Tải bản đầy đủ

Cấp cứu một số tai nạn đường hô hấp

CẤP CỨU MỘT SỐ TAI NẠN ĐƯỜNG HÔ HẤP
1. ngạt
Ngạt là một tình trạng nguy hiểm có thể dẫn đến tử vong vì khi bị ngạt thì các tổ chức tế bào không
được cấp đủ oxy. Khoảng thời gian này sẽ kéo dài hơn nếu nhiệt độ trung tâm của cơ thể thấp
hơn bình thường. Ví dụ như trong trường hợp ngâm trong nước lạnh. Do vậy khi bị ngạt phải
được tiến hành cấp cứu ngay.
1.1. Nguyên nhân gây ngạt
1.1.1 Do đường thớ và phổi bị ảnh hưởng.
Ðường thở bị tắc nghẽn do tụt lưỡi ở MỘT NẠN NHÂN BẤT TỈNH, HOẶC DO THỨC ăn, chất nôn,
hoặc dị vật khác lọt vào đường thở, hoặc do sự sưng nề các TỔ CHỨC Ở HẦU HỌNG VÌ BỊ
nhiễm khuẩn, bỏng, dị ứng, nhiễm độc.
Nghẹt thở vì đường hô hấp bị bịt kín do gối mềm, túi nhựa, vùi lấp.
- Dịch ở trong đường dẫn khí.
- Chèn ép khí quản do treo cổ hoặc thắt cổ
- Chèn ép lồng ngực do bị đất hoặc cát chèn, bị chèn ép vào tường, rào chắn hoặc sức ép từ một
đám đông.
- Tổn thương thành ngực như trong trường hợp chính thức có mảng sườn di động
- Co giật làm cho hô hấp không đủ.
1.1.2. Nguyên nhân ảnh hưởng tới não hoặc thần kinh điều khiển hô hấp
- Ðiện giật
- Ngộ độc

- Liệt do tai biến mạch máu não hoặc tổn thương tủy sống.
1.1.3. Nguyên nhân làm ảnh hưởng lượng oxy trong máu
- Thiếu oxy trong không khí thở vào: Loại này thường gặp khi trong phòng chứa đầy khói khí đốt,
hoặc trong các đường hầm, hầm nhỏ.
- Sự thay đổi áp suất khí quyển: khi lên cao hoặc lặn sâu.
1.1.4. Nguyên nhân làm cản trở sự vận chuyển và sử dụng oxy trong cơ thể.
Nguyên nhân cản trở sự vận chuyển oxy: Trong trường hợp ngộ độc oxyd carbon (CO).
Nguyên nhân cản trở sự sử dụng oxy: Trong trường hợp ngộ độc Cyanide.
1.2. Dấu hiệu và triệu chứng chung.
- Khó thở: Tăng về tần số và biên độ
- Thở dốc
- CÓ THỂ CÓ BỌT MÀU HỒNG Ở MIỆNG
- TÍM TÁI MÔI VÀ MÓNG TAY
- ý thức lú lẫn
- Có thể bất tỉnh
- Có thể ngừng thở
1.3. Xử lý cấp cứu
Mục đích: phục hồi và duy trì sự hô hấp bằng cách nhanh chóng làm mất nguyên nhân gây ngạt
hoặc di chuyển nạn nhân thoát khỏi nguyên nhân gây ngạt. Tiến hành hô hấp nhân tạo và chuyển
nạn nhân tới cơ sở y tế nếu cần thiết.
Hành động cấp cứu:
- Làm mất nguyên nhân gây ngạt và mở thông đường thở
- Tiến hành hô hấp nhân tạo ngay nếu nạn nhân ngừng thở
- ĐẶT NẠN NHÂN Ở tư thế hồi phục khi tuần hoàn và hô hấp đã hồi phục trở lại.
- Kiểm tra tần số hô hấp, mạch và mức độ tỉnh táo 10 phút 1 lần.
- Chuyển nạn nhân lên cơ sở y tế càng sớm càng tốt.
2. CấP CứU NGHẹT THở.
Nghẹt thở xảy ra khi có sự cản trở hay tắc nghẽn ở bên ngoài ngăn không cho không khí đi vào
đường hô hấp như trong trường hợp trẻ con còn bé, người bất tỉnh hoặc liệt toàn thân bị một chiếc
túi nhựa áp vào mặt hoặc bị úp mặt trên một chiếc túi nhựa hay gối mềm hoặc trong trường hợp bị
đất cát sụt lở vùi lấp.
Nghẹt thở cũng xảy ra khi bị nhốt hoặc bị kẹt một nơi kín.
2.1. Dấu hiệu và triệu chứng.
- Dấu hiệu và triệu chứng chung của ngạt
- CÓ BẰNG chứng các nguyên nhân gây ngạt, ví dụ đồ vật bịt kín mũi miệng...
2.2. Xử trí cấp cứu
2.2.1. Mục đích: Phục hồi sự cung cấp khí cho nạn nhân, hô hấp nhân tạo nếu cần thiết và chuyển
nạn nhân đến cơ sở y tế.
2.2.2. Hành động
- Nhanh chóng vứt bỏ vật gây cản trở hô hấp hoặc chuyểnnạn nhân tới nơi không khí trong lành.
- Nếu nạn nhân tỉnh táo và thở bình thường thì phải động viên an ủi làm cho nạn nhân tin tưởng và
theo dõi sát nạn nhân.
- Ðặt nạn nhân nằm tư thế hồi phục nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường.
- Nếu nạn nhân khó thở hoặc ngừng thở thì tiến hành hô hấp nhântạo ngay.
- Thu xếp chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị nếu nghi ngờ về tình trạng nạn nhân.
3. cấp cứu thắt cổ và bóp cổ
áp lực đè lên phía bên ngoài của cổ do thắt cổ hoặc bóp cổ ép đường thở lại chặn đường thở lại
và chặn đường không khí vào phổi. Ðường thở bị ép lại có thể là do chủ ý (tự tử) hoặc do người
khác hoặc do tai nạn như trường hợp cravat bị cuốn vào máy.
3.1. Triệu chứng và dấu hiệu
- Triệu chứng và dấu hiệu chung của ngạt
- Cổ và mặt bị ứ máu, tĩnh mạch nổi phồng.
- Nhìn rõ tang vật (dây treo cổ, cravat vẫn còn cuốn quanh cổ) hoặc tang vật bị lẫn trong các nếp
da ở cổ (trường hợp dây thắt cổ là dây kim loại mảnh).
- Còn dấu vết quanh họng hoặc cổ nếu vật thắt đã được lấy đi.
Hình 187. Người vẫn còn đang bị treo
Hình 188. Cravat cuốn quanh cổ
3.2. Xử trí cấp cứu
3.2.1. Mục đích: Nhanh chóng tháo bỏ nguyênnhân gây thắt đường thở ngay cả khi không còn dấu
hiệu của sự sống. Tiến hành cấp cứu hồi sinh ngay nếu cần thiết. Nhanh chóng chuyển nạn nhân
tới cơ sở điều trị.
Hình 189. Ðỡ nạn nhân và cắt dây
3.2.2. Hành động
- Cắt bỏ ngay vật gây thắt quanh cổ. Nâng đỡ cơ thể nếu vẫn còn đang bị treo lơ lửng. Khi cắt dây
thắt phải cắt ở phía đuôi của nút thắt để giữ lại nút thắt, đây là một bằng chứng có ích.
- ĐẶT NẠN NHÂN NẰM Ở tư thế hồi phục nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường.
- Tiến hành hô hấp nhân tạo nếu nạn nhân khó thở hoặc ngừng thở và tiến hành hồi sinh tim phổi
nếu nạn nhân ngừng tim.
- Chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị.
4. CấP CứU CHếT đuối
Chết đuối gây ngạt do nước tràn vào phổi hoặc do nước làm cho họng bị co thắt do đó chít hẹp
đường dẫn khí (chết đuối khô) khi cấp cứu chết đuối không được để mất thời gian vào việc lấy
nước ra khỏi phổi nạn nhân.
Tình trạng sung huyết phổi có thể xảy ra rất nhanh chóng nhưng tình trạng này có thể kéo dài vài
giờ trước khi nhìn thấy rõ ràng (ho ra bọt màu hồng). Do vậy tất cả các trường hợp chết đuối sau
khi sơ cứu xong đều phải chuyển ngay đến bệnh viện dù cho tình trạng nạn nhân có vẻ gần như
bình thường.
Nếu nạn nhân đã bị ngâm lâu trong nước lạnh thì rất có thể bị hạ thân nhiệt, do đo trong trường
hợp này phải chú ý giữ ấm cho nạn nhân.
4.1. Dấu hiệu và triệu chứng
- Có dấu hiệu và triệu chứng chung của ngạt.
- Có bọt màu hồng quanh môi, miệng và lỗ mũi.
4.2. Xử trí cấp cứu
Nhanh chóng lấy những vật gây cản trở hô hấp từ miệng nạn nhân ví dụ như rong rêu và tiến hành
hô hấp nhân tạo ngay. Ngay cả khi còn ở dưới nước nước thì cũng có thể tiến hành hô hấp nhân
tạo nếu cần thiết.
Kỹ thuật tiến hành như sau:
Nếu nước nông không ngập đầu người cứu: người cứu luồn một tay dưới lưng nạn nhân để nâng
nạn nhân lên. Dùng tay kia đỡ đầu và bóp mũi nạn nhân rồi tiến hành hô hấp miệng – miệng.
- Khi đã có thể đặt nạn nhân trên một mặt phẳng chắc chắn, hãy kiểm tra lại hô hấp và nhịp tim
của nạn nhân. Tiếp tục hồi sinh tim phổi hoặc hô hấp nhân tạo nếu cần thiết.
- Ðặt nạn nhân ở tư thế hồi phục ngay sau khi nạn nhân bắt đầu thở trở lại.
- Giữ ấm cho nạn nhân, nếu có điều kiện thì tháo bỏ quần áo ướt rồi lau khô và mặc quần áo khô
hoặc đắp chăn hay khăn cho nạn nhân. Xử trí nếu có hạ thân nhiệt xảy ra (xem bài cấp cứu hạ
thân nhiệt).
- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện ngay. Phải coi đây là trường hợp cấp cứu ưu tiên và phải theo
dõi sát trong quá trình vận chuyển.
5. CấP CứU NGộ ÐộC OXYD CARBON.
Oxyd carbon là một khí không màu, không mùi, là một khí độc vì khi oxyd carbon được hấp thụ vào
máu nó sẽ chiếm chỗ của oxy trong máu mà oxyd carbon được hấp thụ vào máu lại nhanh hơn
nhiều so với oxy. Khí oxyd carbon đã được hấp thụ vào máu nó nhanh chóng gắn với hemoglobin
của hồng cầu và tạo thành cacboxyhemoglobin là một hợp chất rất bền vững do vậy khi cấp cứu
những nạn nhân bị ngộ độc oxyd carbon phải rất kiên trì vì phải hô hấp nhân tạo rất lâu mới đẩy
được hết oxyd carbon ra khỏi cơ thể. Oxyd carbon được sinh ra chủ yếu từ sự đốt cháy dầu không
hoàn toàn và từ ống xả của các động cơ chạy bằng xăng dầu. Sự nguy hiểm sẽ tăng lên nếu hệ
thống ống xả bị hư hỏng hoặc khi để động cơ hoạt dộng trong một chỗ kín.
Chỉ vào một phòng đầy khí để cấp cứu nạn nhân khi biết chắc rằng không có sự nguy hiểm cho
người cứu nữa và có thể thoát ra khỏi nơi đó một cách dễ dàng. Phải đảm bảo chắc chắn rằng
người cứu có sự hỗ trợ từ phía sau để có thể thoát ra ngoài nhanh chóng khi cần thiết (dùng dây
dài buộc một đầu vào lưng người cứu, đầu kia buộc vào bên ngoài hoặc do một người bên ngoài
giữ. Trong những trường hợp có người ở BÊN NGOÀI GIỮ ÐẦU DÂY THÌ PHẢI QUY ÐỊNH TÍN
HIỆU CẤP CỨU VỚI NGƯỜI Ở bên ngoài để khi người này nhận được tín hiệu cấp cứu theo quy
định thì sẽ kéo dây để đưa người cứu ra khỏi phòng được nhanh).
5.1. Dấu hiệu và triệu chứng:
Dấu hiệu và triệu chứng chung của ngạt
- Người bị nạn có thể kêu nhức đầu
- Da có thể bình thường nhưng sẽ hồng rực lên (như màu hoa anh đào) khi nồng độ oxyd carbon
trong máu tăng lên.
- Người bị nạn có thể rối loạn ý thức (lú lẫn, lộn xộn) và mất khả năng hợp tác.
- Có thể tiến triển dần đến bất tỉnh.
5.2. Xử trí cấp cứu
5.2.1. Mục đích
Cắt đứt nguồn thải ra khí và/hoặc cố gắng đưa nạn nhân ra khỏi nơi đó nếu không nguy hiểm cho
người cứu. Tiến hành hồi sinh ngay nếu cần thiết thu xếp và chuyển ngay nạn nhân tới bệnh viện.
5.2.2. Hành động
- Mở các cửa ra vào và kéo nạn nhân tới nơi an toàn.
- Ðặt nạn nhân ở tư thế hồi phục nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng vẫn thở bình thường.
- Nếu nạn nhân khó thở hoặc ngừng thở thì phải tiến hành hô hấp nhân tạo ngay.
- Kiểm tra nhịp thở, mạch và mức độ đáp ứng 10 phút một lần.
- Chuyển nạn nhân tới bệnh viện càng sớm càng tốt.
6. cấp cứu sặc

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×