Tải bản đầy đủ

Các hạn chế trong nghiệp vụ huy động vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay

HVTH: Mai Thanh Hải
Câu (9): Các hạn chế trong nghiệp vụ huy động vốn của các
NHTMVN hiện nay
1. Về phía môi trường vĩ mô:
- Chính sách nhà nước về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (trong đó có ngân hàng
thương mại nhà nước) còn chậm và nhà nước còn can thiệp vào hoạt động kinh doanh của
ngân hàng.
- Yếu tố giá cả tăng mạnh trong 2 năm gần đây gây ra tâm lý e ngại gửi tiền: Người dân e
ngại gửi tiền VND dài hạn vào hệ thống ngân hàng, dẫn đến việc người dân chuyển sang đầu
tư vào bất động sản, hoặc tích trữ dưới dạng USD và vàng
2. Về phia Ngân hàng thương mại:
- Những năm qua ở TP.HCM tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư khá cao, tuy
nhiên tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn lại thấp, mà chủ yếu là nguồn vốn ngắn
hạn.
- Mức độ cạnh tranh trên thị trường vốn ngày càng cao
Việc huy động vốn của các NHTM phải cạnh tranh với các kênh thu hút vốn khác như
tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm nhân thọ, hoạt động đầu tư bất động sản, đầu tư cổ phiếu, trái
phiếu trên thị trường tài chính.
- Nội lực của chính các ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ, nguồn nhân lực hạn chế,
trình độ công nghệ còn chậm tiến so với các nước trong khu vực. Hệ thống dịch vụ
ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa cao.

Công nghệ ngân hàng hiện đại và dịch vụ tuy đã có bước phát triển, nhưng vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu.
Hệ thống dịch vụ ngân hàng trong nước còn đơn điệu, chất lượng chưa cao, chưa định
hướng theo nhu cầu khách hàng và nặng về dịch vụ ngân hàng truyền thống. Các ngân hàng
huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi chiếm 94% tổng nguồn vốn huy động.
Chưa có sự phân đoạn thị trường để có những sản phẩm huy động vốn, sản phẩm dịch
vụ riêng cho từng nhóm khách hàng riêng biệt. Một chính sách marketing tốt phải đưa ra
chiến lược quản lý khách hàng, trong đó việc thực hiện phân đoạn thị trường theo các tiêu chí
như vùng địa lý, các yếu tố nhân khẩu học, các yếu tố tâm lý, các yếu tố thuộc thói quen hành
vi… Không phải mọi khách hàng đều có nhu cầu như nhau đối với các dịch vụ ngân hàng và
mang lại lợi nhuận như nhau cho ngân hàng, nên cần có sự phân đoạn để có những chính
sách chăm sóc khách hàng phù hợp. Các sản phẩm hiện nay mà các ngân hàng thương mại, tổ
1
HVTH: Mai Thanh Hải
chức tín dụng cung cấp ra thị trường mang tính chất đại trà cho tất cả các khách hàng, không
có sự phân biệt tới từng nhóm đối tượng.
- Dựa vào công cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút khách hàng. Tuy nhiên, công cụ
này cũng chỉ có tác dụng ở mức giới hạn nhất định.
Do không thể đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng đã khiến các ngân hàng
thương mại Việt Nam chủ yếu dựa vào công cụ lãi suất để cạnh tranh thu hút khách hàng.
Tuy nhiên, công cụ này cũng chỉ có tác dụng ở mức giới hạn nhất định.
Sức ép cạnh tranh đã khiến các ngân hàng gần như đồng loạt công bố tăng lãi suất huy
động vốn. Đáng lo ngại trước tình trạng lãi suất đang chạm sát với giới hạn sinh lãi, khả năng
an toàn các các ngân hàng và tác động tới tăng trưởng kinh tế.
- Những ngân hàng thương mại trong nước hiện đang nắm giữ khoảng gần 90% thị
phần. Nhưng đây không phải là lợi thế của chúng ta mà chỉ là kết quả tất yếu của sự
bảo hộ trong suốt thời gian qua
3. Về phía khách hàng:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế dù được duy trì ở mức cao trong nhiều năm nhưng thu nhập
quốc dân bình quân đầu người vẫn còn thấp, tiết kiệm và tích lũy trong dân cư tuy đã tăng
nhưng còn ở mức khiêm tốn và dân cư vẫn chưa thực sự tin tưởng khi gửi tiết kiệm.
Chẳn hạn như: Nguồn vốn huy động của các ngân hàng chỉ tập trung ở đô thị. Trong khi đó,
thị trường nông thôn còn bỏ ngỏ, nhưng nơi đây nguồn vốn có nhiều tiềm năng, nhất là mấy
năm gần đây nông thôn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhiều trang trại, các hộ nuôi thủy sản,
trồng cây ăn trái đặc sản, chăn nuôi... mỗi năm thu nhập hàng trăm triệu đồng và thậm chí cả
tỷ đồng.
Có khoản tiền lớn trong tay, họ xây dựng nhà, mua sắm phương tiện sinh hoạt, mua
vàng cất trữ, không gởi tiền vào ngân hàng nhưng đến khi cần vốn đầu tư cho sản xuất lại
tiếp tục vay ngân hàng. Như tỉnh Trà Vinh có hơn 2.300 trang trại vay ngân hàng gần 200 tỉ
đồng, có nhiều trang trại lãi ròng hàng trăm triệu nhưng hỏi ra không có mấy trang trại gởi
tiền tiết kiệm ngân hàng. Không chỉ riêng Trà Vinh mà là thực trạng chung của các tỉnh
ĐBSCL. Các tỉnh địa bàn nông thôn sâu lại càng khó huy động vốn. Nhiều xã vùng sâu, vùng
xa thì nhu cầu vay vốn lớn, nhưng ngược lại huy động vốn rất ít.
Qua thực tế trên cho thấy hiện nay, các ngân hàng chưa tiếp cận các nguồn vốn ở nông
thôn, chưa hướng người dân thay đổi tập quán cất vàng chuyển sang gởi tiền tiết kiệm tại các
ngân hàng.
2
HVTH: Mai Thanh Hải
3

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×