Tải bản đầy đủ

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Những lý luận cơ bản về chi phí sản xuất kinh doanh
và quản lý chi phí sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng
1.1. Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.1. Doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng.
Từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trờng dới sự quản
lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, phần lớn doanh nghiệp đã từng
bớc thích ứng với hoàn cảnh mới, không những thế còn góp phần đáng kể vào việc
ổn định kinh tế xã hội, đa nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng. Điều đó càng chứng
tỏ sức mạnh vật chất của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nớc
trong việc giúp Nhà nớc điều tiết và hớng dẫn nền kinh tế thị trờng theo định hớng
xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh những kết quả bớc đầu, đứng trớc những tình thế mới, thời cơ và
thách thức mới, các doanh nghiệp còn bộc lộ nhiều yếu kém. Mốc thời gian hội
nhập đang đến gần, trong khi đó nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động theo lối chờ
đợi sự bảo hộ của Nhà nớc, cha chủ động chuẩn bị khẩn trơng những biện pháp
sách lợc sản xuất kinh doanh cụ thể cho doanh nghiệp mình để thích ứng với lịch
trình đã và sẽ cam kết.
Rõ ràng doanh nghiệp không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc tìm cách
tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, tăng chất l-
ợng hàng hoá bán ra để tăng sức cạnh tranh, từng bớc chiếm lĩnh thị trờng trong n-

ớc và trên thế giới.
Vì vậy để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng, doanh nghiệp tất yếu
phải đặt công tác quản lý chi phí sản xuất kinh doanh vào vị trí trọng tâm then
chốt. Bởi quản lý chi phí, giá thành sản phẩm sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp đi
vào hoạt động kinh doanh có lãi, thực hiện những mục tiêu đề ra.
1.1.2. Những tác động của môi trờng kinh doanh đến hoạt động của
doanh nghiệp
Trong xã hội nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói
riêng không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại biệt lập. Thực tế hiển nhiên là
khi muốn thành đạt, doanh nghiệp không chỉ phải nắm vững nguồn lực bên trong
mà còn phải nắm vững cả nguồn lực bên ngoài để có thể tận dụng đợc các cơ hội
kinh doanh. Các nguồn lực bên ngoài đó chính là môi trờng kinh doanh.
Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trờng, tác động của môi trờng
kinh doanh đến hoạt động của doanh nghiệp có những nét cơ bản sau:
* Theo pháp luật quy định, các doanh nghiệp có quyền tự chủ trong sản
xuất kinh doanh, tự hạch toán đảm bảo lấy thu bù chi và không có sự phân biệt
các thành phần kinh tế. Điều đó một mặt tạo ra môi trờng kinh doanh bình đẳng
giữa các doanh nghiệp, mặt khác gắn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với
kết quả cuối cùng, khuyến khích các doanh nghiệp năng động hơn trong khai thác
triệt để khả năng tiềm tàng giảm thiểu chi phí, nâng cao hơn nữa hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
* Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn chịu sự chi phối
mạnh mẽ bởi các quy luật của nền kinh tế thị trờng nh quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh.
Bản chất của quy luật giá trị là sự trao đổi ngang giá của sản phẩm hàng
hoá trên thị trờng, giá cả hàng hoá đợc xác định trên cơ sở hao phí lao động xã hội
cần thiết. Từ đó đòi hỏi ngời sản xuất muốn đạt đợc lợi nhuận siêu ngạch phải tìm
ra các biện pháp hạ thấp chi phí cá biệt so với mức chi phí chung của xã hội.
Nắm đợc quy luật cung cầu là điều kiện cơ bản đem lại sự thành đạt cho
doanh nghiệp trong kinh doanh. Vì quy luật cung cầu hớng hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của hx thông qua sức
mua và giá cả trên thị trờng. Ngày nay doanh nghiệp luôn phải tính toán "sản xuất
cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất nh thế nào".
Trong môi trờng kinh doanh mới, doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh để
giành lợi thế so với doanh nghiệp khác. Sự cạnh tranh có thể diễn ra ở mọi lĩnh
vực, song quan trọng nhất là cạnh tranh về chất lợng và giá cả hàng hoá. Bởi
doanh nghiệp nào có chất lợng hàng cao, giá bán hợp lý sẽ chiếm đợc thị trờng
tiêu thụ, tăng uy tín với khách hàng. Muốn có đợc lợi thế này, doanh nghiệp phải
có các biện pháp quản lý sử dụng chi phí tiết kiệm mà chất lợng sản xuất vẫn đảm
bảo, từ đó sẽ linh hoạt trong tăng giảm giá bán nhằm thu đợc lợi nhuận cao nhất.
* Xu hớng toàn cầu hoá, đặc biệt là trong hoạt động kinh tế đem lại cho
doanh nghiệp nhiều cơ hội mới và cả những thách thức mới.
Theo xu hớng quốc tế hoá, ngày càng có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp
hợp tác liên doanh với nớc ngoài để tranh thủ vốn, công nghệ sản xuất mới, mở
rộng thị trờng và nâng cao trình độ quản lý. Doanh nghiệp nào nhanh nhạy dũng
cảm đi đầu trong đổi mới kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới sẽ có khả năng vơn
lên chiếm lĩnh thị trờng, thắng thế trong cạnh tranh, tạo bớc nhảy vọt về chất cho
mình. Điều này rất yếu đòi hỏi doanh nghiệp phải có những tính toán sát sao và
điều cốt yếu là phải xác định đợc mức sinh lời của đồng vốn, phải thấy đợc những
chi phí nào bỏ ra là cần thiết đem lại hiệu quả trong tơng lai, từ đó đa ra những
quyết định đúng đắn, hạn chế rủi ro trong kinh doanh.
* Trong nền kinh tế thị trờng, lợi nhuận là mục tiêu, là khát vọng của nhà
kinh doanh. Tôn trọng pháp luật, tôn trọng ngời tiêu dùng buộc doanh nghiệp phải
cạnh tranh lành mạnh để xác định đợc chỗ đứng trên thơng trờng. Lợi ích kinh tế
trở thành động lực mạnh mẽ, là mục tiêu kinh tế hàng đầu đối với doanh nghiệp
kinh tế. Điều này nghĩa là doanh nghiệp càng tiết kiệm chi phí bỏ ra bao nhiêu thì
lãi thu về càng tăng bấy nhiêu. Do đó các doanh nghiệp ngày nay không ngừng
học hỏi áp dụng các biện pháp quản lý kinh doanh tiên tiến hiện đại phù hợp với
đặc điểm doanh nghiệp mình.
* Phân phối lợi ích kinh tế không chỉ theo lao động mà còn theo giá trị vốn
góp.
Tiền lơng là giá cả hàng hoá sức lao động do đó việc thực hiện nguyên tắc
phân phối theo lao động căn cứ vào số lợng, chất lợng đóng góp để trả lơng. Muốn
giảm chi phí sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải quan tâm tuyển chọn lao
động đầu vào có trình độ tay nghề cao, nhiệt tình với công việc. Mặt khác cơ chế
phân phối lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp phải thể hiện sự quan tâm tới ngời
lao động qua trích lập và sử dụng quỹ khen thởng phúc lợi nhằm tạo nguồn bổ
sung cho ngời lao động.
Trong nền kinh tế thị trờng, vốn là một hàng hoá đặc biệt có giá trị và giá
trị sử dụng. Ngời có vốn có thể bán quyền sử dụng vốn cho ngời thiếu vốn để h-
ởng lãi. Do đó trong phân phối lợi ích kinh tế doanh nghiệp còn phải căn cứ vào
giá trị mức vốn góp của mỗi bên tham gia để phân chia lãi, đồng thời tính toán đ-
ợc chi phí sử dụng mỗi đồng vốn từ đó các nguồn khác nhau để c họn phơng án
hiệu quả nhất. Đây là một đặc trng về môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trờng, ngời có vốn không cần tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất kinh doanh mà chỉ cần góp vốn đầu t để kiểm lời.
Trên đây là một số tác động chủ yếu của môi trờng kinh doanh đến hoạt
động của doanh nghiệp, ngời quản lý càng nắm rõ những ảnh hởng đó càng có cơ
sở để đa ra những quyết định phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp mình.
1.2. Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của chi phí sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra
để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm, cung ứng lao vụ trong một thời kỳ nhất
định.
Hay chi phí doanh nghiệp chi ra cấu thành nên giá trị sản phẩm bao gồm:
C+ V + m.
Trong đó:
C: Hao phí lao động vật hoá, là toàn bộ giá trị t liệu sản xuất đã tiêu hao
trong quá trình tạo ra sản phẩm nh chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ
V: Hao phí lao động sống, là chi phí về tiền lơng, tiền công.. phải trả cho
ngời lao động tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm.
m: Là giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động tạo ra
giá trị sản phẩm, dịch vụ lao vụ.
Chi phí sản xuất có một số đặc điểm sau:
- Chi phí sản xuất phát sinh thờng xuyên và gắn liền với quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí sản xuất tỷ lệ thuận với khối lợng sản xuất sản phẩm.
- Chi phí gắn liền với một thời kỳ nhất định.
Theo cơ chế kinh tế hiện hành, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động nh
một tổ chức sản xuất kinh doanh độc lập tơng đối nên chi phí sản xuất của họ chỉ
gồm 2 bộ phận là C và V. các chi phí này phát sinh có tính chất thờng xuyên, gắn
liền với quá trình sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định có thể là quý,
tháng, năm. Mặc dù những hao phí này gồm nhiều loại, nhiều yếu tố khác nhau
nhng trong điều kiện quan hệ hàng hoá tiền tệ thì các chi phí lao động sống, lao
động vật hoá đều đợc biểu hiện dới hình thái tiền tệ.
Để thu đợc lợi nhuận thì sau quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tổ chức
việc tiêu thụ sản phẩm. Công việc này đòi hỏi những khoản chi phí nhất định nh
chi phí đóng gói, bảo quản, vận chuyển bốc dỡ sản phẩm. Mặtkhác hoạt động
trong môi trờng đầy tính cạnh tranh nh ngày nay, để sản phẩm đợc ngời tiêu dùng
chấp nhận, doanh nghiệp phải bỏ ra chi phí để nghiên cứu thị trờng, chi phí tiếp
thị quảng cáo giới thiệu sản phẩm, thậm chí cả bảo hành sản phẩm. Những khoản
chi này liên quan đến việc lu thông sản phẩm nên gọi là chi phí tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm để thực hiện đợc hoạt
động kinh doanh doanh nghiệp còn phải thực hiện nghĩa vụ với nhà Nhà nớc nh
nộp thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu. Đối với
doanh nghiệp, những khoản thuế trên là những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ
ra trong kinh doanh. Vì thế nó là khoản chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Nh vậy chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản
xuất, chi phí tiêu thụ và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để
thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, nó cho thấy
tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí cũng nh trình độ quản lý của doanh
nghiệp. Lợi nhuận là mục tiêu của hoạt động kinh doanh còn chi phí ảnh hởng
trực tiếp đến lợi nhuận, vì vậy các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến công tác
quản lý chi phí, bởi mỗi đồng chi phí không hợp lý, hợp lệ đều làm tăng giá thành
giảm lợi nhuận. Do đó hạ thấp chi phí sản xuất kinh doanh là điều kiện đảm bảo
cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh, thực hiện tiết kiệm chi phí hợp
lý doanh nghiệp cần tiến hành phân loại chi phí.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
gồm nhiều loại có nội dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng
trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng khác nhau. Để kiểm soát quản lý hiệu
quả chi phí sản xuất kinh doanh phải tiến hành phân loại chi phí theo nhiều tiêu
thức khác nhau.
1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố chi phí.
Theo cách phân loại này, ngời ta dựa vào công dụng kinh tế của chi phí
phát sinh lần đầu (còn gọi là dựa vào hình thái nguyên thuỷ của chi phí phát sinh)
chỉ căn cứ vào tính chất kinh tế của các khoản chi phí. Do đó những chi phí giống
nhau đợc xếp vào một yếu tố:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Là giá trị toàn bộ nguyên vật liệu, nhiên liệu,
động lực mà doanh nghiệp đã sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong
một kỳ nhất định.
Chi phí tiền lơng và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lơng. Là toàn bộ
tiền lơng, tiền công, chi phí có tính chất tiền lơng trả cho ngời tham gia vào quá
trình sản xuất sản xuất sản phẩm.
Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
Chi phí khấu hao tải sản cố định: Là số tiền khấu hao tài sản cố định trích
theo quy định đối với toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các chi phí đã trả cho các tổ chức cá nhân
doanh nghiệp về các dịch vụ thực hiện theo yêu cầu của doanh nghiệp nh tiền
điện, nớc, điện thoại, t vấn, kiểm toán.. và các dịch vụ khác.
- Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí gồm thuế môn bài, thế sử
dụng đất, chi tiếp tân giao dịch.. và các chi phí khác.

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×