Tải bản đầy đủ

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001 2005

PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001 2005
I. NHỮNG CĂN CỨ CƠ BẢN CHO VIỆC PHÁT TRIỂN TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH
HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001-2005.
1. Quan điểm phát triển TTCN Hà Tây.
1.1. Phục hồi và phát triển TTCN truyền thống
-Việc phục hồi phát triển các làng nghề truyền thống không chỉ có
ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn về mặt văn hoá xã hội. Vì khi
bán sản phẩm truyền thống không chỉ có ý nghĩa là bán " giá trị sử dụng" mà
còn bán " giá trị văn hoá nghệ thuật " nằm trong sản phẩm đó. vì thế tính chất
truyền thống, phong cách riêng của địa phương, tính độc đáo và hình thức sản
phẩm, thậm chí cả địa danh làm ra giá trị sản phẩm đều làm tăng giá trị sản
phẩm . Mặt khác làng nghề truyền thống còn là điểm du lịch kỳ thú cho khách
nước ngoài. Quan điểm cơ bản là phải đánh giá đúng vai trò của Làng nghề
trong điều kiện công nghiệp hoá -hiện đại hoá .
Kỹ thuật trực tiếp làm tăng giá trị kinh tế, Văn hoá và xã hội vừa trực
tiếp làm tăng giá trị kinh tế vừa là cơ sở điều kiện phát triển lâu dài của làng
nghề .
Phải giữ gìn giá trị văn hoá của làng nghề, bảo vệ và tu bổ cảnh quan
của làng nghề, tôn tạo các di tích của làng nghề, phục hồi các lễ hội và phong
tục tập quán của làng nghề là điều kiện cần thiết tạo cho việc giữ dìn bản sắc

văn hoá dân tộc và phát triển các làng nghề trong hiện tại và tương lai.
Xây dựng các làng nghề thành điểm du lịch và gắn kết với các điểm du lịch
trong việc cung cấp sản phẩm và giới thiệu văn hoá huỵện, tỉnh, để tạo ra giá
trị kinh tế cho huyệnvà tỉnh ...
-Kết hợp yếu tố truyền thống với các yếu tố hiện đại.
Truyền thống được hình thành và phát triển nhiều đời tạo thành phong
cách riêng cho sản phẩm. Chính truyền thống là yếu tố quyết định để chiếm lĩnh
thị trường. Song sản phẩm phải luôn được cải thiện, cải tiến, phù hợp với cuộc
sống mới trong điều kiện khoa học kỹ thuật văn hoá xã hội cao hơn. (Chẳng
hạn sản phẩm điêu khắc trạm trổ, dệt may... cần kết hợp công nghệ hiện đại và
truyền thống, để tạo ra số lượng và những sản phẩm bền đẹp, phù hợp với thị
hiếu của người tiêu dùng...).
-Kết hợp phát triển nghề truyền thống với phát triển toàn diện
nông thôn.
Nếu như cuộc sống không đảm bảo, phải bỏ nghề thì truyền thống cũng
không còn. Cuộc sống có nâng cao và phát triển toàn diện thì người thợ mới có
đủ điều kiện, khả năng hứng thú lao động sáng tạo trong nghề nghiệp .Mặt
khác khi cuộc sống được cải thiện, song truyền thống chưa hẳn đã được phát
huy, điều đó phải có sự trợ giúp của cơ quan chức năng, các tổ chức quần
chúng và toàn thể quần chúng nhân dân...
Phát triển nông thôn là sự phát triển toàn diện từ môi trường sống, cơ
sở hạ tầng, quan điểm xã hội, trình độ dân trí trong đó đặc biệt coi trọng việc
đào tạo và nâng cao trình độ nghề nghiệp .
-Phát triển làng nghề truyền thống phải có sự hỗ trợ của các cơ
quan Nhà nước, Trung ương và địa phương .
Làng nghề truyền thống không chỉ của riêng những người dân làng
nghề truyền thống đó mà còn là một bộ phận phong phú và sâu sắc truyền
thống văn hoá dân tộc ( Không chỉ Hà Tây mà cả nước ). Vì vậy việc giữ gìn và
phát triển làng nghề là nhiệm vụ chung của toàn xã hội. Trong điều kiện khó
khăn về kinh tế, vốn đầu tư, dân trí, văn hoá ... người dân làng nghề không đủ
sức tự mình giữ gìn và phát triển truyền thống của làng nghề được. Do vậy cần
có sự hỗ trợ của Nhà nước, như chính sách khuyến khích khôi phục, phục hồi
phát triển làng nghề về kinh tế, thông tin, tiếp thị, xuất nhập khẩu ...
1.2 Phát triển TTCN trên cơ sở tận dụng lợi thế du lịch Hà Tây .
Hà Tây là đất trăm nghề nên việc phát triển TTCN là một lợi thế . Mặt
khác nơi đây còn có một tiềm năng lớn về du lịch, là tỉnh đứng thứ ba trong cả
nước sau Hà Nội và TP Hồ Chí Minh về số lượng di tích lịch sử , với mật độ 14
di tích/ 100 km2 , với nhiều Đền, Chùa cổ kính cùng các lễ hội truyền thống và
nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng ( Suối Hai, Ao Vua, Đồng Mô, Ngải Sơn,
Chùa Hương...) có tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Tuy vậy muốn khai thác được
tiềm năng này đưa kinh tế du lịch trở thành ngành công nghiệp không khói ,
trước hết cần phát triển TTCN với phát triển du lịch cụ thể :
- Coi du lịch là thị trường tiêu thụ các sản phẩm TTCN.
- Phát triển các sản phẩm TTCN trên cơ sở gắn kết với yếu tố truyền
thống của cảnh quan du lịch Làng nghề.
- Kết hợp làng nghề TTCN với du lịch là biện pháp để phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc .
1.3. Phát triển TTCN theo hướng sản xuất hàng hoá .
Trong lịch sử phát triển của mình loài người đã trải qua các hình thức
phát triển từ thấp đến cao , kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc đến kinh tế hàng
hoá. Sự ra đời của kinh tế hàng hoá đánh dấu bước tiến có ý nghĩa vô cùng to
lớn trong quá trình phát triển loài người.
Trong nền kinh tế hàng hoá , các quan hệ kinh tế đều được biểu hiện
thông qua quan hệ hàng hoá , tiền tệ và đều được thực hiện trên thị trường .
Trong sản xuất hàng hoá , dịch vụ được tạo ra nói chung nhằm mục đích trao
đổi , mục đích mua bán trên thị trường . Sản xuất hàng hoá có vai trò hết sức
to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia , nó góp phần
thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất vật chất nói chung và ngành
nghề TTCN nói riêng.
Vai trò của kinh tế hàng hoá được thể hiện trước hết ở chỗ , nó tạo động
lực và buộc mỗi người không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
bằng cách giảm chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm , sao cho hao phí lao
động cá biệt phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết để tạo ra một đơn
vị sản phẩm , chỉ có như vậy người sản xuất nói chung và sản xuất TTCN nói
riêng mới có thể thực hiện được tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng nhờ đó
TTCN mới có hiệu quả . Mặt khác cũng xuất phát từ sản xuất hàng hoá tạo ra
sự phân công lao động hợp lý hình thành các ngành nghề, các cơ sở , các vùng
sản xuất ... Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của quá trình phân
công lao động xã hội là quá trình chuyên môn hoá tạo ra nhiều sản phẩm có
chất lượng , số lượng phù hợp với thị hiếu trên cơ sở khai thác hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các lợi thé so sánh của từng vùng ( Đối với Hà
Tây là lơi thế về du lịch ).
Thật vậy để phát triển TTCN theo hướng sản xuất hàng hoá thì :
- Lựa chọn các ngành nghề , ưu tiên phù hợp với lợi thế của từng địa
phương, từng vùng.
- Phải hình thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất tại nông thônlàm
vệ tinh cho các xí nghiệp ở thành thị. Quy hoạch , phân vùng trong việc bố trí
các cụm , điểm sản xuất TTCN tạo thuận lợi cho việc phân bổ nguồn lực và
chuyên môn hoá sản xuất , từ đó tạo ra những sản phẩm có giá tri kinh tế cao.
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển sản xuất
TTCN theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước .
2. Mục tiêu phát triển kinh tế Hà Tây 2001-2005.
Xuất phát từ mục tiêu chung của cả nước về GDP bình quân đầu người
năm 2001là 380USD và đến năm 2010 đạt 1000USD. Xuất phát từ những mục
tiêu khác về tăng trưởng và phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do
vậy Hà Tây phải có nghĩa vụ đóng góp vào thực hiện mục tiêu đó .
Căn cứ vào thực trạng và những kết quả đạt được trong giai đoạn 1991-
1999 cũng như căn cứ tiềm năng về phát triển kinh tế của tỉnh, mục tiêu
chung về phát triển kinh tế như sau :
-Phấn đấu đạt mục tiêu GDP bình quân đầu người 360 USD vào năm
2001 và năm 2005 đạt 700 USD bằng mức bình quân chung của cả nước .
-Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP để đến năm 2001-2005 cơ cấu kinh
tế là :
+Năm 2001 cơ cấu là : - Công nghiệp : 30%
- Nông nghiệp :40%
- Dịch vụ :30%
+Năm 2005 cơ cấu là : - Công nghiệp :35%
- Nông nghiệp : 30%
- Dịch vụ :35%
Mục tiêu này hoàn toàn có cơ sở và có thể thực hiện được bởi tốc độ
tăng trưởng thời kỳ 1991-1995 là 9,8%; thời kỳ 1996-1999 là 7,18% cao hơn
cả nước.
-Từng bước cải thiện đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân về văn
hoá, giáo dục đào tạo, y tế xã hội. Đến năm 2001 không còn hộ đói, giảm hộ
nghèo xuống còn 5-6%. Xây dựng nông thôn mới theo hướng sản xuất hàng
hoávà từng bước "làng nghề hoá" bằng phát triển công nghiệp và dịch vụ
nông thôn. Để đạt được mục tiêu đó CN-TTCN phải có hướng đi cụ thể, khẳng
định vai trò to lớn trong giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các
vấn đề xã hội ...
Mục tiêu về chuuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Tây 2001-2005
Năm
Chỉ tiêu
2001 2005
CN-TTCN (%) 30 35
Nông nghiệp (%) 40 30
Dịch vụ (%) 30 35
GDP bình quân (USD) 360 700
Tốc độ tăng trưởng CN-TTCN
(%)
12 13,5
Để Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tây đề ra cho
công nghiệp như sau:
- Ngành CN - TTCN Hà Tây phấn đấu năm 2001có tốc độ tăng trưởng
12%, thời kỳ 2001-2005 tốc độ tăng trưởng 12-12,5%.
- Đưa sản xuất công nghiệp của tỉnh lên bước phát triển mới theo
hướng hiện đại hoá. Ưu tiên các ngành sản xuất chế biến nông sản, vật liệu xây
dựng, đồ uống, dệt may giầy da và mặt hàng thủ công mỹ nghệ .
- Công nghiệp Hà Tây xác định nhiệm vụ phục vụ nông nghiệp và công
nghiệp hoá nông thôn là trọng tâm.
3. Mục tiêu phát triển TTCN Hà Tây giai đoạn 2001-2005.
Để tăng cường đóng góp của công nghiệp vào GDP nói chung, vai trò
của TTCN hết sức quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn và giải quyết và giải quyết việc làm cũng như vấn đề xã hội,
tận dụng tối đa nguồn lực phân tán rải rác trong dân cũng như lợi thế về tài
nguyên con người, cảnh quan di tích lịch sử ... Như vậy mục tiêu phát triển
TTCN trong giai đoạn tới là :
-Về thu hút lao động. giai đoạn 2001-2005 thu hút lao động trong khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh là 250.000 lao động, giai đoạn 20015-2010 là
400.000 lao động , tăng cường số hộ và hình thức sản xuất kinh doanh TTCN
khác trên địa bàn.
- Về giá trị sản lượng cần tăng cường và mở rộng sản xuất ở các doanh
nghiệp và các hộ gia đình với mục tiêu tăng trưởng 12% giai đoạn 2001 và 13-
13,5% giai đoạn 2001-2005 thì mục tiêu giá trị sản lượng TTCN như sau:
Giai đoạn: 2001 : 1.500 tỷ đồng
2001-2005: 2.000 tỷ đồng
- Tăng cường đóng góp ngân sách của TTCN Hà Tây, bằng việc tăng
cường quản lý Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp và các hộ gia đình
trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và ở các làng nghề truyền thống. Để
năm 2001 có đóng góp là 15 tỷ đồng, năm 2001-2005 là 25 tỷ đồng.
- Tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt khu vực nông thôn bằng cách
mở rộng các ngành nghề và khuyến khích các loại hình doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh, giai đoạn 2001-2005 tập trung vào phát triển TTCN trong nông
nghiệp và phát triển mạnh các loại hình dịch vụ ở nông thôn.
-Giai đoạn 2001-2005 thực hiện việc nhân cấy nghề và mở rộng làng
nghề ở tất cả 14/14 huyện, thị xã trong tỉnh .
- Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm sang Nga, EU, Mỹ và thị trường
châu Á (Nhật, Hồng Kông, Đài Loan...)
- Về xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 vẫn tập trung vào mặt hàng thủ
công mỹ nghệ và may mặc, cần tăng cả về số lượng chất lượng và mẫu mã.
Mục tiêu phát triển TTCN Hà Tây giai đoạn 2001-2005
Năm
Chỉ tiêu
Đ
ơn vị
200
1
2001-2005
Tốc độ
phát triển (%)
2
001
20
05
- Giá trị SL
t
ỷ đồng
1.500 2.000
1
2%
13-
13,5%
- Đóng góp
ngân sách
t
ỷ đồng
15 25
- Thu hút lao
động
n
gười
200.0
00
300.000
- Thị trường XK
Asea
n , Nics
Nga, EU, Mỹ
và Châu á
II. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN TTCN TỈNH HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2001-2005.
1. Phương hướng quy hoạch chung TTCN Hà Tây .
Quy hoạch là một vấn đề bao trùm cần xúc tiến ngay để nhanh chóng
đưa tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp vào quỹ đạo sản xuất .
TTCN là một bộ phận hữu cơ của công nghiệp nói chung. Mặt khác, khi
quy hoạch tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp phải gắn với quy hoạch ngành
nghề, phải kết hợp chặt với quy hoạch địa phương, vùng lảnh thổ. Từ đó nhằm
tận dụng nguồn lao động tại chổ, khai thác tài nguyên và truyền thống của mỗi
vùng, từng bước xây dựng các vùng sản xuất, các cơ sở sản xuất truyền
thống ...
1.1.Quy hoạch phát triển tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp theo ngành
nghề .
Câu hỏi đặt ra là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai ? đây là vấn đề cần đặt
ra, như chương II đã nghiên cứu, trên thực tế đã có một số sản phẩm bị mất do
chính sách của nhà nước (Ví dụ nghề pháo ...), một số sản phẩm bị mai một do
không chú ý đến phát triển, do thị trường thiếu hụt, hình thức cung cấp, sở
thích cũng như nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng. Trong khi các sản phẩm bị
mai một lại có lợi thế về phát triển như nguyên liệu cung cấp, tay nghề người
thợ. Vì vậy trong gia đoạn tới (2001-2005) cần chú ý một số sản phẩm ngành
nghề hướng vào thị trường trong nước và nước ngoài giải quyết việc làm cho
người lao động như:
- Chế biến nông sản thực phẩm, sản phẩm ăn uống .
- Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, mây tre đan, chạm trổ, khảm trai
- Dệt may, dệt lụa tơ tằm ..
-Sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho nhu cầu xây dựng trong tỉnh và
cung cấp cho thị trường lớn Hà Nội ...
1.2. Quy hoạch TTCN theo địa phương vùng lãnh thổ.
Quy hoạch TTCN theo vùng lãnh thổ là quy hoạch việc phát triển các cơ
sở sản xuất trên một vùng nhất định, có liên quan đến điều kiện tự nhiên về đất
đai, khả năng cung cấp nguyên vật liệu, và điều kiện xã hội ... Quy hoạch theo
vùng lãnh thổ tạo điều kiện cho phép chọn địa điểm xây dựng từng cơ sở có
căn cứ xắc đáng. Chính vì vậy việc quy hoạch vùng lãnh thổ cần xác định .
-Xây dựng các xí nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, cần bố trí gần
hoặc trong vùng có nguyên liệu .
-Các xí nghiệp phải bố trí vào các khu và cụm công nghiệp theo định
hướng ngành nghề.
Đối với thị xã : Tận dụng tối đa cơ sở hiện có, đầu tư chiều sâu nâng
cao năng xuất và chất lượng, đồng thời xây dựng các cụm điểm công nghiệp.
Đối với thị xã Hà Đông xây dựng các cụm điểm công nghiệp La Khê, Van Phúc,
Cầu Bưởu và phát triển TTCN dệt truyền thống .Đối với thị xã Sơn Tây cần phát
triển TTCN may, chế biến bánh kẹo, đồ uống, sữa chữa, sản xuất vật liệu xây
dựng tại các xã Đường lâm, Trung Hưng, Thanh mỹ ; chế biến lâm sản gổ xẽ,
giường tủ ở các Xã Xuân Sơn, Sơn Đồng ...
Đối với các huyện: Cần xây dựng vùng nguyên liệu cung cấp cho các xí
nghiệp chế biến ở thị xã và vùng lân cận, duy trì và phát triển các ngành nghề
thủ công mỹ nghệ trên các làng nghề, nhân rộng và phát triển các làng nghề
mới, sản xuất nhiều mặt hàng kết hợp với thiết bị công nghệ mới vào sản xuất
kinh doanh tăng nhanh sản lượng và chất lượng .
-Huyện Ba Vì đây là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh, có điều kiện phát
triển các vùng nguyên liệu, mặt khác cần đẩy nhanh sản xuất các mặt hàng
phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa, đặc biệt là tận dụng thị trường du lịch
mà nơi đây có thế mạnh và đẩy nhanh phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ
nghệ ...phục vụ du lịch .
*Cần đẩy mạnh sản xuất các ngành nghề :
+Chế biến nông sản :Tại các xã Tàng Đàng, Vật lai, Minh Quang, Tản
Linh, Vân Sơn (xay xát chế biến tinh bột sắn, dong riềng, chăn nuôi bò sữa )
+Trồng dâu nuôi tằm :Các xã Thuần Mỹ, Sơn Đà,Tòng Bạt.
+Sản xuất vật liệu xây dựng: Các xã khánh Thượng, Cẩm Lĩnh, Tiền
Phong(Sản xuất gạch nung, ngói vôi,đá xâydựng ) cần phát triển vùng nguyên
liệu để cung cấp cho các cơ sở sản xuất công nghiệp lớn như vùng trồng chè,
mía dứa
-Huyện Hoài Đức hiện có 7 làng nghề và công ty TNHH công nghiệp của
huyện là thế mạnh công nghiệp ngoài quốc doanh (95%), vì vậy trong giai
đoạn tới cần xây dựng các vùng nguyên liệu cung cấp cho TTCN chế biến và
phát triển TTCN dệt may.
+Chế biến nông sản :Thị trấn Hoài Đức, xã Minh Khai,Cát Quế, Đức giang
chế biến tinh bột, nha, thức ăn gia súc .
+Dệt may, da: Các xã La phù, Dương Nội, An thượng
+Thủ công mỹ nghệ : Thị trấn Trôi, các xã Sơn Đồng sãn xuất tượng gỗ,
điêu khắc sơn mài ...
-Huyện THường Tín, PHú Xuyên là huỵện có TTCN phát triển với 26 làng
nghề, tập trung sản xuất hàng tiêu dùng, mặt hàng truyền thống của huyện
như: Sơn mài mỹ nghệ, mây tre đan, tơ lụa, giầy da...Trong thời gian tới hướng
sản xuất các mặt hàng như sau:
+Chế biến nông sản thực phẩm : Hướng tập trung chế biến gạo, các loại
thức ăn gia súc phục vụ cho thị trường Hà Nội và trong tỉnh cũng như các tỉnh
lân cận.
+Thủ công mỹ nghệ :Phát triển khảm, sơn mài, mây tre giang, guột tế,
mộc cao cấp .
+May mặc, giầy da: Phát triển các cơ sở làm Giầy da, tìm đói tác để sản
xuất quy mô lớn .
-Các huyện khác (Chương Mỹ, Phúc thọ, Thanh Oai, ứng Hoà, Thạch
Thất...) lại tập trung nâng cao chất lượng và số lượng sản phẩm hiện có, trên
cơ sở tận dụng tối đa nguồn lực điạ phương vào phát triển TTCN và cũng tập
trung vào một số mặt hàng sau: Sản xuất vật liệu xây dựng ; Chế biến nông sản
; chế biến lâm sản ; hàng dệt, thủ công mỹ nghệ .
2. Phương hướng phát triển một số ngành TTCN chủ chốt.
2.1. Ngành vật liệu xây dựng (góm, sứ, thủy tinh).
Trong những năm qua, ngành này có tốc độ tăng trưởng rất nhanh
20,8%/năm. Trong giai đoạn tới cần duy trì tốc độ phát triển này, và đưa tỷ
trọng lên 30% vào giai đoạn 2001-2005.
Thời gian tới nhu cầu xây dựng nhà ở và cơ sở hạ tầng nông thông rất
lớn. Để tiếp tục phát triển ngành khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng
cần:
- Quy hoạch các địa điểm khai thác đất, đá, cát,... các khu sản xuất gạch,
gốm sứ, thủy tinh,... hạn chế ảnh hưởng đến môi trường và xâm phạm đất
canh tác. Cải tiến lò thủ công, từng bước thay thế bằng lò tuy nen, sử dụng
cơ khí trong các khâu luyện đất, dập sản phẩm, vận chuyển,... Đầu tư công
nghệ tiên tiến, sử dụng có hiệu quả tài nguyên khoáng sản sẵn có ở địa
phương để sản xuất vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu trong và ngoài
tỉnh,...
- Tiếp tục phát huy thế mạnh của ngành hiện có dựa trên những đặc
điểm ưu đãi về tài nguyên, khoáng sản vốn là thế mạnh của tỉnh. Khuyến
khích phát triển các làng nghề gốm, sứ truyền thống, đổi mới sản phẩm phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
2.2. Ngành chế biến nông sản thực phẩm.
- Phát triển ngành TTCN chế biến nông sản thực phẩm trên cơ sở phát
triển nông nghiệp của tỉnh, đảm bảo mục tiêu gia tăng giá trị nông sản, thực
phẩm, giảm tới mức thấp nhất hư hao sau thu hoạch. Tăng cường sản xuất
các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của địa phương trong nước và hướng tới
xuất khẩu.
* Ngành dệt, may mặc.
Phương hướng:
- Bố trí sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, kết hợp công nghệ truyền thống
và hiện đại trong sản xuất.
- Đổi mới các kiểu dáng và hình thức đối với hàng thêu, ren... ở các làng
nghề truyền thống.
* Ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ.
Phương hướng:
- Đối với ngành thủ công mỹ nghệ cần phát huy thế mạnh của làng
nghề truyền thống, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cao cấp của nhân dân và thị
trường trong và ngoài nước, đặc biệt tăng cường khả năng xuất khẩu.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×