Tải bản đầy đủ

Chương 3 Phân Tích Những Yếu Tố Tác Động Đến Giá Chứng Khoán

Chương 3 Phân Tích Những Yếu Tố Tác Động Đến Giá Chứng Khoán
Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất
lớn của mọi đối tượng trong xã hội. Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thị trường
chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và
đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Hai hệ thống kĩ thuật phân tích được nói
đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật.
• Phân tích cơ bản là việc phân tích bản cân đối tài khoản và bản báo cáo lợi
tức của công ty để xem xét chất lượng của công ty cũng như việc phát
triển của công ty theo thời gian, nhờ đó tiên đoán các chuyển biến giá
chứng khoán. Việc phân tích cơ bản sẽ đánh giá một chứng khoán dưới giá
trị hay trên giá trị hiện hành.
• Phân tích kỹ thuật là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả
và khối lượng giao dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung
cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cách ứng xử trước mắt đối với giá cả, tức là
chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào, bán ra hay giữ nguyên cổ
phiếu trên thị trường.
 Phân tích cơ bản hoàn toàn dựa vào các yếu tố đầu vào và khả năng phân tích
mang tính chủ quan. Vì vậy, cùng một cổ phiếu có thể có nhiều kết quả nhận
định và phân tích khác nhau và phân tích cơ bản thường được coi là bỏ qua
yếu tố tâm lý đầu tư, còn phân tích phân tích kỹ thuật chủ yếu dựa vào
nghiên cứu biến động giá thị trường của cổ phiếu, và tập trung nhấn mạnh

vào hành vi biến động về giá và về khối lượng giao dịch cũng như các xu
hướng của hành vi giá và khối lượng đó.
3.1 Phân Tích Cơ Bản:
3.1.1 Các nhân tố vĩ mô tác động Đến thị trường chứng khoán:
3.1.1.1 Các ảnh hưởng của môi trường chính trị, xã hội và pháp luật:
• Môi trường chính trị cũng có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường chứng
khoán, xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của TTCK.
Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt động
chính trị. Tuy nhiên ở nước ta tình hình chính trị tương đối ổn định nên ta có
thể bỏ qua yếu tố này.
• Môi trường xã hội và pháp luật : Hệ thống chính sách có tác động rất lớn
đến bản thân TTCK và hoạt động của các doanh nghiệp. Mỗi thay đổi chính
sách có thể kéo theo các tác động làm giá chứng khoán tăng hoặc giảm, nhất
là trong những thời điểm nhạy cảm.
 Đây là những yếu tố phi kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến giá
chứng khoán trên thị trường. Nếu những yếu tố này có khả năng ảnh hưởng tích cực
tới tình hình kinh doanh của DN thì giá cổ phiếu của DN sẽ tăng lên.
3.1.1.2 Các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô:
- Tỷ giá hối đoái:
• Tỷ giá hối đoái có tác động đến TTCK trên cả 2 giác độ là môi
trường tài chính và chính bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
đặc biệt là những doanh nghiệp nhập nguyên liệu hay tiêu thụ sản phẩm ở
nước ngoài.
• Tỷ giá hối đoái tăng cao đã tác động tới thị trường chứng khoán khá nhiều,
các nguồn vốn nước ngoài được đầu tư nhiều vào thị trường chứng khoán
nhưng việc tỷ giá hối đoái tăng mạnh đã làm nảy sinh lí do khiến các nhà đầu
tư nước ngoài rút vốn khỏi thị trường, một lượng vốn lớn nhanh chóng bị rút
khỏi thị trường sẽ làm giá chứng khoán giảm và điều này sẽ tác động làm
tăng lãi suất. Nếu lãi suất tăng sẽ trở thành gánh nặng cho kinh tế và ngược
lại.
- Lạm phát: là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu dùng và
tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát không hợp lý sẽ gây khó
khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn cản sự tăng trưởng và đổi mới
doanh nghiệp.
• Lạm phát tăng thường là dấu hiệu cho thấy, sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ
không bền vững, lãi suất sẽ tăng lên, khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ
thấp khiến giá cổ phiếu giảm. Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng
cổ phiếu sẽ tăng giá và ngược lại.
• Thông thường, giá cổ phiếu có xu hướng tăng khi nền kinh tế phát triển tốt
và có xu hướng giảm khi nền kinh tế giảm sút. Như vậy, nếu dự đoán được


xu hướng phát triển của nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển
chung của TTCK. Vì vậy việc dự đoán tình hình kinh tế để xem xét các ảnh
hưởng của nó đến giá chứng khoán cũng rất quan trọng đến các nhà đầu tư.
- Lãi suất: Lãi suất Trái phiếu Chính phủ được coi là lãi suất chuẩn, những thay
đổi trong lãi suất trái phiếu Chính phủ sẽ làm ảnh hưởng tới giá chứng khoán,
khi lãi suất chuẩn tăng làm cho giá cả của các loại chứng khoán khác giảm
xuống, ngược lại lãi suất chuẩn giảm lại làm cho giá của chứng khoán tăng
lên.
• Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một
ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Thế nhưng câu chuyện
về lãi suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó.
• Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược
chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi
suất thị trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn,
do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi
suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn
lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm.
• Không chỉ vậy, quan hệ quan hệ giữa lãi suất thì trường và lãi suất chứng
khoán là mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi
suất thị trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm,
điều này khiến cho hoạt động trên thị trường chứng khoán giảm sút vì người
ta thích gửn tiền vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán.
3.1.2 Phân tích ngành:
3.1.2.1 Lĩnh vực kinh doanh
Trong nền kinh tế, có rất nhiều ngành khác nhau như: dược phẩm, hoá chất
công nghệ thông tin, cơ khí, dịch vụ tài chính…Trong quá trình phân tích cần
xác định ngành nào có triển vọng phát triển để có quyết định đầu tư hợp lý. Doanh
nghiệp đó đang sản xuất - kinh doanh sản phẩm nào là chủ yếu, thể hiện qua tỷ trọng
doanh thu và lợi nhuận của sản phẩm đó trên doanh thu và lợi nhuận của DN. Biết được
lĩnh vực kinh doanh chính của công ty giúp NĐT có cái nhìn rõ nét hơn về những ảnh
hưởng có thể tác động tới DN như môi trường kinh tế vĩ mô, luật pháp, thiên tai, đối thủ
cạnh tranh...Ngoài việc nghiên cứu chính bản thân ngành đó thì những vấn đề như :
chính sách xuất, nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, các quy định về thuế của Chính phủ
đối với một ngành cụ thể nào đó cũng có ảnh hưởng lớn đến giá chứng khoán của
ngành này.
Có những ngành khi nền kinh tế đi theo chiều hướng giảm thì giá cả của các
cổ phiếu ngành này cũng không bị ảnh hưởng bao nhiêu, thậm chí là tăng như ngành y
dược, hay công ty kinh doang trong những lĩnh vực liên quan đến các sản phẩm thiết
yếu như gạo.
3.1.2.2 Vốn và cơ cấu vốn:
• Cơ cấu sở hữu vốn: Nhà nước nắm bao nhiêu phần trăm; cổ đông chiến
lược, cổ đông tổ chức, cá nhân nắm số lượng lớn; cổ phiếu lưu hành, số cổ
phiếu bị hạn chế chuyển nhượng. Thông thường, một cổ phiếu có nhiều cổ
đông chiến lược thì tốt trong dài hạn và kỳ vọng của NĐT tăng cao dẫn đến
giá của loại chứng khoán này cũng tăng cao hơn. Ngoài ra, khi DN có tỷ lệ
sở hữu của Nhà nước và cổ đông chiến lược lớn thì số cổ phiếu đang giao
dịch trên thị trường ít hơn nhiều so với tổng số cổ phiếu, điều này thường có
lợi cho giá cổ phiếu vì lượng cung bị hạn chế.
• Vốn chủ sở hữu, thặng dư vốn, lợi nhuận: nếu một DN có lợi nhuận lớn và
tỷ lệ vay nợ hiện tại cao thì nhiều khả năng DN sẽ tăng vốn để giảm bớt chi
phí vay. Một cấu trúc vốn tối ưu được định nghĩa là một cấu trúc vốn trong
đó chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt lớn
nhất. Vấn đề cốt lõi của cấu trúc vốn tối ưu là khi doanh nghiệp vay nợ,
doanh nghiệp tận dụng được lợi thế của lá chắn thuế từ nợ vay, bản chất của
vấn đề này là lãi suất mà doanh nghiệp trả cho nợ được miễn thuế (vì thuế
được đánh sau lãi vay). Một cách đơn giản ta có thể hình dung là giá trị của
doanh nghiệp khi vay nợ sẽ bằng giá trị của doanh nghiệp không vay nợ cộng
với hiện giá của lá chắn thuế từ nợ. Một điều kiện nữa của cấu trúc vốn tối
ưu là còn phải xem xét đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, tức là thu
nhập trước thuế và lãi vay (EBIT) phải vượt qua điểm bàng quang để doanh
nghiệp có thể tận dụng được đòn cân nợ. Hơn nữa,khi đồng vốn của doanh
nghiệp ngày càng được xã hội hóa, áp lực của công chúng cổ đông đối với
thành tích của doanh nghiệp ngày càng tăng. Và đối với phần lớn cổ đông đại
chúng thì thành tích hoạt động của doanh nghiệp cuối cùng được đo lường
bằng mức cổ tức được chia cho mỗi cổ phần (EPS - Earning per share) và -
hoặc là sự tăng giá của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Nhưng vì sự
tăng giá của cổ phiếu cũng phần lớn dựa trên EPS nên suy cho cùng, điều mà
cổ đông đại chúng mong muốn đối với kết quả hoạt động hàng năm của
doanh nghiệp là một tỷ lệ chia cổ tức cao nhưng nếu DN có vốn chủ sở hữu
lớn hơn nhiều so với vốn điều lệ thì điều đó dễ dàng làm cho EPS của cổ
phiếu đó tăng cao.
• Quá trình tăng vốn của DN: cần tìm hiểu vốn hiện tại cũng như nhu cầu tăng
vốn trong thời gian tới vì ở Việt Nam, có một thực tế là cả trước và sau khi
DN tăng vốn thì giá cổ phiếu thường biến động khá mạnh, biến động theo xu
hướng cùng chiều nhau.
3.1.2.3 Giao dịch của nhà ĐTNN và các tổ chức lớn:
• HĐQT bao gồm những ai, tỷ lệ vốn góp của họ; chiến lược đề ra có vì quyền
lợi của cổ đông, liệu có sự phân biệt đối xử giữa cổ đông tổ chức và cổ đông
nhỏ lẻ.
• Số lượng cổ phiếu nắm giữ của thành viên HĐQT, Ban giám đốc, Ban kiểm
soát và những người liên quan: nếu số lượng nắm giữ cổ phiếu càng lớn thì
rõ ràng là họ đều đặt niềm tin vào khả năng tăng trưởng của cổ phiếu và đó là
tín hiệu tốt (giá chứng khaons tăng ). Còn khi họ bán ra với số lượng lớn thì
thường đó là tín hiệu xấu đồng nghĩa với việc giá chứng khoán sẽ giảm.
3.1.2.4 Chỉ số tài chính:
Phân tích chỉ số tài chính là một phần quan trọng của phân tích cơ bản. Phân tích
tỷ số liên quan đến việc so sánh các con số với nhau để tạo nên các tỷ số và từ đó dựa
vào các tỷ số này để đánh giá xem hoạt động của công ty đang trong tình trạng suy
giảm hay tăng trưởng.
Các tỷ số cần phải được so sánh giữa các thời kỳ trong cùng một công ty để thấy
được công ty đang tăng trưởng hay suy giảm, và với các công ty trong cùng ngành để
thấy công ty đó hoạt động tốt hay xấu so với mức trung bình ngành.
Có 4 nhóm chỉ số chính sau: + Chỉ số khả năng sinh lợi.
+ Chỉ số khả năng thanh toán và đòn cân nợ.
+ Chỉ số hiệu quả hoạt động.
+ Chỉ số đầu tư của cổ đông.
a) Nhóm chỉ số khả năng sinh lợi:
Các nhà đầu tư, các cổ đông và các nhà quản lý tài chính đặc biệt chú ý tới khả
năng sinh lãi của các công ty. Việc phân tích lợi nhuận có thể bắt đầu bằng việc nghiên
cứu cách thức một công ty sử dụng cơ cấu vốn. Các nhà quản lý giỏi sử dụng có hiệu
quả tài sản của mình. Thông qua việc tăng hiệu quả sản xuất, các công ty có thể giảm
hoặc kiểm soát được các chi phí. Tỷ lệ lợi nhuận do bất kỳ một công ty nào đạt được là
quan trọng nếu các nhà quản lý của công ty đó mong muốn thu hút vốn và thực hiện
việc tài trợ thành công cho sự phát triển của công ty.Nếu tỷ lệ lợi nhuận của một công ty
tụt xuống dưới mức có thể chấp nhận được, thì P/E giá trên thu nhập và giá trị các cổ
phiếu của công ty sẽ giảm xuống – điều đó giải thích tại sao việc đánh giá khả năng
sinh lời lại đặc biệt quan trọng đối với một công ty.
• Hệ số tổng lợi nhuận
Hệ số tổng lợi nhuận cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng nguyên liệu và lao
động trong quy trình sản xuất của ban quản lý một công ty.
HSTLN = Doanh số – Trị giá hàng đã bán tính theo giá mua/ Doanh số bán
Ví dụ: Hệ số tổng lợi nhuận : Nếu một công ty có doanh số bán là 1.000.000
USD và trị giá hàng bán tính theo giá mua lên tới 600.000 USD, thì hệ số tổng lợi
nhuận của công ty sẽ là: Hệ số tổng lợi nhuận = $1.000.000 – $600.000/ $1.000.000 =
40%
Khi chi phí lao động và chi phí nguyên liệu tăng nhanh, hệ số tổng lợi nhuận
chắc chắn sẽ giảm xuống, trừ khi công ty có thể chuyển các chi phí này cho khách hàng
của mình dưới hình thức nâng giá bán sản phẩm. Một cách để tìm xem các chi phí này
có quá cao không là so sánh hệ số tổng lợi nhuận của một công ty với hệ số của các
công ty tương đồng. Nếu hệ số tổng lợi nhuận của các công ty đối thủ cạnh tranh cao
hơn, thì công ty cần phải thực hiện một biện pháp nào đó để có được sự kiểm soát tốt
hơn đối với chi phí lao động và nguyên liệu.
• Hệ số lợi nhuận hoạt động:
Hệ số lợi nhuận hoạt động cho biết ban quản lý của một công ty đã thành công
đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của công ty.
Mức lãi hoạt động = EBIT/ Doanh thu
Tử số của hệ số này là thu nhập trước thuế và lãi hay chính là thu nhập tính được
sau khi lấy doanh thu trừ trị giá hàng đã bán tính theo giá mua và các chi phí hoạt động
EBIT.
Ví dụ: Hệ số lợi nhuận hoạt động: Nếu EBIT lên tới 200.000 USD trong khi
doanh thu là 1.000.000 USD, thì mức lãi hoạt động là:
Hệ số lợi nhuận hoạt động = 200.000 USD/ 1.000.000 = 20%.
Hệ số này là một thước đo đơn giản nhằm xác định đòn bẩy hoạt động mà một
công ty đạt được trong việc thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi
nhuận hoạt động cho biết một Đô la doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu EBIT. Hệ số lợi
nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay nghĩa là doanh thu
tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải tìm ra các nguyên nhân
khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó họ có thể xác định xem công ty
hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay
chậm hơn chi phí vốn.
• Hệ số lợi nhuận ròng
Hệ số lợi nhuận ròng là hệ số lợi nhuận từ mọi giai đoạn kinh doanh. Nói cách
khác, đây là tỷ số so sánh lợi nhuận ròng với doanh số bán.
Mức lãi ròng = Lợi nhuận ròng/ Doanh số
Ví dụ: Hệ số lợi nhuận ròng: Nếu lợi nhuận sau thuế của một công ty là 100.000
USD và doanh thu của nó là 1.000.000 USD thì:
Hệ số lợi nhuận ròng = 100.000 USD/ 1.000.000 = 10%
Một số công ty có mức lợi nhuận ròng hơn 20%, và một số khác có chỉ đạt
khoảng từ 3% đến 5%. Hệ số lợi nhuận ròng giữa các ngành khác nhau là khác nhau.
Thông thường, các công ty được quản lý tốt đạt được mức lợi nhuận ròng tương đối cao
hơn vì các công ty này quản lý các nguồn vốn của mình có hiệu quả hơn. Xét từ góc độ
nhà đầu tư, một công ty sẽ ở vào tình trạng thuận lợi nếu có mức lợi nhuận ròng cao
hơn lợi nhuận ròng trung bình của ngành và, nếu có thể, có mức lợi nhuận liên tục tăng.
Ngoài ra, một công ty càng giảm chi phí của mình một cách hiệu quả – ở bất kỳ doanh
số nào – thì mức lợi nhuận ròng của nó càng cao.
• Hệ số thu nhập trên cổ phần
Hệ số thu nhập trên cổ phần ROE là thước đo tỷ suất lợi nhuận của các cổ đông.
Nhà phân tích chứng khoán, cũng như các cổ đông, đặc biệt quan tâm đến hệ số này.
Nói chung, hệ số thu nhập trên cổ phần càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn.
Hệ số này là một cách đánh giá khả năng sinh lời và các tỷ suất lợi nhuận của công ty
khi so sánh với hệ số thu nhập trên cổ phần của các cổ phiếu khác. Hệ số này có thể
được tính như sau:
ROE = Lợi nhuận ròng sau thuế/ Vốn cổ đông hay giá trị tài sản ròng hữu hình
• Thu nhập trên tổng vốn đầu tư (ROCE)
ROCE = (Lợi nhuận trước lãi và thuế) / (Tổng tài sản - nợ ngắn hạn)
Chỉ số ROCE cho thấy sự hiệu quả và khả năng sinh lợi từ trong việc sử dụng
vốn đầu tư của một công ty.
Một công ty nên cho thấy chỉ số ROCE cao hơn mức lãi suất đi vay, nếu không
sự gia tăng vốn vay sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông.
Các chỉ số cấp hai: ROCE = Chỉ số lợi nhuận x Vòng quay tài sản

LN trước thuế và lãi = LN trước lãi và thuế x Doanh thu
(Tổng tài sản - nợ ngắn hạn) Doanh thu (Tổng tài sản - nợ ngắn hạn)
Vòng quay tài sản cho thấy hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập.
Giữa chỉ số lợi nhuận ròng và vòng quay tài sản có mối quan hệ cân bằng, cụ thể
là:
• Một chỉ số lợi nhuận cao có thể đồng nghĩa với giá bán cao, dẫn đến khả năng
lớn là doanh số sẽ giảm và vì vậy vòng quay tài sản sẽ thấp hơn.
• Vòng quay tài sản cao có nghĩa công ty đang có doanh số cao, để làm được
điều này thì công ty có thể phải giảm giá để chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn.
Nhìn chung, các chỉ số lợi nhuận của công ty càng cao càng tốt, nhưng cũng như
các nhóm chỉ số khác, chưa đủ để đánh giá chính xác về một công ty khi xem xét
các chỉ số này một cách riêng biệt. Một điều quan trọng nữa là cần so sánh chỉ số
này qua các thời kỳ của công ty, so sánh với chỉ số trung bình của ngành và với
các đối thủ cạnh tranh.
• Hệ số thu nhập trên đầu tư ROI
Hệ số thu nhập trên đầu tư ROI được công ty Du Pont phát triển cho mục đích
sử dụng riêng, nhưng ngày nay nó được rất nhiều công ty lớn sử dụng như là một cách
thức tiện lợi để xác định tổng thể các ảnh hưởng của các biên lợi nhuận doanh thu tổng
tài sản.
ROI = Thu nhập ròng/ Doanh số bán x Doanh số bán/ Tổng tài sản
Hay :
ROI = Thu nhập ròng/ Tổng tài sản
Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty,
và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Nếu tài sản được sử dụng có hiệu
quả, thì thu nhập và ROI sẽ cao, và nếu ngược lại, thu nhập và ROI sẽ thấp.
b) Nhóm chỉ số thanh toán và nợ:
Chỉ số thanh toán thử nghiệm mức độ thanh toán của một công ty. Hai hệ số
thông dụng được sử dụng để xác định khả năng thanh toán của một công ty bao gồm
hệ số khả năng thanh toán hiện tại tỷ lệ tài sản trên nợ và hệ số khả năng thanh toán
nhanh hay còn gọi là hệ số thử axit.

• Hệ số khả năng thanh toán hiện tại:
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại là mối tương quan giữa tài sản lưu động và
các khoản nợ ngắn hạn.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán hiện tại
Một công ty với tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD và có các khoản nợ ngắn
hạn trị giá 10 triệu USD sẽ có hệ số khả năng thanh toán hiện tại là 2,0.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại = $20.000.000 / $10.000.000 = 2,0
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại cho thấy mức độ an toàn của một công ty
trong việc đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số này có thể khác
nhau, tuỳ thuộc vào ngành công nghiệp và loại công ty. Hệ số bằng 2,0 hoặc lớn hơn có
thể tốt cho một công ty sản xuất, trong khi hệ số bằng 1,5 có thể chấp nhận được với
một công ty dịch vụ công cộng vì nguồn tiền mặt dự tính thu vào cao và nợ hiện tại hay
nợ ngắn hạn nhỏ.
Hệ số khả năng thanh toán hiện tại không phản ánh được tính linh hoạt của một
công ty. Hiển nhiên là một công ty có dự trữ tiền mặt lớn và các chứng khoán khả mại
sẽ có khả năng thanh toán lớn hơn một công ty có mức hàng tồn kho lớn. Một hệ số
được thiết lập chi tiết hơn khi xem xét vấn đề cơ cấu tài sản có thể loại bỏ được những
thành tố kém tính thanh khoản nhất trong tài sản lưu động chính là hệ số khả năng thanh
toán nhanh.

• Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Bằng cách loại bỏ giá trị không chắc chắn của hàng trong kho và tập trung vào
những tài sản có khả năng chuyển đổi dễ dàng, hệ số khả năng thanh toán nhanh được
thiết lập nhằm xác định khả năng đáp ứng nhu cầu trả nợ của công ty trong trường hợp
doanh số bán tụt xuống một cách bất lợi.
Hệ số KNTT nhanh = (Tài sản lưu động - Hàng dự trữ) / Nợ ngắn hạn
Ví dụ: Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Trong ví dụ trước, tài sản lưu động trị giá 20 triệu USD. Nhưng điều gì sẽ xảy ra
nếu 5 triệu USD trong phần tài sản đó là hàng trong kho.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = 20.000.000 - $5.000.000 / $10.000.000 = 1,5
Con số này có thể cho bạn biết rằng công ty có khả năng đáp ứng việc thanh toán
nợ ngắn hạn vì công ty không gặp khó khăn nào trong việc chuyển các tài sản lưu động
khác thành tiền mặt. Mặt khác, công ty này có thể có các khoản phải thu khó đòi hoặc
hoạt động trong một ngành công nghiệp vô cùng nhạy cảm mà các chủ nợ đòi hỏi phải
được thanh toán nhanh. Do đó, công ty này có thể đòi hệ số thanh toán nhanh bằng 0,2
lần, và mức 1,5 lần có thể cho thấy rằng công ty đang cố gắng giảm hàng dự trữ hoặc
tăng giá trị của các tài sản dễ chuyển đổi khác của mình.
Việc sử dụng thông minh các hệ số đòi hỏi bạn phải vận dụng chúng trong mối liên
hệ với các thông tin khác.
• Chỉ số đòn cân nợ:
Chỉ số này liên quan đến cơ cấu vốn dài hạn của một công ty và được dùng để
xác định mức độ rủi ro liên quan đến việc nắm giữ vốn cổ phần trong một công ty.
Một công ty với đòn cân nợ cao thì có nhiều khả năng gặp phải sự đi xuống
trong chu trình kinh doanh bởi vì công ty đó phải tiếp tục trả các khoản nợ cho dù
doanh số đang giảm sút. Một công ty với tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao có thể cho thấy tình
hình tài chính vững mạnh.
Đòn cân nợ = Tổng nợ dài hạn / (Tổng vốn cổ phần + tổng nợ dài hạn)
c) Nhóm chỉ số hiệu quả hoạt động
• Kỳ thu tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình cần thiết để một
công ty thu hồi các khoản nợ từ khách hàng.
Xem xét xu hướng của kỳ thu tiền bình quân qua các thời kỳ của một công ty là
có hiệu quả nhất. Nếu vòng quay các khoản phải thu tăng từ năm này qua năm khác cho
thấy khả năng yếu kém trong việc quản lý công nợ ở một công ty.
Kỳ thu tiền BQ =( Phải thu khách hàng x 365 ngày) / Doanh thu bán chịu
• Số ngày vòng quay hàng tồn kho:
Số ngày vòng quay hàng tồn kho cho thấy khoảng thời gian trung bình hàng tồn
kho được lưu giữ.
Sự tăng lên của vòng quay hàng tồn kho qua các năm cho thấy sự chậm đi trong
công việc kinh doanh hoặc là sự tích trữ hàng tồn kho ở một công ty, điều đó cũng có
thể được hiểu rằng đầu tư vào hàng tồn kho đang trên mức cần thiết.
Số ngày vòng quay HTK = (Hàng tồn kho x 365 ngày) / Giá vốn hàng bán
• Kỳ thanh toán bình quân:
Kỳ thanh toán tiền bình quân cho thấy khoảng thời gian trung bình của một công
ty trong việc thanh toán các khoản nợ với nhà cung cấp.
Sự gia tăng kỳ thanh toán tiền bình quân qua các năm là dấu hiệu của việc thiếu
hụt vốn đầu tư dài hạn hoặc khả năng quản lý tài sản lưu động yếu kém, đó là kết quả
của việc gia tăng các khoản phải trả nhà cung cấp, gia tăng hạn mức thấu chi tại ngân
hàng.
Kỳ TTBQ = (Phải trả khách hàng x 365 ngày) / Tổng giá trị hàng mua chịu trong
năm
d) Nhóm chỉ số đầu tư của cổ đông
• Thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS):
Thu nhập của mỗi cổ phần cho thấy khả năng sinh lợi của một công ty. Thu nhập
trên mỗi cổ phần được xem như là chỉ số đơn lập quan trọng nhất trong việc xác định
giá trị cổ phiếu.
EPS =(Tổng thu nhập thuần - cổ tức cổ đông ưu đãi) / Số lượng cổ phiếu
lưu hành bình quân.
• Tỷ suất thu nhập trên thị giá cổ phần:
Tỷ suất này phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty
với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào, cụ thế hơn, tỷ suất này thể hiện kỳ vọng hiện
hành của nhà đầu tư vào thu nhập từ việc đầu tư vào cổ phần của một công ty.
Tỷ suất TN trên thị giá cổ phần = Cổ tức trên một cổ phần / Thị giá một cổ phần
• Chỉ số giá trên thu nhập (P/E): là một trong những chỉ số phân tích quan
trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ
phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số
P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - PM) và thu
nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau:
PE = Thị giá mỗi cổ phần(PM) / thu nhập mỗi cổ phần(EPS)
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần,
hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ
phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố
trên báo chí. Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng
cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ
suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả
cổ tức cao. Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ
phiếu XYZ không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao
nhiêu là hợp lý? Chúng ta chỉ cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các
loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu XYZ, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số
P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu XYZ.
Chỉ số P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao
nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu.
Nhìn chung, một công ty với chỉ số P/E cao cho thấy các nhà đầu tư đang kỳ
vọng sự tăng trưởng về lợi nhuận trong tương lai của công ty đó cao hơn so với các
công ty có chỉ số P/E thấp.
Việc đánh giá sẽ có hiệu quả hơn hơn khi so sánh P/E của công ty này với P/E
của công ty khác trong cùng ngành và so sánh với P/E trung bình của ngành.
3.1.2.5 Các chỉ số khác:
Ngoài 4 chỉ số quan trọng trên các nhà đầu tư còn dựa trên 2 chỉ số sau để phân
tích có nên đầu tư vào loại chứng khoán của công ty hay không. Đó là: chỉ số rủi ro và
chỉ số tăng trưởng tiềm năng.
a) Chỉ số rủi ro: bao gồm chỉ số rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Rủi ro kinh
doanh liên quan đến sự thay đổi trong thu nhập ví dụ như rủi ro của dòng tiền
không ổn định qua các thời gian khác nhau. Rủi ro tài chính là rủi ro liên quan
đến cấu trúc tài chính của công ty, ví dụ như việc sử dụng nợ.
• Chỉ số rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh được định nghĩa như là rủi ro liên quan đến những biến động
trong doanh thu. Để đo lường rủi ro kinh doanh ngưòi ta dùng nhiều phương thức từ
đơn giản đến phức tạp.
- Phương thức đơn giản:
Bốn chỉ số dưới đây đại diện cho phương thức đơn giản trong việc tính toán các
chỉ số rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh là rủi ro mà công ty có thể kiếm được ít tiền
hơn hoặc tệ hơn là mất tiền khi doanh số giảm xuống. Trong một môi trường có doanh
số đang trên đà sụp giảm, một công ty có thể thua lỗ nếu công ty ấy sử dụng chi phí cố
định quá nhiều. Nếu phần lớn chi phí trong công ty chỉ là chi phí biến đổi thì nó sẽ ít
khi nào rơi vào tình trạng trên. Tất cả các doanh nghiệp đều sử dụng chi phí cố định và
chi phí biến đổi. Do vậy việc hiểu được cấu trúc chi phí cố định của doanh nghiệp thật
sự là điều cần thiết khi đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp đó. Một vài chỉ số
thường được sử dụng là :
+ Chỉ số biến lợi nhuận phân phối: Chỉ số này cho biết phần lợi nhuận tăng thêm
từ sự thay đổi của mỗi đô la trong doanh thu. Nếu chỉ số biên phân phối lợi nhuận của
công ty bằng 20%, sau đó nếu có sự sụp giảm $50.000 trong doanh thu thì sẽ có sự sụp
giảm $10.000 trong lợi nhuận. Biến phân phối= 1 - (chi phí biến đổi/ doanh thu)
+ Mức độ ảnh hưởng của đòn bẩy kinh doanh (OLE): Chỉ số đòn bẩy kinh doanh
được sử dụng để dự đoán bao nhiêu phần trăm thay đổi trong thu nhập và tỷ suất sinh
lợi trên tài sản đối với mỗi phần trăm thay đổi trong doanh thu.
Nếu doanh nghiệp có OLE lớn hơn 1 thì sau đó đòn bẩy kinh doanh vẫn được
duy trì. Nếu OLE bằng 1, sau đó tất cả các chi phí là biến đổi, vì vậy cứ 10% gia tăng
trong doanh thu, thì ROA của công ty cũng gia tăng 10%.
Chỉ số ảnh hưởng đòn bẩy kinh doanh ( OLE)= chỉ số Biên lợi nhuận phân phối/
phần trăm thay đổi trong thu nhập (ROA)
+ Mức độ ảnh hưởng đòn bẩy tài chính( FLE): Công ty sử dụng nợ để tài trợ cho
các hoạt động, do đó sẽ tạo nên ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính và gia tăng tỷ suất
sinh lợi cho các cổ đông, thể hiện rủi ro kinh doanh tăng thêm khi doanh thu thay đổi.
FLE = thu nhập hoạt động/ thu nhập thuần.
Nếu một công ty có FLE bằng 1.33 thì, khi thu nhập hoạt động gia tăng 50% sẽ tạo nên
sự gia tăng 67% trong thu nhập ròng.
+ Chỉ số hiệu ứng đòn bẩy tổng thể (TLE) bằng sự kết hợp giữa OLE và FLE ta
có hiệu ứng đòn bẩy tổng thể (TLE).
TLE= OLE x FLE
Trong ví dụ trước, doanh số gia tăng $50.000, OLE bằng 20% và FLE bằng 1.33.
Chỉ số hiệu ứng đòn bẩy tồng thể bằng $13,333, ví dụ, thu nhập ròng sẽ tăng $13.33
cho mỗi $50.000 doanh thu tăng thêm.
• Chỉ số rủi ro tài chính
Các chỉ số về rủi ro tài chính liên quan đến cấu trúc tài chính của công ty, phân
tích việc sử dụng nợ của công ty.
+ Tỷ số nợ trên tổng vốn: Chỉ số này cho thấy tỷ lệ nợ được sử dụng trong tổng
cấu trúc vốn của công ty. Tỷ số nợ trên vốn lớn ám chỉ rằng các cổ đông đang thực hiện
chính sách thâm dụng nợ và và do đó làm cho công ty trở nên rủi ro hơn.
Nợ trên tổng vốn= tổng nợ/ tổng vốn
Trong đó:
Tổng nợ = nợ ngắn hạn + nợ dài hạn
Tổng vốn = tổng nợ + tổng vốn chủ sở hữu.
+ Tỷ số nợ trên vốn cổ phần:
Nợ trên vốn cổ phần= tổng nợ/ tổng vốn cổ phần
• Chỉ số khả năng thanh toán lãi vay:
Chỉ số này cho biết với mỗi đồng chi phí lãi vay thì có bao nhiêu đồng EBIT
đảm bảo thanh toán và được đo lường:
Khả năng TT lãi vay = thu nhập trước thuế và lãi vay ( EBIT)/ lãi vay
• Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định:
Trong doanh nghiệp ngoài lãi vay thì còn một số chi phí tài chính cố định khác
như chi phí thuê tài chính, thuê hoạt động,…
Chỉ số khả năng thanh toán các chi phí tài chính cố định = thu nhập trước các
chi phí tài chính cố định/ chi phí tài chính cố định
• Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay:
Dòng tiền hoạt động điều chỉnh được định nghĩa là dòng tiền hoạt động + chi phí
tài chính cố định + thuế phải trả
Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả lãi vay = dòng tiền hoạt động điều
chỉnh/ chi phí lãi vay
• Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định:
Khả năng tiền mặt đảm bảo chi trả các chi phí tài chính cố định = dòng
tiền hoạt động điều chỉnh / chi phí tài chính cổ định
• Chỉ số chi tiêu vốn :
Chỉ số này cho biết thông tin bao nhiêu tiền mặt được tạo ra từ hoạt động của
doanh nghiệp sẽ được để lại sau khi thực hiện các nghĩa vụ thanh toán của chi tiêu vốn
để phục vụ cho các khoản nợ của công ty. Nếu chỉ số này bằng 2, có nghĩa là công ty
đang hoạt động bằng 2 lần so với những gì nó thật sự cần để tái đầu tư cho doanh
nghiệp tiếp tục hoạt động, phần thặng dư có thể được phân bổ để trả bớt nợ.
Chỉ số chi tiêu vốn = dòng tiền hoạt động/ chi tiêu vốn.
• Chỉ số dòng tiền với nợ:
Chỉ số này cung cấp thông tin cho biết bao nhiêu tiền mặt của công ty tạo ra từ
hoạt động có thể được sử dụng để trả tổng nợ.
Chỉ số dòng tiền so với nợ = dòng tiền từ hoạt động/ tổng nợ
b) Chỉ số tăng trưởng tiềm năng: đây là các chỉ số cực kỳ có ý nghĩa với các cổ
đông và nhà đầu tư để xem xét xem công ty đáng giá đến đâu và cho phép các chủ nợ
dự đoán được khả năng trả nợ của các khoản nợ hiện hành và đánh giá các khoản nợ
tăng thêm nếu có.
Chỉ số tăng trưởng (G) =RR x ROE
Trong đó:
• RR= Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại = 1- ( cổ tức/ tổng thu nhập ròng)
• ROE = thu nhập ròng / tổng vốn chủ sở hữu= thu nhập ròng/ doanh thu *
doanh thu/ tổng tài sản * tổng tài sản/ vốn cổ phần.
3.1.2.6 Hạn chế của các chỉ số tài chính:
Trên đây là một số các chỉ số tài chính cơ bản nhằm đánh giá tình hình hoạt động
kinh doanh cũng như khả năng tài chính và tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp.
Tuy nhiên còn có các hạn chế sau:
• Nhiều công ty lớn hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của các ngành
khác
nhau. Đối với những công ty như thế này thì rất khó tìm thấy một loạt các chỉ số ngành
có ý nghĩa.
• Lạm phát có thể là yếu tố làm cho bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp bị”
bóp méo” đi đáng kể. Trong trường hợp này, lợi nhuận có thể cũng bị ảnh hưởng. Tuy
nhiên phân tích các chỉ số tài chính của một công ty qua thời gian hay qua phân tích so
sánh với các đối thủ cạnh tranh nên được xem xét kỹ càng.
• Yếu tố mùa vụ cũng có thể là sai lệch các chỉ số tài chính. Hiểu yếu tố mùa
vụ
ảnh hưởng như thế nào đến doanh nghiệp có thể giảm thiểu khả năng hiểu sai các chỉ số
tài chính. Ví dụ, hàng tồn kho của doanh nghiệp bán lẻ có thể cao trong mùa hè để
chuẩn bị cung cấp cho khách hàng vào năm học mới. Do đó, khoản phải trả của doanh
nghiệp tăng lên và ROA của nó thấp xuống.
• Các phương pháp kế toán khác nhau cũng có thể bóp méo sự so sánh giữa
các
công ty với nhau, thậm chí là ngay trong 1 công ty.
• Thật khó để nhận định được một chỉ số là tốt hay xấu. Một chỉ số tiền mặt
cao
trong quá khứ đối với công ty tăng trưởng có thể là một dấu hiệu tốt, nhưng cũng có thể
là một dấu hiệu cho thấy công ty đã chuyển qua giai đoạn tăng trưởng và nên được định
giá thấp xuống.
 Vì vậy cần phải hết sức lưu ý rằng các chỉ số đứng một mình thì nó cũng
không có nhiều ý nghĩa. Các nhà phân tích khi sử dụng các chỉ số tài chính cần phải kết
hợp với nhiều yếu tố khác thí dụ như:
• Chỉ số trung bình ngành:
+ So sánh công ty với trung bình ngành là dạng so sánh phổ biến hay gặp.
+ So sánh trong bối cảnh chung của nền kinh tế: Đôi khi cần phải nhìn tổng
thể chu kỳ kinh tế, điều này sẽ giúp nàh phân tích hiểu và dự đoán được tình
hình công ty trong các điều kiện thay đổi khác nhau của nền kinh tế, ngay cả
trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái.
+ So sánh với kết quả hoạt động trong quá khứ của doanh nghiệp : đây cũng
là dạng so sánh thường gặp. So sánh dạng này tương tự như phân tích chuỗi thời
gian để nhìn ra khuynh hướng cho các chỉ số.
3.1.2.7 Thương hiệu, sản phẩm và hệ thống phân phối - dịch vụ :
• Thương hiệu:
+ Trước đây, các sản phẩm thường gánh chịu trách nhiệm về số phận của một
công ty. Nếu hàng hóa bán ra bị sụt giảm, doanh nghiệp sẽ kết luận sản phẩm của họ
đang gặp thất bại. Ngày nay, các công ty không đổ lỗi cho sản phẩm mà là cho thương
hiệu. Các thương hiệu trở nên quý giá hơn những tài sản hữu hình của chúng và cũng có
nghĩa là chúng hoàn toàn có thể đánh mất giá trị này bất cứ lúc nào. Nếu hình ảnh
thương hiệu bị vấy bẩn qua một vụ tai tiếng truyền thông, một sự kiện gây tranh luận
hay ngay cả một lời đồn đại được rao truyền qua Internet thì một công ty cũng có thể
thấy mình đang đối mặt với những nguy hiểm cận kề. Như vậy, việc thiết lập thương
hiệu không còn đơn giản là một cách để tránh khỏi thất bại nữa. Nó là tất cả, các công
ty sống hay chết là tùy thuộc vào sức mạnh thương hiệu của họ.
+ Nhà đầu tư có thể chấp nhận trả giá cao hơn khi mua một loại cổ phiếu có
thương hiệu (ví dụ như ACB…)
 Giá chứng khoán cao hay thấp cũng phụ thuộc vào thương hiệu của loại chứng
khoán đó, nó bắt nguồn công ty nào phát hành, nguồn gốc phát triển ra sao…
3.1.2.8 HĐQT, Ban giám đốc, Ban kiểm soát :
HĐQT, Ban giám đốc, Ban kiểm soát phải là những người có năng lực, công
bằng, rõ ràng và có trách nhiệm trong mọi công tác, phải thống nhất nhau, đặc biệt là
Ban kiểm soát vì chính họ là người cho biết mọi thông tin liên quan đến doanh nghiệp
có chính xác không, thông tin này có thể làm ảnh hưởng xấu hay tốt đến giá cổ phiếu
của doanh nghiệp.
3.2 Phân tích kỹ thuật:
3.2.1 Giới thiệu chung
 Lịch sử hình thành : Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây
hơn 100 năm.
Charles H. Dow (đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan
trọng nhất thị trường Mĩ, năm 1884)

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×