng
của thị trường trong hơn hai mươi năm qua. Thêm vào đó nhiều thao tác này lại
được che đậy qua hoạt động đầu cơ của các quỹ đầu tư, một loại hình quỹ đầu tư
nắm giữ tới gần 3000 tỉ đô la giá trị tài sản nhưng không hề phải cáo bạch tài sản
với công chúng và gần như không chịu sự giám sát của bất kì một cơ quan nhà nước
nào. Ngoài ra, những nới lỏng của pháp luật bắt đầu từ thập niên 1980 đã góp phần
khuyến khích những hoạt động đầu cơ và tạo điều kiện cho xung đột lợi ích phát
triển. Chính môi trường thiếu minh bạch và thiếu giám sát đã thổi bùng lên bong
bóng đầu cơ bất động sản.
Nói rộng ra,thì chính cơ cấu và động lực tăng trưởng bất hợp lý của nước Mỹ trong
thời gian qua cũng góp phần tạo ra cơn khủng hoảng,nhưng nó đã được bỏ qua bởi
các nhà hoạch định chính sách tự mãn và sự lạc quan thái quá của người dân Mỹ.
Nền kinh tế mất cân bằng
Trong khi hầu hết các quốc gia trên thế giới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua
đầu tư và đẩy mạnh xuất khẩu thì nước Mỹ đã chọn cho mình một con đường riêng
để duy trì đà tăng trưởng kinh tế đó là khuyến khích và đẩy mạnh tiêu dùng nội địa.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 11
Chiến lược này trong một thời gian đã tỏ ra rất hiệu quả khi lòng tin của người tiêu
dùng vào triển vọng của nền kinh tế đang ở mức cao nhưng nó đã tạo nên một lỗ
hổng to lớn trong nền kinh tế đó chính là làm cho nền kinh tế trở nên mất cân bằng.
Tiêu dùng của người dân Mỹ đã dần dần trở nên quá mức bởi tư tưởng lạc quan thái
và được khuyến khích bởi sự dễ dãi của các tổ chức tín dụng trong cho vay tiêu
dùng.
Chính điều đó đã tạo khoản thâm hụt thương mại cực lớn và có dấu hiệu ngày càng
tăng, đồng thời hệ thống kinh tế trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết bởi các
mối quan hệ vay nợ dễ dãi và chồng chéo.
Đồng USD mất giá, lòng tin của công chúng vào triển vọng kinh tế xấu đi lập tức sẽ
dẫn tới người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu và nước Mỹ mất đi động lực chính của
mình cho tăng trưởng và chìm vào suy thoái toàn diện. Các tổ chức tín dụng phải
gánh chịu hậu quả đầu tiên bởi các khoản cho vay dễ dãi của họ không có khả năng
thu hồi. Các khoản vay này lại được chứng khoán hóa và bán cho giới đầu tư khiến
cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi giới đầu tư bị thiệt hại nặng nề. Đến lượt
mình giới đầu tư lại bán tháo các khoản đầu tư đang nắm trong tay khiến chúng rớt
giá thảm hại gây thiệt hại nặng cho các ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng đầu tư sụp
đổ khiến các khoản ủy thác đầu tư của công chúng bốc hơi và đẩy hàng trăm ngàn
người vào cảnh khánh kiệt. Bên cạnh đó các tổ chức kinh tế lớn phá sản sẽ khiến
hàng triệu người khác lâm vào cảnh mất việc và đến lượt họ lại cắt giảm chi tiêu tối
đa hoặc không thanh toán được các khoản nợ của mình. Có thể nói nước Mỹ đã rơi
vào một vòng xoáy không có lối thoát do nó tự gây ra cho mình bởi tính tự mãn và
sự kiêu ngạo của các nhà hoạnh định chính sách.
2.1.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng
2.1.2.1 Diễn biến
Tháng 6 /2007: Hai quỹ phòng hộ của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của
Mỹ - quỵ ngã sau khi đánh cược vào các chứng khoán được đảm bảo bằng các
khoản cho vay bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ.
Tháng 8/2007, một số tổ chức tín dụng của Mỹ như New Century Financial
Corporation phải làm thủ tục xin phá sản. Một số khác thì rơi vào tình trạng cổ
phiếu của mình mất giá mạnh như Countrywide Financial Corporation. Nhiều người
gửi tiền ở các tổ chức tín dụng này đã lo sợ và đến rút tiền, gây ra hiện tượng đột
biến rút tiền gửi khiến cho các tổ chức đó càng thêm khó khăn. Nguy cơ khan hiếm
tín dụng hình thành. Cuộc khủng hoảng tài chính thực thụ chính thức nổ ra.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 12
Ngày 15/10/2007: Citigroup - Tập đoàn ngân hàng hàng đầu nước Mỹ - công bố lợi
nhuận Quý 3 bất ngờ giảm 57% do các khoản thua lỗ và trích lập dự phòng lên tới
6,5 tỷ USD. Giám đốc điều hành Citigroup Charles Prince từ chức vào ngày 4/11.
Ngày 11/1/2008: Bank of America - ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về tiền gửi và vốn
hoá thị trường - đã bỏ ra 4 tỉ USD để mua lại Countrywide Financial sau khi ngân
hàng cho vay thế chấp địa ốc này thông báo phá sản do các khoản cho vay khó đòi
quá lớ
Tháng 3 năm 2008, Ngân hàng dự trữ liên bang New York cố cứu Bear Sterns,
nhưng không nổi. Công ty này chấp nhận để JP Morgan Chase mua lại với giá 10
dollar một cổ phiếu, nghĩa là thấp hơn rất nhiều với giá 130,2 dollar một cổ phiếu
lúc đắt giá nhất trước khi khủng hoảng nổ ra. Việc Ngân hàng dự trữ liên bang New
York cứu không nổi Bear Sterns và buộc lòng để công ty này bị bán đi với giá quá
rẻ (2 đô la/cổ phiếu) đã khiến cho sự lo ngại về năng lực can thiệp của chính phủ
cứu viện các tổ chức tài chính gặp khó khăn. Sự sụp đổ của Bear Stern đã đẩy cuộc
khủng hoảng lên nấc thang trầm trọng hơn.
Vào tháng 7, chính phủ Mỹ buộc phải tiếp quản ngân hàng bất động sản IndyMac
sau khi ngân hàng mất khả năng thanh toán tiền gửi do không đòi được các khoản
cho vay nhà đất. Với giá trị tài sản 32 tỷ đô la, IndyMac đánh dấu một sự đổ vỡ
ngân hàng lớn thứ nhì trong lịchsử nước Mỹ.
31/7: Deutsche Bank công bố khoản trích lập dự phòng tiếp theo là 3,6 tỷ USD,
nâng tổng số tiền ngân hàng này mất lên 11 tỷ USD, Deutsche Bank trở thành một
trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
Ngày 7/9, chỉ vài ngày trước khi Lehman Brothers phá sản, chính phủ Mỹ cũng bị
buộc phải tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty sở hữu và bảo lãnh
trên 5000 tỉ đô la bất động sản, tương đương gần 50% giá trị thị trường bất động
sản Mỹ, sau những báo động về tình trạng cạn kiệt vốn của hai công ty này.
Thứ hai ngày 15/9/2008, đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường
này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào ngày 11/9/2001. Sau
khi những nỗ lực huy động vốn bị thất bại do Chính phủ Mỹ từ chối bảo lãnh,
Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư hàng đầu trên thế giới với 158 năm lịch sử và
trên 26000 nhân viên, tuyên bố phá sản. Tổng số tiền nợ của Lehman Brothers lên
tới 768 tỉ đô la (bao gồm 613 tỉ đô la nợ ngân hàng và 155 tỉ đô la nợ trái phiếu).
Giá trị tài sản xác định trên giấy tờ là 639 tỉ đô la, bao gồm nhiều tài sản mà giá trị
thực tế có thể thấp hơn nhiều giá trị sổ sách. Cho đến cuối năm 2007, doanh thu của
công ty còn là 59 tỉ đô la với 4,2 tỉ lãi ròng. Sự phá sản của Lehman Brothers và
những sự kiện diễn ra trước đó đánh dấu sự leo thang của một cuộc khủng hoảng tài
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 13
chính mà theo đánh giá của nhiều chuyên gia là tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy Thoái
kinh tế vào những năm 1930 của thế kỉ trước.
Ngày 16/9/2008, Cục Dữ Trữ Liên Bang và Bộ Ngân Khố Mỹ quyết định đổ 85 tỉ
đô la vào cứu tập đoàn AIG. Quyết định của chính phủ Mỹ không ngoài mục đích
ngăn chặn sự đổ vỡ dây chuyền mà theo nhiều chuyên gia sẽ không thể cứu vãn
được nếu để AIG phá sản.
17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập đoàn
Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế
tình trạng bán khống.
19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế
hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh
sạch hệ thống tài chính.
20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân
hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng
đa năng, đánh dấu sự kết thúc mô hình ngân hàng đầu tư tại Phố Wall.
22/9: Tập đoàn Nomura Holdings của Nhật trả 525 triệu USD để thâu tóm hoạt
động của Lehman tại châu Á. Sau đó, Nomura cũng mua lại Lehman tại châu Âu và
Trung Đông. Misubishi UFJ Financial đồng ý mua 20% cổ phần Morgan Stanley.
23/9/2008: Warren Buffett trả 5 tỷ USD mua 9% cổ phần Goldman Sachs; Cục điều
tra liên bang Mỹ (FBI) điều tra Fannie, Freddie, AIG và Lehman vì nghi ngờ có sự
gian lận trong cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
25/9/2008: Washington Mutual Inc. (WaMu), một trong những ngân hàng lớn nhất
Mỹ đã sụp đổ cũng do đã đánh cược rất lớn vào thị trường cho vay thế chấp. Cơ
quan Bảo hiểm tiền gửi liên bang Mỹ (FDIC) đã đoạt quyền kiểm soát WaMu và
sau đó bán các tài sản của ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹ cho JPMorgan Chase &
Co. với giá 1,9 tỷ USD. Với 307 tỷ USD tổng tài sản, WaMu đã trở thành ngân
hàng bị phá sản lớn nhất trong lịch sử Mỹ.
Trong khi đó tại Washington D.C., các thành viên chủ chốt trong quốc hội đã đồng
ý về những điều khoản chính trong kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 14
29/9: Hạ viện bất ngờ không thông qua kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ.
Phản ứng ngay lập tức với quyết định trên, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt giảm
gần 780 điểm - mức giảm trong một ngày mạnh nhất từ trước tới nay.
1/10: Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD (tỷ lệ 74-25)
với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm thuế thu nhập
cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ USD); tăng hạn
mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ 100.000 USD
lên 250.000 USD…
2.1.2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng
Đối với nước Mỹ :
Cuộc khủng hoảng giai đoạn 2007-2009 này đã làm cho trung bình từ tháng 1 tới
tháng 9 năm 2008 có 84 nghìn lượt người mất việc làm. Hàng lọat các tổ chức tài
chính bị phá sản, làm Mỹ rơi vào tình trạng đói tín dụng, dẫn đến việc doanh nghiệp
thu hẹp sản xuất, cắt giảm lao động. Thất nghiệp tăng, kéo theo việc khó trả nợ
ngân hàng, làm ngân hàng bị thâm hụt ngân sách. Thu nhập và tiêu dùng của hộ gia
đình bị ảnh hưởng, khiến cho doanh nghiệp càng khó bán hàng hòa. Nhiều doanh
nghiệp bị phá sản hay có nguy cơ phá sản, tiêu biểu là GM, Ford Motor và Chrysley
LLC. Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa, đẩy mức giá chung của Mỹ giảm thê thảm.
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá. Do dollar Mỹ là phương tiện
thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua
dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá. Điều này
làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại.
Đối với thế giới :
Mỹ được mệnh danh là đầu tàu kinh tế,nên dễ hiểu tại sao khủng hoảng kinh tế Mỹ
lại kéo theo khủng hoảng ở nhiều nước khác.
Vì Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của các nước, do đó khi kinh tế Mỹ suy
thoái, xuất khẩu nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước chú trọng xuất khẩu ở
Đông Á như Nhật Bản, Hong Kong, v..v…
Châu Âu giao thương mật thiết với Mỹ nên bị ảnh hưởng cả tài chính và kinh tế. Ở
Iceland, Nga, nhiều tổ chức tài chính lớn bị phá sản; Đức, Ý thì suy thoái; Anh,
Pháp giảm tăng trưởng.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 15
Các nước Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng khi giá dầu giảm mạnh và dòng vốn ngắn
hạn rút khỏi khu vực.
Các nước xuất khẩu dầu khác cũng bị ảnh hưởng.
Do lo ngại về bất ổn định trên thế giới, hiện tượng đầu cơ lương thực diễn ra, gây
nên “khủng hoảng giá lương thực toàn cầu”.
Chứng khoán mất giá. Các nhà đầu tư chuyển sang xài những đồng tiền có giá trị
cao như dollar Mỹ, vô tình làm các loại tiền này lên giá, gây khó khăn cho xuất
khẩu của các nước. Vòng luẩn quẩn lại bắt đầu.
2.1.3 Giải pháp của chính phủ Mỹ
2.1.3.1 Cục dự trữ liên bang Mỹ ( FED):
Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, FED bắt đầu can thiệp bằng
cách hạ lãi suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng
tài chính từ tháng 8 năm 2007, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) đã tiếp tục tiến
hành các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thanh khoản cho các tổ chức tài chính.
Cụ thể là lãi suất cho vay qua đêm liên ngân hàng đã được giảm từ 5,25% qua 6 đợt
xuống còn 2% chỉ trong vòng chưa đầy 8 tháng (18/9/2007-30/4/2008). Lãi suất này
sau đó còn tiếp tục giảm và đến ngày 16/12/2008 chỉ còn 0,25%, mức lãi suất gần 0
hiếm thấy.
FED còn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở (mua lại các trái phiếu chính phủ Hoa
Kỳ mà các tổ chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết khấu. Giữa tháng
12 năm 2008, Fed tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt
lượng.
Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho FED chủ trì chương
trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84
ngày theo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá. Tính đến tháng
11 năm 2008, đã có 300 tỷ dollar được FED đem cho vay theo chương trình này.
FED còn tiến hành cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng
cộng tới 1,6 nghìn tỷ tính đến tháng 11 năm 2008.
2.1.3.2 Chính phủ Hoa Kỳ:
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 16
Ngày 13/2/2008, Tổng thống George W. Bush đã ký Economic Stimulus Act of
2008 theo đó chính phủ sẽ áp dụng một chương trình kích cầu tổng hợp trị giá 168
tỷ USD chủ yếu dưới hình thức hoàn thuế thu nhập cá nhân.
Ngày 16/9/2008, trong một động thái trái ngược với quyết định từ chối bảo lãnh
Lehman Brothers chỉ hai ngày trước đó, Cục Dữ Trữ Liên Bang và Bộ Ngân Khố
Mỹ quyết định đổ 85 tỉ đô la vào cứu tập đoàn AIG. Tại sao lại không cứu Lehman
Brothers và các ngân hàng khác, thêm vào đó nếu tất cả các ngân hàng đều công
khai phái sản vì chính phủ giúp không đồng đều, khi đó chính phủ Hoa Kỳ phải làm
sao. Liệu Henry Paulson, bộ trưởng tài chính Mỹ lúc đó, cùng với Ben Bernanke có
đúng khi hy sinh Lehman Brothers
Ngày 29/9/2008, Quốc hội Mỹ bác kế hoạch 700 tỷ USD, khiến Dow Jones có mức
sụt giảm lớn nhất lịch sử, gần 778 điểm, và phố Wall mất 1.200 tỷ USD. Điều này
khiến cho vào 1/10 Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
(tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm
thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ
USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ
100.000 USD lên 250.000 USD và vào ngày 3/10, Hạ viện Mỹ cũng thông qua gói
cứu trợ 700 tỷ này.
2.1.3.3 Kế hoạch của Barack Obama
Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, sau khi trúng cử đã nêu ra một
chương trình kích thích kinh tế trong đó Hoa Kỳ sẽ tiến hành kích cầu bằng:
- Những dự án phát triển cơ sở hạ tầng chưa từng có kể từ thập niên 1950 :
Nhằm mục đích tăng mức cầu, chính phủ có thể giảm lãi suất, giảm thuế, xây cất
các công tác hạ tầng cơ sở để tạo công ăn việc làm và kích thích thị trường tiêu thụ.
Kết quả không biết sẽ như thế nào vì mô hình kinh tế không giống như trường hợp
của các nhà khoa học. Kinh tế gia không thể thí nghiệm chính xác các hiện tượng
kinh tế trước khi đem áp dụng vào trong đời sống thực tế.
- Nâng cấp hệ thống sử dụng năng lượng của các văn phòng cơ quan chính phủ
Hoa Kỳ theo hướng tiết kiệm năng lượng; Đầu tư lớn cho phát triển công nghệ nhất
là thông tin y tế điện tử, hệ thống máy tính cho các trường phổ thông và phát triển
mạng Internet băng thông rộng
- Ngoài ra, chính phủ Obama còn phải lo đối phó các vấn đề y tế, an sinh xã
hội do thất nghiệp gây ra. Khi bệnh hoạn, người dân Hoa Kỳ phải đi gặp bác sĩ hay
vào nhà thương thì ai sẽ trả tiền trị bệnh hay thuốc men cho họ? Tưởng cần nhắc lại,
Hoa Kỳ không có chương trình bảo hiểm y tế công như trường hợp Canada nên một
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 17
trong những điều cần làm nữa là cấp thêm ngân sách cho Chương trình bảo hiểm y
tế.
- Cấp thêm 50 tỷ dollar ngoài khoản 20 tỷ dollar đã được đồng ý cho ngành
công nghiệp ô tô với điều kiện là ngành này phải cải tổ đáng kể, nhằm mục đích
chận đứng nạn thất nghiệp. Chính phủ phải giúp các đại công ty; thí dụ ba hãng xe
hơi GM, Chrysler và Ford. Thực tế, sự cứu nguy này có ích lợi hay không khi xe
hơi Mỹ sản xuất không đáp ứng nhu cầu của người mua xẹ Đó là chưa kể sự giúp
đở của chính phủ sẽ đưa tới tinh thần ỷ lại và làm giảm sáng kiến của tư nhân.
2.1.3.4 Kế hoạch Obama – Biden:
Chương trình nghị sự phục hồi kinh tế của Tổng thống và Phó Tổng thống mới có
nội dung:
• Hành động khẩn cấp để tạo việc làm cho người Mỹ;
• Trợ giúp khẩn cấp cho các hộ gia đình gặp khó khăn;
• Trợ giúp trực tiếp và khẩn cấp cho người sở hữu nhà, thay vì cứu trợ các tổ
chức tài chính cho vay nhà ở thế chấp vô trách nhiệm;
• Phản ứng nhanh, mạnh với khủng hoảng tài chính bằng tất cả các công cụ mà
nước Mỹ có.
Ngày 17 tháng 2 năm 2009, Barack Obama đã ký American Recovery and
Reinvestment Act. Đạo luật này cho phép Chính phủ thực hiện gói kích thích thứ
hai kể từ khi khủng hoảng nổ ra. Gói kích thích này trị giá 787 tỷ USD.
Với hàng loạt biện pháp, chính sách nhầm giải quyết khủng hoảng, ngày 20-9 , Văn
phòng Nghiên cứu kinh tế quốc gia Mỹ (tổ chức nghiên cứu kinh tế phi lợi nhuận)
đã chính thức công bố: Kinh tế Mỹ đã thoát khỏi khủng hoảng từ tháng 6-2009.
Theo đó, đây là cuộc khủng hoảng kéo dài nhất ( 18 tháng) từ sau cuộc đại khủng
hoảng 1930. Dù công bố là vậy, nhưng chính tổng thống Obama cũng phải thừa
nhận rằng thực tế hàng triệu người Mỹ vẫn thất nghiệp, nhà cửa vẫn mất giá, rất
nhiều người vẫn phải gồng mình chi trả các hóa đơn.
2.2 Liên minh châu Âu – EU
2.2.1 Nguyên nhân
Nền kinh tế toàn cầu không thể thoát khỏi quy luật tăng trưởng rồi suy tàn. Khi
khủng hoảng xảy ra, người ta coi đó như hậu quả tất yếu sau một kỳ tăng trưởng
nóng và là dấu hiệu tốt cho thấy một sức sống mới sắp bắt đầu.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 18
Từ đó, khủng hoảng được coi là biện pháp đào thải hiệu quả để loại bỏ một số phần
tử yếu kém, lạc hậu và chỉ có những gì thực sự khỏe mạnh mới có thể tồn tại.
Có người cho rằng nguyên nhân khủng hoảng là do cách điều hành nền kinh tế thiếu
hợp lý sau một thời gian phát triển quá nóng. Có người lại nói khủng hoảng là kết
quả của những mưu đồ chính trị hoặc trục lợi của một số tổ chức, cá nhân có tầm
ảnh hưởng tài chính rộng lớn. Keynes - nhà quý tộc đại diện cho bộ tài chính nước
Anh, đồng tác giả cùng với các ngân hàng tư bản tạo ra cuộc Đại Suy thoái năm
1929, đã lập luận rằng: “Làm đồng tiền giảm giá, tạo ra lạm phát liên tục là có thể
kín đáo tước đoạt một phần tài sản của công dân. Trong quá trình bần cùng hóa
nhân dân, một số ít người sẽ giàu to. Không có thủ đoạn nào lại có thể lật đổ chính
quyền một cách kín đáo, chắc chắn và thành công bằng lạm phát. Quá trình này tích
lũy các nhân tố phá hoại theo quy luật kinh tế. Hàng triệu người chưa chắc đã có
một người nhận ra nguồn gốc của vấn đề”.
Trong con người luôn tồn tại cái thiện và cái ác, lòng tham và lòng nhân từ. Chu kỳ
tăng trưởng và suy thoái kinh tế chính là kết quả đấu tranh bên trong bản chất của
con người. Cho dù nguyên nhân có là do chính sách sai lầm vô tình hay cố ý thì việc
xác định bản chất của khủng hoảng và tăng trưởng sẽ giúp ta phòng tránh trước
những hậu quả suy thoái kinh tế nặng nề.
Có nhiều dấu hiệu tăng trưởng và biện pháp điều tiết của các nhà hoạch định chính
sách sớm bộc lộ một chu kỳ khủng hoảng sắp bắt đầu: Tiền được phát minh để phục
vụ cho nhu cầu cần thiết của việc trao đổi hàng hóa. Lịch sử đồng tiền đã trải qua
hàng nghìn năm phát triển với những quy định trong một trò chơi mà người ta
thường gọi là chính sách tiền tệ. Ai nắm quyền kiểm soát đồng tiền sẽ nắm quyền
kiểm soát vận mệnh quốc gia. Điều tiết tiền tệ là công cụ mang lại nhiều lợi ích to
lớn cũng như hậu quả khó lường đòi hỏi nhà hoạch định chính sách phải biết sử
dụng thành thạo và tùy biến trong từng trường hợp.
Một chế độ tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài với những chính sách bơm tiền ra
ngoài xã hội, duy trì vay nợ với lãi suất thấp... sẽ tạo ra một lượng tiền ảo lớn vượt
quá thực tế giá trị của cải xã hội, dẫn đến hậu quả tất yếu là lạm phát. Khối lượng
hàng hóa do xã hội sản xuất là có hạn, do bị đầu cơ và sử dụng vô tội vạ đã dẫn đến
khan hiếm và đẩy giá thành tăng vọt. Giá trị đồng tiền bị giảm sút nghiêm trọng.
Khi đó luồng tiền tất nhiên sẽ chảy vào những nơi lưu giữ mà giá trị của nó ít bị ảnh
hưởng như vàng, trái phiếu chính phủ...
Tính mất cân đối trên toàn cầu giữa các nước giàu thực sự do của cải vật chất và các
nước giàu do tiêu dùng giá trị ảo của đồng tiền. Nói cách khác, trung tâm của khủng
hoảng sẽ xảy ra ở những nơi mà nền kinh tế phát triển dựa trên đầu cơ dàn trải,
luồng vốn chảy vào ồ ạt, các chế độ kiểm soát tiền tệ nới lỏng nhằm phát triển kinh
tế với giá trị ảo. Trên thương trường, đồng tiền luôn sinh lời, chính vì vậy khi một
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 19
luồng vốn lớn tích tụ tại một nơi sẽ dẫn đến việc phải xoay xở để tìm phương cách
đầu tư. Lòng tham của con người chạy theo lợi nhuận ảo sẽ dẫn đến khủng hoảng
bong bóng.
Chính sách hoạch định phát triển kinh tế luôn quyết định chu kỳ của khủng hoảng.
Việc vay mượn luồng vốn từ nước ngoài hoặc từ các tổ chức để phát triển kinh tế
thiếu kiểm soát sẽ dẫn đến bùng nổ kinh tế ảo và xảy ra khủng hoảng. Thay vì dùng
tiền vay mượn để đầu tư vào việc nâng cao giá trị sản xuất, hoặc chất xám của con
người nhằm tăng khả năng cạnh tranh và sáng tạo, làm ra của cải vật chất đích thực
cho xã hội sau khi đã trả gốc và nợ vay, thì một số nước lại dùng tiền vay mượn để
đầu cơ vào những giá trị ảo như bất động sản, vẽ ra các dự án để đầu tư và bán lại
kiếm lời, cho vay lãi, đầu tư vào chứng khoán... dẫn đến khủng hoảng là tất yếu.
Nhiều người cho rằng phương cách mà Mỹ đang làm là bơm tiềm ra để đối phó với
khủng hoảng hiện nay nhằm kích thích lại tiêu dùng, nâng cao sản xuất... đẩy nền
kinh tế đi lên sẽ là nguyên nhân cho các cuộc khủng hoảng kế tiếp. Xét về ngắn hạn
thì dân Mỹ hiện nay thấy cuộc sống được cải thiện rõ nhưng về tương lai dài hạn thì
việc vay mượn từ phát hành trái phiếu, in tiền, kêu gọi đầu tư,... sẽ là gánh nặng trả
nợ cho thế hệ trẻ của Mỹ sau này. Thói quen tiêu dùng sẽ ăn sâu vào phong cách
sống với những giá trị ảo của người dân dẫn đến một vòng luẩn quẩn “Phát triển -
nóng - lạm phát - trì trệ - khủng hoảng - phát triển trở lại”.
Chính trị và kinh tế luôn ảnh hưởng qua lại với nhau. Kết quả tăng trưởng ấn tượng
hay suy thoái của nền kinh tế là bệ phóng tốt cho sự công kích của các đảng phái
tranh giành quyền lực ở mọi nước tư bản. Lợi dụng tình hình kinh tế để đưa ra
những chính sách đánh vào tâm lý mong đợi của dân chúng là cách tốt nhất để giành
phiếu bầu. Có thể mỗi đảng đều có lý lẽ riêng nhưng nếu họ vẫn đi theo đường lối
chung là phát triển kinh tế dựa vào đầu tư giá trị ảo thay vì kích thích sản xuất của
cải vật chất thực sự cho xã hội thì kết quả vẫn sẽ giống nhau.
Các sự kiện lớn là cơ hội phát triển kinh tế nhưng đôi khi lại là hậu họa nếu không
biết tận dụng đúng cách. Olympic là một cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế của
bất cứ quốc gia chủ nhà nào nắm quyền đăng cai. Trung Quốc là một trong những
nước tận dụng cơ hội vàng thành công trong năm 2008 vừa qua. Bốn năm chuẩn bị
là bốn năm để nước đăng cai nâng cao môi trường sống, văn hóa, trang thiết bị vật
chất, công nghệ, khả năng tài chính kinh tế. Đó là cơ hội vàng để kêu gọi đầu tư về
tiền bạc, công nghệ, quảng bá hình ảnh của đất nước, phát triển du lịch, tạo công ăn
việc làm và xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nâng cao đời sống dân sinh. Trung
Quốc đã có một bước phát triển thần kỳ trong bốn năm với tốc độ phát triển hai con
số thật ấn tượng. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế lại cho rằng, đằng sau sự phát
triển thần kỳ đó, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với tình hình nền kinh tế phát triển
chậm lại giống như những nước từng là chủ nhà của Olympic trước đây nếu không
có chính sách phát triển đúng đắn.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 20
Việc đẩy mạnh đầu tư trước Olympic cùng với sự gia tăng về doanh số, doanh thu,
hoạt động đầu tư và tiêu dùng sẽ có xu hướng chững lại sau kỳ Olympic. Sử dụng
chi phí bảo trì của các dự án khổng lồ chỉ phục vụ cho kỳ Olympic sẽ là một gánh
nặng gây ra nhiều lãng phí to lớn và lâu dài. Riêng ngành kinh doanh khách sạn sẽ
bị sụt giảm nghiêm trọng do lượng đầu tư vào dịch vụ du lịch nở rộ chỉ phục vụ cho
một lượng khách đột biến trong kỳ Olympic.
Những chất xúc tác khó kiểm soát như thiên tai, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên cũng góp phần làm thổi bùng ngọn lửa khủng hoảng. Sau một thời gian dài
phát triển kinh tế nóng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội tăng cao sẽ khiến cho nhu cầu
về sử dụng tài nguyên như dầu lửa, đồ ăn thức uống ngày một lớn. Tuy nhiên vì
mức sản xuất của xã hội và tài nguyên có hạn do con người chú trọng đầu cơ vào
những giá trị ảo như bất động sản, chứng khoán nên giá cả các mặt hàng thiết yếu
ngày một tăng. Giá trị đồng tiền vì thế mà ngày càng sụt giảm do đã vượt quá giá trị
thực. Thiên tai và dịch bệnh ập đến cộng với giá cả các mặt hàng lương thực, dầu
lửa, v.v… tăng cao khiến cho cuộc sống khó khăn, sức lao động giảm sút, sức khỏe
của nền kinh tế bị ảnh hưởng. Vì nội tại của nền kinh tế đã phát triển quá nóng nên
khi bị những yếu tố ngoại cảnh tác động sẽ bộc lộ bản chất yếu kém.
2.2.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng
Thế giới bắt đầu run sợ với khủng hoảng nợ châu Âu khi chính phủ mới của Hy Lạp
vào ngày 05/11/2009 công bố mức thâm hụt ngân sách 12,7% GDP, gấp 4 lần mức
cho phép của eurozone.
Dưới đây là những mốc quan trọng trong khủng hoảng nợ châu Âu tính từ tháng
11/2009 khi chính phủ mới của Hy Lạp khiến thế giới chấn động với việc tuyên bố
nâng gấp đôi ước tính về thâm hụt ngân sách năm 2009.
10/06/2010 Thỏa thuận để cải tổ thị trường lao động Tây Ban Nha sụp đổ. Chính
phủ buộc phải áp dụng quy định tuyển dụng và sa thải lỏng lẻo hơn dù không có sự
hỗ trợ của nghiệp đoàn lao động.
09/06/2010 Kế hoạch thắt chặt ngân sách được bàn đến trong các cuộc bầu cử và
Đảng có chủ trương này đã chiến thắng. Tuy nhiên cuối cùng, thật khó để các nhà
hoạch định chính sách thống nhất với nhau. Thâm hụt ngân sách của Hà Lan năm
2010 có thể đạt 6,6% GDP.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 21
Quốc hội Bồ Đào Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách của chính phủ. Bộ
trưởng Bộ Tài chính Bồ Đào Nha loại bỏ khả năng tìm đến gói giải cứu của của khu
vực đồng tiền chung châu Âu bởi nước này đã phát hành thành công trái phiếu và
tăng trưởng kinh tế quý 1/2010 hết sức ấn tượng.
08/06/2010 Công đoàn Tây Ban Nha công bố 75% người lao động trong lĩnh vực
công không đi làm để thể hiện sự phản đối kế hoạch thắt chặt chi tiêu của chính
phủ.
Tỷ lệ lạm phát của Hy Lạp tháng 5/2010 tăng 5,4%, vượt mọi kỳ vọng của các
chuyên gia và lên mức cao nhất từ tháng 8/1997.
07/06/2010 Đảng của Thủ tướng Đức chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách và
thuế để hoàn thành mục tiêu đưa thâm hụt ngân sách của Đức về mức quy định của
Liên minh châu Âu trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2013.
Chương trình thắt chặt ngân sách đặt mục tiêu tiết kiệm 11,2 tỷ euro trong năm
2011 và giảm thâm hụt ngân sách (năm 2010 dự kiến vượt 5%).
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 22
29/05/2010 Hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon – Bồ Đào Nha để phản đối kế
hoạch thắt chặt ngân sách của chính phủ.
28/05/2010 Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi
nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến
nợ công đang ở mức đáng báo động.
27/05/2010 Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm
tiết kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD
25/05/2010 Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết
kiệm 24 tỷ euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách về mức 2,7%
GDP từ mức 5,3% của năm 2009.
18/05/2010 Chính phủ Đức, trong nỗ lực ngăn hoạt động đầu cơ tài chính được coi
như nguyên nhân dẫn dến khủng hoảng nợ, công bố cấm bán khống vô căn cứ cổ
phiếu của 10 tổ chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ đồng euro và
hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS).
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 23
13/05/2010 Chính phủ Bồ Đào Nha phác thảo kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách,
trong đó có bao gồm giảm lương trong lĩnh vực công. Thâm hụt ngân sách Bồ Đào
Nha năm 2009 là 9,5%, chính phủ Bồ Đào Nha muốn đưa con số này về mức 7,3%
trong năm 2010 và 4,6% trong năm 2011.
11/05/2010 Chính phủ Đức chấp thuận cho kế hoạch đóng góp 123 tỷ euro vào quỹ
giải cứu của khu vực đồng tiền chung châu Âu.
10/05/2010 Các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn
cấp trị giá 750 tỷ euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng euro, ngăn
đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp.
Gói giải cứu bao gồm 440 tỷ euro từ các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu
Âu, 60 tỷ euro từ công cụ nợ của châu Âu. IMF đóng góp 250 tỷ euro, tổng số tiền
lên tới 750 tỷ euro tương đương khoảng gần 1 nghìn tỷ USD tính theo tỷ giá ở thời
điểm đó.
09/05/2010 IMF đơn phương chấp thuận trước một phần kế hoạch giải cứu, cung
cấp lập tức 5,5 tỷ euro.
06/05/2010 Quốc hội Hy Lạp chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách.
04/05/2010 Người lao động trong lĩnh vực công tại Hy Lạp bắt đầu biểu tình chống
chính phủ. Khoảng 50 nghìn người đã tham gia biểu tình tại thủ đô Athens – Hy
Lạp. 3 người đã chết trong vụ hỏa hoạn tại một ngân hàng.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 24
02/05/2010 Thủ tướng Hy Lạp cho biết chính phủ nước này đã đạt được thỏa thuận
với EU và IMF để nhận được gói giải cứu, đổi lại nước này phải giảm chi tiêu 30 tỷ
euro trong 3 năm tới.
Gói giải cứu Hy Lạp nhận được bao gồm 110 tỷ euro trong 3 năm. Đây là nước đầu
tiên tại khu vực đồng tiền chung châu Âu được hỗ trợ.
Chính phủ Đức đồng ý góp 22,4 tỷ euro tương đương 30 tỷ USD cho kế hoạch cứu
Hy Lạp.
27/04/2010 Standard & Poor's hạ xếp hạng tín dụng của Hy Lạp. Ngày sau đó,
Standard & Poor's hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha bởi xét đến triển vọng
tăng trưởng kinh tế kém tại nước này.
23/04/2010 Hy Lạp cầu cứu EU và IMF.
22/04/2010 Cơ quan thống kê châu Âu cho biết thâm hụt ngân sách năm 2009 của
Hy Lạp là 13,6% GDP chứ không phải 12,7% GDP theo công bố của chính phủ
nước này.
11/04/2010 Bộ trưởng Tài chính các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu
chấp thuận kế hoạch 30 tỷ euro dành cho Hy Lạp, tuy nhiên Hy Lạp tuyên bố không
cần.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×