Tải bản đầy đủ

PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1 Tín dụng ngân hàng
1.1 Khái niệm về tín dụng
Theo quan điểm của Mác thì “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm
thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất
định sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”.
Tín dụng biểu hiện mối quan hệ vay mượn và hoàn trả. Trong quan hệ này
thể hiện các nội dung sau:
+ Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định,
sau khi khoản vay đó hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải
hoàn trả cho người cho vay phần vốn gốc cộng với khoản phí cơ hội mà người
cho vay mất đi khi bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt hơn.
+ Giá trị được hoàn trả thường lớn hơn lúc hai bên kí kết hợp đồng tín
dụng.
1.2 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến và có vai trò quan trọng
nhất trong nền kinh tế. Đồng thời, nó cũng giữ vị trí chủ chốt trong hoạt động
của mỗi ngân hàng.

Như đã đề cập ở trên: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ
giữa một bên là ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ- với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng vừa là
người đi vay, vừa là người cho vay”
Nói đến tín dụng ngân hàng là đề cập đến cả “đi vay” lẫn “cho vay”.Tuy
nhiên, trên thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động ngân hàng mà hoạt động
nhận tiền gửi và hoạt động cho vay laị được tách riêng, do hai bộ phận chuyên
môn độc lập nhau đảm nhận: bộ phận Nguồn vốn và bộ phận tín dụng. Hoạt
động nhận tiền gửi không được gọi là hoạt động tín dụng mà là hoạt động “huy
động vốn” do bộ phận Nguồn vốn thực hiện. Bộ phận tín dụng chuyên làm
nhiệm vụ cho vay. Như vậy, sẽ phù hợp hơn khi sử dụng định nghĩa sau để
nghiên cứu về tín dụng ngân hàng: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn
bằng tiền tệ, trong đó ngân hàng là người cho vay, còn người đi vay là các tổ
chức, cá nhân trong xã hội, trên nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn lẫn
lãi vào một thời điểm xác định trong tương lai như hai bên đã thoả thuận”. Như
vậy, tín dụng ngân hàng ở đây mang nghĩa hẹp hơn, giới hạn bên cho vay là
ngân hàng. Đây là định nghĩa mang tính chuyên nghiệp ngân hàng hơn là mang
tính lý luận, tránh được sự nhầm lẫn khi nghiên cứu về các nghiệp vụ của ngân
hàng thương mại.
1.3 Bản chất của tín dụng ngân hàng
Bản chất của tín dụng ngân hàng là sự vận động của vốn tiền tệ thông qua các
ngân hàng. Ngân hàng bằng các nghiệp vụ và các hình thức huy động vốn khác
nhau huy động lượng tiền nhàn rôĩ trong lưu thông, tạo thành nguồn vốn lớn. Đồng
thời, ngân hàng sử dụng chính nguồn vốn này để đem cho vay với lãi suất lớn hơn
lãi suất tiền gửi. Là trung gian nên ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và
người cần vốn hay nói cách khác việc sử dụng nguồn vốn trong các doanh nghiệp
nói riêng và trong nền kinh tế nói chung được ngân hàng điều hoà sao cho phù hợp
và đạt hiệu quả cao. Như vậy, ngân hàng bằng hoạt động của mình đã góp phần
vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong xã hội, thông qua chức năng tạo tiền
ngân hàng có thể nhận nguồn tiền gửi tăng trưởng theo bội số tạo tiền. Qua đó,
ngân hàng sẽ được hưởng phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất trả tiền
gửi.
2. Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế
Tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh
tế. Nó thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển, góp phần đẩy nhanh quá
trình tái sản xuất mở rộng. Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hoà lưu thông tiền
tệ và thông qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng có chức năng
huy động vốn và tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sử dụng. Cụ thể:
2.1 Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn để duy trì quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh được liên tục và ngày càng mở rộng.


Sự thiếu vốn là quá trình xảy ra thường xuyên ở các doanh nghiệp. Chính
trong quá trình tập trung và phân phối vốn, tín dụng ngân hàng huy động vốn tạm
thời nhàn rỗi chưa sử dụng của tất cả các thành phần kinh tế và trong dân cư thành
nguồn vốn để cho vay, đã góp phần tích luỹ và điều hoà vốn cho nền kinh tế, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp bù đắp được nhu cầu vốn tạm thời, giúp cho quá
trình sản xuất kinh doanh được liên tục.
2.2 Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy
cạnh tranh trong nền kinh tế và góp phần tạo nên một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Trong môi trường cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh luôn luôn phải chủ động
tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật,
đổi mới công nghệ, tìm kiếm thị trường mới nhằm làm cho hoạt động kinh doanh
đạt hiệu quả cao nhất. Để thực hiện được những việc này làm đòi hỏi phải có một
khối lượng lớn về vốn. Chính tín dụng ngân hàng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho
việc di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác và chỉ có tín dụng ngân hàng
mới có thể đáp ứng được nhu cầu vốn cho việc thay đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh
trong mỗi doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế. Các nhà sản xuất kinh
doanh sẽ dễ dàng chuyển từ những ngành có lợi nhuận thấp sang những ngành có
lợi nhuận cao, tạo điều kiện cho việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận trong nền
kinh tế nhằm hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý.
2.3 Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ đắc lực cho các ngành kinh tế kém
phát triển và những ngành kinh tế mũi nhọn
Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi đối với những ngành kinh tế mũi nhọn cũng
như những ngành kinh tế kém phát triển nhưng cần thiết cho quốc kế dân sinh, tín
dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy những ngành kinh tế này phát triển. Mặt khác
với đặc trưng hoàn trả cả vốn lẫn lãi, tín dụng ngân hàng đã giúp cho việc sử dụng
vốn của các doanh nghiệp có hiệu quả. Chính điều này đã thể hiện sự ưu việt hơn
của tín dụng ngân hàng so với việc ngân sách đầu tư vào lĩnh vực đó, vì khi được
cấp vốn ngân sách người sử dụng thường ít quan tâm tới việc sử dụng vốn một
cách có hiệu quả bởi lẽ nguồn vốn này được cấp phát mà không phải hoàn trả.
2.4 Tín dụng ngân hàng có vai trò quyết định đến sự ổn định lưu thông tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường, việc chú trọng phát triển lưu thông hàng hoá
phải luôn gắn liền với việc ổn định lưu thông tiền tệ. Do tính ưu việt của nó, tín
dụng ngân hàng đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự ổn định lưu thông tiền
tệ. Trước hết ngân hàng là kênh quan trọng để đưa tiền vào lưu thông, có khả năng
kiểm soát được khối lượng tiền trong lưu thông cho phù hợp với lưu thông hàng
hoá. Nếu tín dụng ngân hàng được thực hiện một cách có hiệu quả sẽ đảm bảo khối
lượng tiền cung ứng phù hợp vì khi cho vay, ngân hàng sẽ đưa tiền vào lưu thông
phù hợp với lượng hàng hoá trên thị trường. Mặt khác, với chức năng tạo tiền, các
ngân hàng thương mại có khả năng mở rộng tiền gửi làm tăng khối lượng tiền
trong lưu thông. Vì vậy các ngân hàng trung ương phải sử dụng công cụ của chính
sách tiền tệ để điều tiết hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại như tỷ lệ
dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, hạn mức tín dụng…
2.5 Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với nước ngoài
thúc đảy quá trình mở rộng, tăng cường mối quan hệ hợp tác kinh tế trong khu vực
và trên thế giới
Hiện nay, với xu hướng toàn cầu hoá, nền kinh tế của một quốc gia luôn gắn
liền với nền kinh tế thế giới. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá đã và đang là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng giữa các
nước. Vốn là yếu tố quyết định đầu tiên cho sự hợp tác này, do đó ngân hàng với
khả năng đặc biệt của mình là huy động vốn và cung cấp vốn cho các hoạt động
kinh doanh, thông qua đó góp phần mở rộng và tăng cường mối quan hệ hợp tác
kinh tế với các nước. Như vậy, với những nước đang phát triển như nước ta thì tín
dụng ngân hàng đóng vai trò mở rộng xuất, nhập khẩu hàng hoá đồng thời cũng
nhờ nguồn tín dụng bên ngoài đầu tư phát triển các thành phần kinh tế góp phần
vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.6 Tín dụng ngân hàng có vai trò kiểm soát nền kinh tế.
Xuất phát từ chức năng phân phối vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng cỏ thể kiểm
soát được hoạt động kinh tế trong quá trình huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi để
cho vay. Thông qua việc huy động vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp và
các tầng lớp dân cư trong xã hội và việc tổ chức thanh toán cho khách hàng, ngân
hàng có thể đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất cũng như khả
năng chi trả của khách hàng thông qua biến động số dư trên tài khoản. Trong quá
trình cho vay, ngân hàng phải luôn đề phòng nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, phải
thường xuyên phân tích khả năng tài chính của khách hàng và thường xuyên giám
sát, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của họ để có thể điều chỉnh, tác động
kịp thời khi cần thiết. Vì vậy có thể nói qua hoạt động kinh doanh của ngân hàng
có khả năng kiểm soát được các hoạt động của các doanh nghiệp và các tổ chức
kinh tế góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế hợp lý.
3 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới nhiều hình thức, được nhìn nhận
dưới nhiều góc độ khác nhau theo các tiêu phân loại khác nhau. Trên thực tế, người
ta thường đề cập đến các hình thức tín dụng ngân hàng theo các tiêu thức phân chia
sau:
3.1 Phân loại theo thời gian cấp tín dụng
* Tín dụng có kỳ hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn xác định về ngày trả nợ.
Tín dụng có kỳ hạn, tín dụng trung và dài hạn. Mặc dù hầu hết các nước đều thóng
nhất về điều này nhưng thời gian cụ thể được quy định cho từng loại lại không
hoàn toàn đồng nhất. ở Việt Nam hiện nay, theo quy chế cho vay của tổ chức tín
dụng đối với khách hàng cùng với quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN/ ngày
31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì:
- Cho vay ngắn hạn: Tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu kỳ
sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
- Cho vay trung hạn, dài hạn: thời hạn cho vay được xác định phù hợp với
thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất nguồn
vốn vay của tổ chức tín dụng.
+ Thời hạn cho vay trung hạn : từ trên 12 tháng đến 60 tháng.
+ Thời hạn cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn
hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp
nhân và không quá 15 năm đối với các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
* Tín dụng không kỳ hạn: Là khoản tín dụng được ứng dụng đối với khoản
vay không xác định rõ thời hạn trả nợ.
3.2 Phân loại theo thành phần kinh tê
Theo thành phần kinh tế, ta có thể chia các khoản cho vay thành:
- Cho vay doanh nghiệp Nhà nước.
- Cho vay kinh tế tập thể.
- Cho vay kinh tế tư nhân.
- Cho vay kinh tế cá thể.
- Cho vay kinh tế hỗn hợp.
(Năm thành phần kinh tế trên được xác định trong văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ VI)
Đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN như nước ta thì
việc phân loại này rất có ý nghĩa thực tiễn. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Nhà nước có chính sách khác nhau đối với từng khu vực kinh tế, có tác động lớn
đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng ngân hàng tới các thành phần kinh tế nói
chung. Mặt khác, mỗi thành phần kinh tế lại có những đặc điểm riêng biệt nên
ngân hàng cần phải có thái độ ứng sử rất khác nhau khi cho các chủ thể thuộc các
thành phần kinh tế này vay vốn.
3.3 Phân loại theo phương thức hoàn trả
Theo phương thức hoàn trả thì các khoản cho vay còn có thể được phân chia
theo hai loại: cho vay hoàn trả một lần và cho vay trả góp.
- Cho vay hoàn trả một lần: các khoản vay sẽ được hoàn trả một lần vào thời
gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thế đựoc hoàn trả theo thoả thuận
trong hợp đồng, chẳng hạn theo tháng, theo quý hoặc theo năm.
- Cho vay trả góp: việc hoàn trả được tiến hành theo định kỳ, các khoản này
có thể bằng nhau hay không bằng nhau tuỳ theo thoả thuận và được thực hiện theo
nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng.
Thông thường, các ngân hàng thương mại thường áp dụng phương thức trả
góp đối với các khoản cho vay trung và dài hạn còn phương thức trả một lần
thường áp dụng đối với cho vay ngắn hạn.
3.4 Phân loại theo mức độ đảm bảo
Các ngân hàng có thể đảm bảo hay không có đảm bảo tùy thuộc vào mức độ
tín nhiệm của ngân hàng đôí với khách hàng vay cũng như độ rủi ro của phương án
xin vay.
* Cho vay có đảm bảo: Từ đảm bảo của khách hàng ở đay chỉ được hiểu là
đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba. Cách đảm bảo
này có mục đích giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người vay không trả
được nợ được hay không muốn trả nợ khi đến hạn. Các tài sản được đem thế chấp
thường là các bất động sản trong khi các tài sản được đem cầm cố lại là các động
sản nhỏ, vật tư hàng hóa, chứng khoán và các giấy tờ khác…Yêu cầu cơ bản đối
với các tài sản đem thế chấp, cầm cố là chúng phải có tính thị trường tức là có khả
năng thanh lý được.
* Cho vay không có đảm bảo: Trường hợp khách hàng có tín nhiệm, có tình
hình tài chính vững mạnh và lợi nhuận có được từ dự án xin vay là khả quan thì
ngân hàng có thể cho vay không cần đảm bảo, điều này các ngân hàng ở Việt Nam
gọi là cho vay tín chấp.
Điều này giải thích tại sao các ngân hàng có thể cung cấp cho một số khách
hàng những khoản tín dụng lớn mà không cần đảm bảo, đó là những doanh nghiệp
có quan hệ vay trả sòng phẳng thường xuyên với ngân hàng, có tình hình tài chính
vững mạnh, lợi nhuận tương đối ổn định với hệ thống quản lý có hiệu quả, sản
phẩm dịch vụ được thị trường chấp nhận. Trường hợp này tương tự như việc các
ngân hàng thương mại quốc doanh cho các doanh nghiệp Nhà nước vay không phải
có tài sản thế chấp trong thời gian vừa qua.
3.5 Phân loại theo nguồn phát sinh các khoản tín dụng
- Cho vay trực tiếp: trước khi cấp tiền ra ngân hàng có mối liên hệ trực tiếp
đối với người vay để thẩm định khách hàng, xem xét tình hình người vay…
- Cho vay gián tiếp: là hình thức ngân hàng cho vay thông qua các tổ chức
kinh tế xã hội nhưng không trực tiếp cho vay khách hàng.
Việc phân loại có ý nghĩa giúp ngân hàng đánh giá, lựa chọn cách thức cho
vay cũng như khách hàng tốt nhất, trên cơ sở đó nghiên cứu thể lệ và chính sách tín
dụng phù hợp. Trong thực tế kinh doanh ngân hàngchúng ta thường xam xét chủ
yếu là các loại hình tín dụng ngắn hạn là chủ yếu. Khi phân chia các loại hình tín
dụng ngắn hạn người ta thường nhìn dưới góc độ các “sản phẩm tín dụng” hay còn
được gọi là kỹ thuật cấp tín dụng.
3.6 Phân loại theo kỹ thuật cấp tín dụng
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng dưới các hình thức sau đây:
- Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín
dụng cổ điển, nhưng mãi tới ngày nay vẫn được coi là một trong những kỹ thuật
cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng thương mại. Chiết khấu thương phiếu là
nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu
thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá của
thương phiếu trừ đi số tiền lãi và phí hợp đồng.
- Tín dụng thấu chi: mỗi khách hàng đèu có một tài khoản tiền gửi tại ngân
hang. Về nguyên tắc, khách hàng chỉ được sử dụng số tiền đã gửi trên tài khoản.
Do nhu cầu kinh doanh, khách hàng thường có nhu cầu chi quá số tiền gửi trên tài
khoản. Thấu chi là hình thức cấp tín dụng trước được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một số tiền lớn hơn số tiền gửi
mà khách hàng hiện có.
Những khách hàng có nhu cầu đối với hình thức tín dụng thấu chi là
những doanh nghiệp có nhu cầu chi tiêu thường xuyên và thu nhập bằng tiền gửi
vào tài khoản của ngân hàng, thường là các doanh nghiệp thương mại (mới thường
xuyên có nguồn tiền vào ra).
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng giúp cho khách hàng sử dụng vốn chủ động
và tiện lợi, tuy nhiên cũng gặp nhiều rủi ro. Vì vậy chỉ áp dụng cho những khách
hàng có khả năng tài chính lành mạnh, có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng với
ngân hàng.
- Tín dụng thuê mua (leasing): Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thuê
mua rất phát triển. Tín dụng thuê mua là hình thức cho thuê bất động sản như: nhà
cửa, máy móc thiết bị, xe vận tải, xe chuyên dụng, thiết bị văn phòng…Các chủ thể
thuê có thể là: các ngân hàng trực tiếp, các công ty con của ngân hàng hoặc cac
công ty chuyên doanh thuê mua độc lập thực hiện nghiệp vụ. Ngân hàng cũng có
thể liên kết với các nhà kinh doanh bất động sản để đầu tư dưới hình thức thuê tín
dụng thuê mua.
Khách hàng thuê tiến hành trả dần giá trị tài sản theo hợp đồng đã thoả thuận
với ngân hàng. Khi giá trị cảu tài sản đã trả xong, khách hàng được quyền sở hữu
tài sản đó. Trong thời gian chưa trả hết nợ, tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của
ngân hàng.
Tiền thuê bao gồm giá vốn, chi phí cac loại thuế và lãi kinh doanh, tuỳ từng
loại đối tượng khác nhau mà giá cả thuê mua được tính khác nhau.
Thời hạn thuê mua có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn. Tuy nhiên, thời hạn
trung và dài hạn vẫn là chủ yếu. Tín dụng thuê mua ngắn hạn ít được sử dụng.
- Tín dụng trả góp: là hình thức cấp tín dụng mà khách hàng trả dần số tiền
vay gồm cả gốc và lãi theo định kỳ. Tín dụng trả góp có quan hệ chặt chẽ với việc
mua bán hàng hoá (tái sản). Việc cấp tín dụng được thực hiện trên cơ sở thoả thuận
của ba bên có liên quan: khách hàng mua- người đi vay, công ty bán hàng và ngân
hàng.
Tín dụng trả góp khác về cơ bản với tín dụng thuê mua là tài sản sau khi bán
đã thuộc quyền sở hưũ của người mua và họ có quyền định đoạt. Trong trường hợp
tài sản thuộc đối tượng của tín dụng là bất động sản thì có thể làm thế chấp cho
nhân hàng, khi khách không trả được nợ thì ngân hàng được phát mại tài sản thế
chấp và chỉ thu được phần nợ càn thiếu.
Tín dụng trả góp có ưu điểm là không những nó phù hợp với đặc điểm sử
dụng vốn của vay mà còn kích thích lưu thông hàng hoá, mở rộng sản xuất và tiêu
dùng. Mặt khác, người vay phảI trả một khoản tiền cố định bao gồm cả gốc và lãi
vào những thời điểm xác định nên họ dễ dàng tính được số tiền phải trả từ đó lập
được kế hoach trả nợ.
- Tín dụng bảo lãnh: là một loại tín dụng phát sinh khi ngân hàng nhận thanh
toán cho người bán hàng trong trường hợp người mư không có khả năng thanh toán
số nợ này. Ngân hàng thu dịch vụ phí bảo lãnh, mức thu phụ thuộc vào loại nhu
cầu bảo lãnh và thời gian cho vay. Thời hạn có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn.
Hình thức bảo lãnh của ngân hàng cũng rất phong phú và đa dạng: bảo lãnh tín
dụng, bảo lãnh cung cấp hàng hoá…Tín dụng bảo lãnh phát triển đã đáp ứng kịp
thời nhu cầu thanh toán, chi tiêu của các nhà sản xuất kinh doanh trong các hoạt
động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
- Tín dụng vãng lai: là hoạt động vay mượn thường xuyên giữa khách hàng và
ngân hàng với nội dung thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đặc điểm của hình
thức tín dụng này là ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản vay vừa dư nợ,
vừa dư có (tài khoản vãng lai). Toàn bộ thu nhập của người vay đều được ghi vào
bên có tài khoản, toàn bộ chi tiêu ghi bên nợ tài khoản. Khi không còn số dư có,
khách hàng được sử dụng một khoản tín dụng như đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng với một mức dư nợ tối đa nào đó. Ngân hàng khống chế số dư nợ mà

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×