Tải bản đầy đủ

Luận văn tốt nghiệp “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Bảo Yên”







LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố
định tại Công ty TNHH Thương mại
tổng hợp Bảo Yên










Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
1
LỜI NÓI ĐẦU

Vốn là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự hình thành tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư ban đầu và trong quá trình kinh
doanh, các doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục bỏ thêm vốn để mở rộng sản xuất
kinh doanh nhằm mục đích sinh lờ
i, tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là phải sử
dụng vốn đã bỏ ra sao cho có hiệu quả nhất.
Xuất phát từ ý nghĩa trên, qua thời gian thực tập tìm hiểu tình hình thực tế
tại Công ty TNHH Thương mại tổng hợp huyện Bảo Yên trên cơ sở những kiến
thức đã tích luỹ được ở trường cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô, các chú
phòng tài chính – kế toán, em đã chọn đề
tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
cố định tại Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Bảo Yên”
Luận văn của em gồm 3 chương:
Chương I : Một số vấn đề cơ bản về vốn cố định trong doanh nghiệp.
Chương II : Thực trạng hoạt động quản lý và sử dụng vốn cố định tại
Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Bảo Yên.
Ch
ương III : Một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
của Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Bảo Yên.

Em xin chân thành cảm ơn!






Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
2
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN CỐ ĐỊNH
TRONG DOANH NGHIỆP


I/ VỐN CỐ ĐỊNH (VCĐ)VÀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH (TSCĐ) CỦA DOANH NGHIỆP.
1- Khái niệm.
1.1- Khái niệm tài sản cố định:
Để tiến hành sản xuất kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có tư liệu lao
động (TLLĐ), trong một doanh nghiệp thường có nhiều loại TLLĐ khác nhau,
một TLLĐ được coi là một TSCĐ phải đồng thời thảo mãn cả 4 tiêu chuẩn sau
(theo quyết định số: 206/ 2003/QQD – BTC ban hành ngày 12/12/2003 của Bộ
trưởng Bộ tài chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2004).
- Chắc chắn thu đượ
c lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó.
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy .
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên .
- Có giá trị từ 10.000.000đ (mười triệu đồng) trở lên .
Những TLLĐ không đủ các tiêu chuẩn quy định nói trên được coi là những công
cụ lao động nhỏ, được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động.
Như vậ
y tài sản cố định của doanh nghiệp là những TLLĐ không chỉ có giá trị
mà còn có giá trị sử dụng và đồng thời tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.2- Vốn cố định của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường để hình thành TSCĐ đòi hỏi doanh nghiệp
phải ứng ra một lượng vốn nhất định. Số vốn ứng ra để hình thành nên TSCĐ
được gọi là vốn cố
định của doanh nghiệp.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định thực
hiện chủ chuyển giá trị của nó. Sự chu chuyển này của vốn chịu sự chi phối rất
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
3
lớn bởi đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của TSCĐ. Những đặc điểm chủ yếu về mặt
chu chuyển của VCĐ thể hiện ở những điểm sau:
- Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, giá trị của chúng
chuyển dần từng phần vào giá trị thành phẩm, do đó vốn cố định được thu hồi
dần từng phần dưới hình thứ
c khấu hao. Vì vậy khấu hao là phương thức quản lý
đặc trưng đối với TSCĐ.
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và chỉ hoàn thành
một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị.
Từ những đặc điểm trên có thể rút ra khái niệm về VCĐ như sau:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư
ứng trước
về TSCĐ, đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều
chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được
TSCĐ về mặt giá trị.
1.3- Nguồn hình thành VCĐ:
- Đầu tư vào TSCĐ là một sự bổ sung vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ
sung những TSCĐ cần thiết đề thực hiện mục tiêu kinh doanh lâu dài của doanh
nghiệ
p. Do đó việc xác định nguồn tài trợ cho những cho những khoản mục đầu
tư là rất quan trọng bởi nó có yếu tố quyết định cho việc quản lý và sử dụng vốn
cố định sau này. Xét một cách tổng thể thì người ta có thể chia làm hai loại
nguồn tài trợ chính.
- Nguồn tài trợ bên trong: Là những nguồn xuất phát từ bản thân doanh
nghiệp như vốn chủ sở hữu bỏ ra ban đầ
u, vốn khấu hao, lợi nhuận sau thuế để
lại ... Hay nói khác đi là những nguồn vốn thuộc quyền sử hữu của doanh
nghiệp.
- Nguồn tài trợ bên ngoài: Là những nguồn của doanh nghiệp huy động từ
bên ngoài để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình như vốn vay, phát hành
trái phiếu, cổ phiếu, thuê mua, thuê hoạt động ...
2- Phân loại TSCĐ.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
4
Doanh nghiệp có nhiều loại TSCĐ khác nhau, để nâng cao hiệu quả sử
dụng TSCĐ người ta phân loại theo một số tiêu thức sau:
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
5
2.1- Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Theo tiêu thức này toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp được chia làm ba
loại: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính.
2.1.1- TSCĐ hữu hình:
Theo quyết định số: 206/ 2003/ QĐ - BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài
chính thì TSCĐ hữu hình là những TLLĐ chủ yếu được biểu hiện bằng các hình
thái vật chất cụ thể bao gồm:
- Nhà cửa, vật kiến trúc: Là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau
quá trình thi công xây dự
ng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào ....
- Máy móc, thiết bị: Là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác.
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải
gồm những phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ ...
- Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, d
ụng cụ dùng trong công tác
quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính, phục vụ quản
lý thiết bị điện tử…
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm là các loại cây
như: cà phê, vườn chè, vườn cao su ...
- Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các TSCĐ khác chưa liệt kê vào năm
loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật ...
2.1.2- TSCĐ vô hình:
Cũng theo quyết định trên TSCĐ vô hình là những tài sả
n không có hình
thái vật chất cụ thể. Nhưng thể hiện một lượng giá trị lớn đã được đầu tư có liên
quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ, kinh doanh của doanh nghiệp như :
- Quyền sử dụng đất.
- Chi phí thành lập doanh nghiệp
- Chi phí về những phát minh, sáng chế
- Chi phí nghiên cứu, phát triển
- Chi phí về lợi thế kinh doanh
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
6
Ngoài ra còn có các tài sản vô hình khác như: Quyền đặc nhượng, nhãn
hiệu thương mại ...
2.1.3- TSCĐ thuê tài chính:
Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của Công ty cho thuê tài chính,
khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê
hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê tài
chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính, ít
nhất phải tương
đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm kỳ hợp đồng.
Mọi hoạt động thuê TSCĐ nếu không thoả mãn các quy định trên được
coi là TSCĐ thuê hoạt động.
2.2- Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ có thể chia toàn bộ TSCĐ của doanh
nghiệp thành các loại sau:
- TSCĐ đang sử dụng: là những TSCĐ đang trự
c tiếp hoặc gián tiếp tham
gia vào qúa trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm. Trong doanh nghiệp tỷ
trọng tài sản đã đưa vào sử dụng so với toàn bộ TSCĐ hiện có càng lớn thì hiệu
quả sử dụng TSCĐ càng cao.
- TSCĐ chưa sử dụng: là những tài sản do những nguyên nhân chủ quan,
khách quan chưa thể đưa vào sử dụng như: tài sản dự trữ, tài sản mua sắm, xây
dựng thi
ết kế chưa đồng bộ.
- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý: là những tài sản đã hư hỏng
không sử dụng được hoặc còn sử dụng được nhưng lạc hậu về mặt kỹ thuật,
đang chờ để giải quyết. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được
mức độ sử dụng có hiệu quả của TSCĐ.
2.3- Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế
:
- TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh.
- TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp an ninh quốc phòng.
- TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
7
Nói chung tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp, doanh nghiệp
tự phân loại chi tiết hơn các TSCĐ của doanh nghiệp theo từng nhóm cho phù
hợp.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
8
2.4- Phân loại TSCĐ theo quyền sử hữu:
Theo cách phân loại này TSCĐ được chia ra:
- TSCĐ tự có: là những TSCĐ do doanh nghiệp xây dựng, mua sắm bằng
nguồn vốn tự có, vốn tự bổ sung, vốn Nhà nước, vốn này hoặc do liên doanh
liên kết.
- TSCĐ đi thuê: trong loại này bao gồm 2 loại :
+ TSCĐ thuê tài chính
: Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê dài hạn
trong thời gian dài theo hợp đồng thuê. Đối với những TSCĐ này doanh nghiệp
có quyền quản lý và sử dụng, còn quyền sử hữu thuộc về doanh nghiệp cho thuê.
+ TSCĐ thuê hoạt động
: là loại TSCĐ được thuê tính theo thời gian sử
dụng hoặc khối lượng công việc không đủ điểu kiện và không mang tính chất
thuê vốn. Đối với những TSCĐ này doanh nghiệp không có quyền định đoạt chỉ
có quyền sử dụng, giá trị của các TSCĐ này không được tính vào giá trị tài sản
doanh nghiệp.
2.5- Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:
- TSCĐ nhà nước cấp
- TSCĐ mua sắm, xây dựng bằng nguồ
n vốn vay
- TSCĐ mua sắm xây dựng bằng nguồn vốn tự bổ sung từ các quỹ.
- TSCĐ nhận vốn góp liên doanh, liên kết.
Cách này giúp doanh nghiệp điều chỉnh các nguồn vốn sao cho tối ưu
nhất.
3- Khấu hao TSCĐ.
3.1- Hao mòn và khấu hao TSCĐ:
Trong qúa trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, do chịu tác động bởi
nhiều nguyên nhân khác nhau nên TSCĐ bị hao mòn dần. Sự hao mòn TSCĐ
được chia thành.
- Hao mòn hữu hình: là hao mòn do doanh nghiệp sử dụng và do môi
tr
ường tỷ lệ thuận với thời gian sử dụng và cường độ sử dụng.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
9
- Hao mòn vô hình: là loại hao mòn xảy ra do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật
làm cho TSCĐ bị giảm và lỗi thời. Do bị hao mòn nên trong mỗi chu kỳ SXKD
người ta tính chuyển một phần hao mòn vào giá thành quỹ để tái sản xuất
TSCĐ, công việc đó gọi là khấu hao TSCĐ. Như vậy, đối với nhà quản trị tài
chính cần phải xem xét, tính toán mức khấu hao sao cho phù hợp với thực trạng
kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2- Các phương pháp khấu hao (KH) :
3.2.1- Phương pháp khấu hao tuyến tính và tỷ lệ khấu hao TSCĐ (phương
pháp khấu hao theo đường thẳng).
Đây là phương pháp khấu hao bình quân theo thời gian sử dụng.Theo
phương pháp này, mức khấu hao cơ bản và tỷ lệ khấu hao bình quân hàng năm
của TSCĐ không đổi và được xác định theo công thức sau:

NG
M
K
=
T
Trong đó: M
K
: mức KH cơ bản bình quân hàng năm của TSCĐ.
NG: nguyên giá của TSCĐ
T: thời gian sử dụng

Mức trích KH trung bình hàng tháng bằng số KH phải trích cả năm chia
cho 12 tháng.
- Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi,
doanh nghiệp phải xác định lại mức trích KH trung bình của TSCĐ bằng cách
lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng được xác định lại
hoặc thờ
i gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử
dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của TSCĐ.
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
10
- Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ
được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực
hiện đến năm trước năm cuối cùng của TSCĐ đó.
Trong phương pháp này thì số khấu hao hàng năm còn được tính bằng số
tương đối là tỷ lệ khấu hao, tỷ lệ khấu hao hàng năm được tính bằng công th
ức:


M
K

T
K
=
NG

Trong đó: T
K
: tỷ lệ khấu hao năm của TSCĐ
M
K
: mức khấu hao năm của TSCĐ
NG: nguyên giá của TSCĐ

T
K

Tỷ lệ KH tháng của TSCĐ: T
h
=
12
Ưu điểm của phương pháp này là việc tính toán đơn giản, tổng khấu hao
của TSCĐ được phân bổ vào giá thành một cách đều đặn làm cho giá thành ổn
định.
Nhược điểm: Do mức khấu hao, tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác định ở
mức ổn định nên khả năng thu hồi vốn chậm, khó tránh khỏi bị hao mòn vô
hình.
Xác định mức trích khấu hao đối với nhữ
ng TSCĐ đưa vào sử dụng trước
ngày 01/01/2004.
Căn cứ các số liệu trên sổ kế toán, hồ sơ của TSCĐ để xác định giá trị còn
lại trên sổ kế toán của TSCĐ.
Xác định thời gian sử dụng còn lại của TSCĐ theo công thức sau:
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
11

t
1
T = T
2
( 1 - )
T
1

Trong đó: T : thời gian sử dụng còn lại của TSCĐ.
T
1
, T
2
: thời gian sử dụng của TSCĐ.
t
1
: thời gian thực tế đã trích khấu hao của TSCĐ
Xác định mức trích khấu hao hàng năm (cho những năm còn lại của
TSCĐ) như sau:

Mức khấu hao Giá trị còn lại củaTSCĐ
Trung bình hàng năm =
của TSCĐ thời gian sử dụng còn lại của TSCĐ

Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả
năm chia cho 12 tháng.
3.2.2- Các phương pháp khấu hao nhanh.
3.2.2.1- Phương pháp khấu hao theo số
dư giảm dần có điều chỉnh:
Mức trích khấu hao TSCĐ theo phương pháp số dư giảm dần có điểu
chỉnh được xác định như:
Xác định thời gian sử dụng của TSCĐ:

Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo quy định tại chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo quyết định số:
206/2003/QĐ - BTC của Bộ tài chính.
Xác định mức tính khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công
thức dưới đây:
Mức tính trích khấu hao

Giá trị còn lại Tỷ lệ khấu

hàng năm của TSCĐ của TSCĐ hao nhanh
=
x
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
12

Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo
Tỷ lệ KH nhanh (%) phương pháp đường thẳng Hệ số điểu chỉnh.

Tỷ lệ KH TSCĐ theo phương pháp đường thẳng xác định như sau:

Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo 1
phương pháp đường thẳng (%) = x 100
Thời gian sử dụng của TSCĐ

Hệ số điề
u chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tại
bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh
(lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm)
1,5
Trên 4 -> 6 năm ( 4 năm < t ≤ 6 năm)
2,0
Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số
dư giảm dần nói trên bằng ( hoặc thấp hơn) mức KH tính bình quân giữa giá trị
còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ thì kể từ năm đó mức KH được tính
bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ.
Mức KH hàng tháng bằng số
KH phải trích cả năm chia cho 12 tháng.
Ưu điểm của phương pháp này là vốn được thu hồi nhanh, phòng ngừa
được hiện tượng hao mòn vô hình. Tuy nhiên phương pháp này còn hạn chế là
KH luỹ kế đến năm cuối cùng sẽ không bù đắp vốn đầu tư ban đầu của TSCĐ.
3.2.2.2- Phương pháp KH theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
x
=
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
13
TSCĐ trong doanh nghiệp được trích KH theo phương pháp KH theo số
lượng, khối lượng sản phẩm như sau:
- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế – kỹ thuật của TSCĐ, doanh nghiệp xác định
tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của TSCĐ,
gọi tắt là sản phẩm theo công suất thiết kế.
- Căn cứ tình hình thực tế s
ản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối
lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của TSCĐ.
- Xác định mức trích KH trong tháng của TSCĐ theo công thức sau:

Mức trích KH trong tháng của TSCĐ = SL sản phẩm sản xuất trong tháng
x Mức trích KH bình quân tính cho 1 đơn vị sản phẩm.

Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
14
Trong đó:
Mức tính KH Nguyên giá của TSCĐ
bình quân tính cho 1 =
đơn vị sản phẩm Số lượng theo công suất thiết kế
- Mức trích KH năm của TSCĐ bằng tổng mức trích KH của 12 tháng
trong năm và tính theo công thức sau:
Mức trích KH năm
của TSCĐ
=
Số lượng sản phẩm
sản xuất trong năm
x
Mức trích KH bình
quân tính cho 1 đơn vị
sản phẩm.

Trường hợp công suấ
t thiết kế và nguyên giá của TSCĐ thay đổi doanh
nghiệp phải xác định lại mức trích KH củaTSCĐ.
4- Lập kế hoạch KH TSCĐ và sử dụng quỹ KH TSCĐ của DN.
4.1- Lập kế hoạch KH TSCĐ theo phương pháp gián tiếp:
Xác định số tiền KH TSCĐ dự kiến theo công thức sau:

M
K
= NG
KH
x T
K

Trong đó: M
K
: số tiền KH TSCĐ dự kiến trong kỳ.
NG
KH
: nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính KH trong kỳ
T
K
: Tỷ lệ KH tổng hợp bình quân TSCĐ.
Xác định nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính KH trong kỳ xác định
như sau:
NG
KH
= NG
d
+ NG
1
– NGg

Trong đó: NG
d
: nguyên giá TSCĐ phải tính KH ở đầu kế hoạch.
NG
t
, NGg: nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính KH tăng
lên trong kỳ (và giảm bớt trong kỳ).
NG
t
x Nt NGg x Ng
NG
t
= NGg =
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
15
12 12

Trong đó: NG
t
, NGg: nguyên giá TSCĐ phải tính KH tăng lên hoặc
giảm bớt trong kỳ.
Nt: số ngày tăng
Ng: số ngày giảm
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, khối lượng tính toán không nhiều
nhưng độ chính xác của kết quả không cao.
4.2- Lập kế hoạch KH TSCĐ theo phương pháp trực tiếp.
- Số tiền KH trong kỳ kế hoạch được xác định như sau:
Số tiền KH dự kiến năm kế ho
ạch = Tổng số tiền KH của 12 tháng trong
năm kế hoạch.
- Số tiền KH của từng tháng có thể xác định được theo công thức:

n
KH
t

=

( NG
Di
) . t
Ki
)
t =1

Trong đó: KHt: Số tiền KH TSCĐ trong tháng
NG
Di
, Nguyên giá cần trích KH ở đầu tháng của từng loại TSCĐ.

t
Ki
: Tỷ lệ KH theo tháng của từng loại TSCĐ.

t
: Loại TSCĐ.
Để đơn giản việc tính toán, số tiền KH trong tháng được xác định theo
công thức sau:
Số tiền KH TSCĐ tháng này = Số KH TSCĐ tháng trước + Số KH tăng thêm
trong tháng - Số KH giảm đi trong tháng.
4.3- Phân phối và sử dụng tiền trích KH TSCĐ.
Theo chế độ tài chính hiện hành, tiền khấu hao đối với TSCĐ trong doanh
nghiệp (DN) Nhà nước được hình thành từ nguồn vốn Nhà nước và từ nguồn
Luận văn tốt nghiệp Trần Thị Tuyết Mai – 6A06
Trường đại học Quản lý kinh doanh Hà Nội
16
vốn do doanh nghiệp tự bổ sung được để lại làm nguồn vốn tái đầu tư TSCĐ cho
DN. Trong khi chưa thu hồi đủ vốn, doanh nghiệp có thể dùng tiền KH để bổ
sung vốn KD.
Đối với TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn vay, về nguyên tắc tiền KH
là nguồn để trả tiền vay.
Thông thường trong hoạt động kinh doanh việc tính KH TSCĐ của DN
được thực hiện hàng tháng. Tiền KH nhằm
để tái đầu tư TSCĐ. Do chưa có nhu
cầu đầu tư, doanh nghiệp được sử dụng linh hoạt số tiền KH để bổ sung vốn
kinh doanh nhằm đạt mức sinh lời cao.
II/ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN CỐ ĐỊNH .
1- Những nhân tố khách quan.
Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Trên cơ sở pháp luật kinh tế
và các biện pháp kinh tế, nhằm tạo môi trường và hành lang cho doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch kinh tế vĩ mô. Vì
thế các doanh nghiệp chịu sự tác động rất lớn của các quy chế quản lý Nhà
nước.
Thị trường cạnh tranh: Vấn đề đặt ra đối với doanh nghiệp là ph
ải có kế
hoạch cải tạo, đầu tư mới TSCĐ trước mắt cũng như lâu dài. Nhờ đổi mới máy
móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, thì những sản phẩm mà doanh nghiệp
sản xuất ra mới có năng suất cao, chất lượng đảm bảo, giá thành hạ do đó mới
dủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh đó lãi suất tiền vay cũng là một nhân t
ố ảnh hưởng quan trọng.
Lãi suất tiền vay ảnh hưởng đến chi phí đầu tư của doanh nghiệp. Sự thay đổi
của lãi suất sẽ kéo theo những biến động cơ bản của dự án đầu tư, đặc biệt là
hiệu quả về mặt tài chính.
Nguồn vốn do cấp trên cấp: Đây là nguồn đáng kể để tài trợ cho TSCĐ
DN tuy nhiên nguồn này khó có thể đáp
ứng được nhu cầu thanh toán tức thời
của DN. Tuy vậy các DN vẫn muốn sử dụng nguồn này vì chi phí cho chúng rất
thấp đôi khi bằng không.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×