Tải bản đầy đủ

Phát triển công nghiệp hỗ trợ của các nước Đông Á và bài học cho Việt Nam.doc

Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................................................. 2
KẾT LUẬN .................................................................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................................. 80
1 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam hiện nay, công nghiệp hỗ trợ không còn là thuật ngữ quá xa
lạ với các nhà hoạch định chính sách cũng như những người làm kinh tế bởi tầm
quan trọng của CNHT đã được khẳng định mạnh mẽ. Việt Nam cũng đã có một
số bước tiến quan trọng trong việc tăng cường phát triển CNHT. Năm 2003,
Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo xúc tiến “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật
Bản” nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp Việt Nam, trong đó hạng mục đầu tiên được đề cập phát triển là
CNHT. Tuy nhiên, CNHT Việt Nam vẫn bị đánh giá là một ngành chậm phát
triển, chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất lắp ráp. Là một nước đang phát
triển, Việt Nam hướng tới công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, theo đó
nhiều ngành công nghiệp chế tạo, lắp ráp có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Sự phát
triển của ngành sản xuất lắp ráp kéo theo nhu cầu lớn về các sản phẩm hỗ trợ,

đặc biệt trong các ngành ô tô - xe máy, điện - điện tử, … Điều này đặt ra cho
Việt Nam bài toán khó trong việc giải quyết nhu cầu sản phẩm CNHT mà phần
lớn hiện nay đang phải nhờ vào nhập khẩu. Với nguồn vốn hạn hẹp, trình độ
nhân công tương đối thấp, Việt Nam nói riêng, các nước đang phát triển nói
chung phải làm thế nào để có thể phát triển một ngành công nghiệp đòi hỏi kỹ
thuật cao, vốn lớn như CNHT? Thực tế cho thấy,tại một số nước Đông Á rất
thành công trong việc phát triển CNHT như Trung Quốc,Nhật Bản ,Hàn Quốc …
Vậy họ đã làm thế nào và bài học kinh nghiệm gì có thể rút ra cho Việt Nam
trong việc phát triển CNHT chính là câu hỏi người viết muốn đi tìm câu trả lời
2 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
khi chọn đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình: “Phát triển công
nghiệp hỗ trợ của các nước Đông Á và bài học cho Việt Nam”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của khóa luận tốt nghiệp này là xem xét một số kinh nghiệm về
phát triển CNHT ở một số nước Đông Á đã thành công, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm, áp dụng vào phát triển CNHT Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Làm rõ cơ sở lý luận về CNHT ở Việt Nam.
• Xem xét những chính sách tại một số nước đã thành công trong việc phát
triển CNHT như :Nhật Bản, Trung Quốc
• Trên cơ sở phân tích các chính sách và hiệu quả của chúng, đề xuất một số
giải pháp nhằm phát triển CNHT tại Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: ngành CNHT của một số nước trên thế giới như
Trung Quốc, Nhật Bản
• Phạm vi nghiên cứu: Để có được cái nhìn bao quát, người viết đã thu thập
số liệu từ cuối những năm 1990 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
3 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Khoá luận được thực hiện với nhiều phương pháp:
• Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích dự báo… được sử
dụng trong việc so sánh số liệu đạt được của năm nay so với năm khác, để
nhận thấy được xu hướng phát triển của các ngành CNHT.
• Phương pháp chuyên gia nhằm tham khảo ý kiến của các chuyên gia về
CNHT để đưa ra các nhận định, rút ra các kết luận có tính chính xác hơn.
5. Bố cục của khóa luận
Khóa luận ngoài phần Mở đầu, Kết luận và các phụ lục đi kèm, nội dung
chính được chia làm 3 chương:


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
Chương 2: KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN CNHT
Chương 3: VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CNHT TẠI VIỆT NAM
Do vấn đề còn khá mới mẻ, kiến thức và thời gian nghiên cứu còn nhiều
hạn chế nên trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu không tránh khỏi những sai
sót. Người viết rất mong sẽ nhận được sự đóng góp quý báu từ thầy cô và các
bạn để có thể hoàn thiện hơn đề tài này.
Người viết xin chân thành cảm ơn PGS. TS. Bùi Thị Lý đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ để người viết có thể hoàn thành đề tài này.
4 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
I. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ
1. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ của một số nước trên thế giới
Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (CNHT – supporting industry), hay còn gọi
là công nghiệp hỗ trợ đã được sử dụng rất rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới,
đặc biệt là những nước công nghiệp phát triển nhưng khái niệm về CNHT vẫn
chưa có sự thống nhất.
Thuật ngữ CNHT được cho là có nguồn gốc từ Nhật Bản, sau này được du
nhập và sử dụng rộng rãi vào các nước châu Âu, châu Mỹ. Tài liệu chính thức sử
dụng thuật ngữ này là “Sách trắng về Hợp tác kinh tế” năm 1985 của Bộ Công
nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI)
1
đã chính thức đưa ra khái niệm
CNHT, theo đó, CNHT được dùng để chỉ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs)
có đóng góp trong việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước châu Á
trong trung và dài hạn hay các SMEs sản xuất linh phụ kiện
2
. MITI đã đưa ra
khái niệm CNHT với mục đích chính là nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp
hóa và phát triển các SMEs ở các nước ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4
3
. Sau đó,
năm 1993, trong khuôn khổ Kế hoạch phát triển châu Á mới (New AID plan),
Nhật Bản đã giới thiệu thuật ngữ CNHT tới các nước châu Á, lúc đó, CNHT
được định nghĩa là các ngành công nghiệp cung cấp những gì cần thiết như
nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hóa cơ bản cho các ngành công
nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)
4
. Định nghĩa này đã mở rộng
1
Từ 1/2001 đổi tên thành METI – Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản
2
Nguyễn Thị Xuân Thúy (2006), CNHT – Tổng quan về khái niệm và sự phát triển, Diễn đàn phát triển Việt
Nam (VDF), Hà Nội
3
Bao gồm các nước: Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan
4
Kenichi Ohno (Chủ biên). (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” (Tập 1), Diễn đàn phát triển
Việt Nam (VDF), Hà Nội. Có trên địa chỉ www.vdf.org.vn
5 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
phạm vi của ngành CNHT, từ các SMEs thành các ngành công nghiệp sản xuất
hàng hóa trung gian và hàng hóa tư bản, tránh việc đồng nhất CNHT với SMEs
như ở một số nước châu Âu và châu Mỹ. Hơn nữa, phạm vi của CNHT đã tính
tới cả nguyên liệu thô và nó cũng liên quan nhiều hơn tới sản xuất theo kiểu lắp
ráp, nhấn mạnh vào các ngành công nghiệp lắp ráp chính: ô tô, điện và điện tử.
Hình 1: Ngành công nghiệp hỗ trợ (theo MITI)
Nguồn: Hiệp hội doanh nghiệp Hải ngoại Nhật Bản JOEA
(Japanese Oversea Enterprise Association)
Ngoài ra, trên thế giới còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CNHT,
mỗi khái niệm ở tùy từng nước lại có sự chênh lệch tương đối trong phạm vi
từng ngành CNHT. Mỗi khái niệm được đưa ra đều nhằm mục đích đảm bảo sự
tương thích giữa định nghĩa đó với mục tiêu của chính sách của mỗi quốc gia.
6 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Các giáo sư trường Đại học Waseda, Nhật Bản cho rằng CNHT là khái
niệm để chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản
xuất các thành phẩm chính, cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản
phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, … và cũng có thể bao gồm cả những
sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
Khái niệm do giáo sư Michael E.Porter của Đại học Havard đưa ra vào
năm 1990 về “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ”, cho rằng CNHT thường được
đánh giá là một trong 4 yếu tố tạo nên lợi thế so sánh của một quốc gia. CNHT
tạo ra lợi thế cho các ngành công nghiệp về sau bởi chúng cung cấp nhiều loại
đầu vào rất quan trọng nhằm tạo ra sự đổi mới trong sản xuất và tạo ra những
thuận lợi cho việc quốc tế hóa sản phẩm.
Bộ năng lượng Mỹ thì cho rằng CNHT là những ngành công nghiệp cung
cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng
được đưa ra thị trường.
Thuật ngữ “công nghiệp phụ thuộc” được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ từ
đầu những năm 1950. Thuật ngữ này được định nghĩa trong Luật (Phát triển và
Điều chỉnh) Công nghiệp năm 1951 là “hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có
liên quan đến hoặc có dự định liên quan đến việc chế tạo hoặc sản xuất linh kiện,
phụ tùng, cụm linh kiện, công cụ hoặc hàng hóa trung gian, hoặc cung cấp dịch
vụ,…”
5
Còn ở Thái Lan, CNHT được hiểu là Các doanh nghiệp sản xuất linh phụ
kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngành công
nghiệp sản xuất ô tô, máy móc và điện tử.
6
Như vậy, rất nhiều định nghĩa về CNHT đã được đưa ra trên thế giới. Mặc
dù có sự khác nhau tương đối trong phạm vi ngành nhưng các khái niệm về
5
Nguyễn Thị Xuân Thúy (2006), CNHT – Tổng quan về khái niệm và sự phát triển, Diễn đàn phát triển Việt
Nam (VDF), Hà Nội
6
Nguyễn Thị Xuân Thúy (2006), CNHT – Tổng quan về khái niệm và sự phát triển, Diễn đàn phát triển Việt
Nam (VDF), Hà Nội
7 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
CNHT đều có nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành CNHT – một ngành sản
xuất đầu vào cho thành phẩm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam hiện nay khó có thể áp dụng bất kỳ
khái niệm sẵn có nào về CNHT của nước ngoài vì sự khác biệt về điều kiện kinh
tế cũng như trình độ phát triển. Việt Nam cần phải lựa chọn cho mình một định
nghĩa phù hợp nhất với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay.
2. Khái niệm công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam
Ở Việt Nam, thuật ngữ CNHT được chính thức sử dụng khá muộn, từ năm
2003 khi chúng ta đang chuẩn bị tiến tới kí kết “Sáng kiến chung Việt Nam –
Nhật Bản” giai đoạn I (2003 – 2005).
Trước đây, trong thời kỳ kinh tế tập trung, mặc dù ngành CNHT cũng có
một vai trò hết sức quan trọng trong chính sách phát triển công nghiệp nặng của
Việt Nam, nhưng Việt Nam lại không chú ý tới khái niệm CNHT vì lúc này các
linh phụ kiện dùng cho các sản phẩm cuối cùng của ngành công nghiệp nặng
(như máy nông nghiệp, xe đạp, ô tô, …) đều được sản xuất trong cùng một
doanh nghiệp theo cơ cấu tích hợp chiều dọc. Tới khi thuật ngữ CNHT được giới
thiệu rộng rãi ở các nước châu Á tại các cuộc họp của Tổ chức Năng suất châu Á
(APO – Asian Productivity Organization) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –
Thái Bình Dương (APEC) thì Việt Nam lại đang loay hoay trong giai đoạn đầu
của quá trình Đổi mới, cho nên một lần nữa Việt Nam lại không dành sự quan
tâm thích đáng cho ngành công nghiệp này.
Đến giữa những năm 1990, khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng
nhanh, đặc biệt là trong các ngành sản xuất lắp ráp, các nhà đầu tư nước ngoài đã
vấp phải vấn đề rất lớn về nguồn cung cấp các sản phẩm đầu vào cho họ. Chính
vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật Bản đã nêu vấn
đề này tới Chính phủ Việt Nam và đề nghị Chính phủ có những biện pháp thích
8 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
hợp để phát triển CNHT, giải quyết vấn đề cho các nhà sản xuất lắp ráp. Chính
vì vậy, “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” đã được chính thức ký kết vào
tháng 4 năm 2003, theo Bản kế hoạch hành động triển khai sáng kiến chung đã
được thông qua sau đó gồm 44 hạng mục lớn, hạng mục đầu tiên chính là nhằm
phát triển CNHT ở Việt Nam.
Mặc dù hiện nay Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa cụ thể, chính thức nào
về CNHT trong các văn bản pháp lý, nhưng theo các chuyên gia của Viện nghiên
cứu chiến lược và chính sách công nghiệp, Bộ Công nghiệp thì: “CNHT là hệ
thống các công nghệ và cơ sở sản xuất chuyên đảm nhận việc cung cấp, đảm bảo
thiết kế nguyên vật liệu, bán thành phẩm và linh kiện… phục vụ cho việc lắp ráp
đồng bộ các sản phẩm công nghệ cuối cùng.”
Theo chuyên gia của Cục xúc tiến thương mại Nhật Bản tại Hà Nội,
Kyoshiro Ichikawa, trong Báo cáo nghiên cứu về ngành CNHT tại Việt Nam đã
nhấn mạnh rằng: “Ngành CNHT cần được coi là một cơ sở công nghiệp hoạt
động với nhiều chức năng để phục vụ một số lượng lớn các ngành lắp ráp, chứ
không nên coi nó là ngành thu thập ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không
liên quan. Bên cạnh đó, ngành CNHT không chỉ sản xuất linh kiện mà quan
trọng hơn là thực hiện các quá trình sản xuất hỗ trợ việc sản xuất các bộ phận và
kim loại, ví dụ như cán, ép, dập khuôn.” (Xem Hình 2, trang 6).
Như vậy, qua một số định nghĩa về CNHT, có thể hiểu một cách cơ bản
nhất CNHT là nhóm các hoạt động công nghiệp làm ra các sản phẩm có vai trò
hỗ trợ cho việc sản xuất ra thành phẩm chính. Cụ thể hơn nó bao gồm các sản
phẩm là linh phụ kiện, phụ liệu, phụ tùng, bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm,…
hoặc cũng có thể bao gồm những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ
chế. Do đó, CNHT có vai trò to lớn đối với sự phát triển của các ngành công
nghiệp chính yếu khác.
9 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Hình 2: Ngành công nghiệp hỗ trợ
Nguồn: Kyoshiro Ichikawa – Cục xúc tiến thương mại Nhật Bản tại Hà Nội –
“Báo cáo điều tra xây dựng tăng cường ngành CNHT ở Việt Nam” (2004)
II. Phạm vi của ngành công nghiệp hỗ trợ
Các định nghĩa khác nhau về CNHT sẽ dẫn đến những phạm vi ngành
khác nhau cũng như chính sách khác nhau để điều chỉnh ngành này. Hình sau
đây minh họa ba khái niệm về CNHT và ba phạm vi tương ứng của ngành
CNHT.
Hình 3: Các phạm vi của CNHT
10 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Nguồn: Kenichi Ohno (2006), Xây dựng công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam
Khái niệm hạt nhân trong mô hình trên là phạm vi hẹp nhất với định
nghĩa: CNHT là những ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ tùng và các
công cụ sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng này.
Phạm vi mở rộng 1 – tương ứng với khái niệm: CNHT là những ngành
công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ tùng, công cụ để sản xuất linh kiện, phụ
tùng này và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm.
Phạm vi mở rộng 2 – tương ứng với khái niệm: CNHT là những ngành
công nghiệp cung cấp toàn bộ đầu vào vật chất, gồm linh kiện, phụ tùng, công
cụ, máy móc và nguyên vật liệu.
7
Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, theo nội dung Quyết định phê
duyệt “Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010 tầm nhìn 2020” của Bộ Công
7
Kenichi Ohno (Chủ biên). (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” (Tập 1), Diễn đàn phát triển
Việt Nam (VDF), Hà Nội. Có trên địa chỉ www.vdf.org.vn
11 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
nghiệp (7/2007) có thể xác định phạm vi của ngành CNHT Việt Nam tương ứng
với phạm vi mở rộng 2.
8
Từ việc xác định được phạm vi ngành CNHT ở trên, người viết cũng sẽ sử
dụng làm cơ sở cho việc phân tích những đặc điểm và vai trò của ngành CNHT
sẽ được trình bày sau.
III. Các giai đoạn phát triển của công nghiệp hỗ trợ
Thực tế các quốc gia trên thế giới cho thấy, CNHT có giai đoạn phát triển
khá rõ ràng. Tuy nhiên, quá trình hình thành và phát triển CNHT tại các nước
khác nhau lại không thống nhất. Ở các nước phát triển, CNHT hình thành trước
hoặc đồng thời với ngành công nghiệp sản xuất chính. Ở các nước NICs, CNHT
thường hình thành đồng thời với việc tổ chức, lắp ráp, sản xuất các sản phẩm
công nghiệp cuối cùng. Còn ở các nước đang phát triển, do thiếu vốn, công nghệ,
thị trường tiêu thụ, nên thông thường công nghiệp lắp ráp phát triển trước, ngành
CNHT hình thành sau với tiến trình nội địa hóa các sản phẩm được các tập đoàn,
công ty có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ của nước sở tại và sau
đó, tùy theo trình độ phát triển và khả năng cạnh tranh của hệ thống các cơ sở
sản xuất hỗ trợ, có thể vươn ra xuất khẩu các sản phẩm hỗ trợ sang các thị trường
khác.
Trên thực tế việc tách bạch từng giai đoạn là khá khó khăn vì các giai đoạn
đều kế thừa lẫn nhau. Sự ngắn dài của mỗi giai đoạn tuỳ thuộc vào sự phát triển
của nền kinh tế mỗi quốc gia cộng với sự hỗ trợ của các nền kinh tế phát triển đi
trước. Tuy nhiên, theo tổng kết của các chuyên gia, tại các nước đang phát triển,
quá trình phát triển CNHT thường trải qua 5 gia đoạn:
Bảng 1: Các giai đoạn phát triển CNHT
Giai đoạn Nội dung
8
Bộ Công nghiệp (7/2007), “Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm
nhìn đến 2020”.
12 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
1
Việc sản xuất được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng các cụm linh
kiện nhập khẩu nguyên chiếc. Số lượng các nhà cung cấp các chi
tiết, linh kiện đơn giản sản xuất trong nước có rất ít.
2
Nội địa hóa thông quan sản xuất tại chỗ. Các nhà sản xuất lắp ráp
chuyển sang sử dụng linh, phụ kiện sản xuất trong nước. Thường
những linh, phụ kiện này là những loại thông dụng lắp lẫn, dùng
chung. Tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm công nghiệp trong
nước có tăng lên nhưng thường là ít tăng số lượng các nhà sản
xuất hỗ trợ, tính cạnh tranh trong sản xuất các sản phẩm này
không cao
3
Giai đoạn xuất hiện các nhà cung ứng các sản phẩm hỗ trợ chủ
chốt như sản xuất động cơ, hộp số đối với ngành ô tô – xe máy,
chíp IC điện tử, nguyên vật liệu cao cấp.. một cách tự nguyện và
độc lập không theo yêu cầu của các nhà lắp ráp. Giai đoạn này
phát triển mạnh việc gia công tại nước sở tại các chi tiết phụ tùng
có độ phức tạp cao và khối lượng hàng nhập về để lắp ráp giảm
dần.
4
Giai đoạn tập trung các ngành CNHT. Trong giai đoạn này hầu
như toàn bộ các chi tiết, phụ tùng, linh kiện đã được tiến hành sản
xuất tại nước sở tại, kể cả một phần các sản phẩm nguyên liệu sản
xuất các linh kiện đó. Cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hỗ trợ trở
nên gay gắt hơn. Xu thế chung của cạnh tranh lúc này là hạ giá
thành sản xuất trong khi vẫn duy trì và phát triển chất lượng sản
phẩm.
5
Giai đoạn nghiên cứu, phát triển và xuất khẩu. Đây là giai đoạn
cuối cùng của quá trình nội địa hóa. Các nhà đầu tư nước ngoài bắt
đầu dịch chuyển các thành tựu nghiên cứu, phát triển tới nước sở
tại. Năng lực nghiên cứu, phát triển nội địa cũng đã được củng cố
và phát triển. Bắt đầu giai đoạn sản xuất phục vụ xuất khẩu triệt
để.
Nguồn: Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp (2007),
Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010,
tầm nhìn đến 2020, Hà Nội, trang 10-11
IV. Đặc điểm ngành công nghiệp hỗ trợ
13 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
1. Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ
tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đây là một đặc điểm xuất phát từ lịch sử hình thành của ngành CNHT
cũng như khái niệm về CNHT. Khái niệm CNHT được Nhật Bản đưa ra từ
những năm 1980 đã thể hiện đặc trưng của ngành, đó là: CNHT chỉ nhằm hỗ trợ
việc sản xuất ra thành phẩm chính và được tiến hành chủ yếu tại SMEs. Sự hình
thành và phát triển của rất nhiều SMEs sản xuất sản phẩm hỗ trợ cho những công
ty sản xuất lắp ráp có thể được lý giải do Chính phủ Nhật Bản đã dành rất nhiều
những ưu đãi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa này với các chính sách như “Luật
về hợp tác giữa công ty vừa và nhỏ với các đối tác khác”, hay “Luật ngăn chặn
trì hoãn trong thanh toán cho SMEs”. Và cho tới nay, mặc dù tại Nhật Bản có
nhiều tên tuổi tầm cỡ thế giới như Toyota, Honda, Panasonic, Nissan,… nhưng
số công ty này chỉ chiếm số ít với công việc chủ yếu là lắp ráp, còn phần lớn
doanh nghiệp cấp thấp hơn sản xuất các linh phụ kiện cho những công ty này là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
2. Phạm vi của CNHT phụ thuộc vào chính sách
Như đã trình bày ở phần khái niệm về CNHT, hiện nay chưa có một phạm
vi thống nhất về ngành CNHT do việc đưa ra khái niệm CNHT có khác biệt, tùy
vào trình độ phát triển, mục tiêu chính sách của từng quốc gia. Có thể hiểu phạm
vi của CNHT theo nghĩa rộng: bao gồm toàn bộ các ngành công nghiệp cung cấp
đầu vào, hay hiểu nó theo phạm vi hẹp: là ngành công nghiệp chỉ cung cấp linh
kiện, phụ tùng và công cụ cho một số ngành công nghiệp nhất định là hoàn toàn
phụ thuộc vào người sử dụng thuật ngữ. Phạm vi của CNHT Việt Nam hiện nay
có thể hiểu theo nghĩa hẹp dựa trên Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010
tầm nhìn đến năm 2020 của Bộ công nghiệp.
3. CNHT bao phủ một diện rộng trong các ngành công nghiệp khác
14 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
CNHT là ngành cung cấp các sản phẩm đầu vào cho các ngành sản xuất
lắp ráp, chế tạo. Thực tế cho thấy, các ngành công nghiệp như công nghiệp điện -
điện tử, công nghiệp ô tô, xe máy hay công nghiệp đóng tàu,… đều sử dụng các
sản phẩm của CNHT. Để tạo ra các sản phẩm công nghiệp hiện nay đều cần
những chi tiết bao gồm các sản phẩm đầu vào bằng nhựa, kim loại,… sử dụng
các máy móc như: máy cán thép, khuôn đúc,… với các quá trình như phun nhựa,
ép kim loại hay gia công máy,… Quá trình sản xuất hàng điện tử dân dụng và xe
máy đều sử dụng các linh kiện nhựa được sản xuất qua cùng một quy trình tương
tự như nhau gọi là dập phun. Do vậy, có thể nói ngành CNHT là ngành bao phủ
một phạm vi rộng các ngành công nghiệp khác, và rất cần thiết cho nhiều ngành
công nghiệp.
4. Công nghiệp hỗ trợ là ngành đòi hỏi đầu tư nhiều vốn và nguồn nhân lực
có trình độ cao
So với ngành công nghiệp lắp ráp (một trong những ngành đòi hỏi vốn cố
định cao) thì ngành CNHT cần nhiều vốn hơn. Trong khi ở ngành công nghiệp
lắp ráp, sản phẩm cần nhiều lao động thì việc sản xuất các sản phẩm của ngành
CNHT lại cần nhiều máy móc và ít lao động hơn. Hơn nữa, máy móc phục vụ
quá trình sản xuất lại không thể chia nhỏ, mua từng phần. Vì vậy dù các nhà máy
có quy mô nhỏ hay lớn thì việc đầu tư vốn vào hệ thống máy móc khá tốn kém.
Số lượng lao động trong ngành CNHT ít hơn trong các ngành khác nhưng lại đòi
hỏi phải có trình độ cao (các kỹ sư, kỹ thuật viên) để có thể vận hành tốt hệ
thống máy móc hiện đại. Do đặc điểm này mà các ngành CNHT tại các nước
đang phát triển như Việt Nam vẫn chưa phát triển. Họ không đủ khả năng tài
chính để đầu tư hệ thống máy móc hiện đại và mặc dù có lực lượng lao động dồi
dào thì chất lượng lao động chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của ngành.
5. Công nghiệp hỗ trợ có quan hệ mật thiết với đầu tư trực tiếp nước ngoài
15 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Đối với các nước đang phát triển, CNHT và đầu tư trực tiếp nước ngoài có
mối quan hệ mật thiết và tương hỗ lẫn nhau, thể hiện trên nhiều khía cạnh.
Một mặt, FDI là tiền đề để thúc đẩy ngành CNHT trong nước hình thành
và phát triển. Thậm chí có thể nói, không có vốn FDI đầu tư vào các ngành công
nghiệp chế tác - chủ yếu là hoạt động gia công, lắp ráp - thì không có ngành
CNHT ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu quốc tế đã nói nhiều đến “tác
động lan tỏa” của các doanh nghiệp FDI đối với nền công nghiệp nói chung và
ngành CNHT nói riêng của nước sở tại.
Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của CNHT trong nước sẽ làm tăng sức
hấp dẫn trong thu hút FDI. Theo số liệu điều tra do tổ chức JETRO tiến hành tại
các cơ sở lắp ráp cơ khí của các nhà đầu tư Nhật Bản ở Đông Nam Á, chi phí
linh kiện, phụ tùng chiếm đến 70-90% giá thành sản phẩm, trong khi chi phí
nhân công chỉ chiếm khoảng 10%
9
. Vì thế, mặc dù hầu hết các nhà đầu tư nước
ngoài (ĐTNN) trong công nghiệp chế tác đều tiến hành các hoạt động thâm dụng
lao động, để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm của mình, họ vẫn rất cần có
ngành CNHT phát triển ở nước sở tại. Ngược lại, một nước dù có ưu thế về lao
động nhưng không có CNHT phát triển, thì môi trường đầu tư ở đó vẫn kém hấp
dẫn, kém cạnh tranh.
Tuy nhiên, để các nước đang phát triển xây dựng thành công ngành CNHT
trong nước, vấn đề không đơn giản. Theo tiêu chuẩn sản xuất của các nước tiên
tiến, tính cạnh tranh phụ thuộc đồng thời vào 3 yếu tố: chất luợng, chi phí và
giao hàng (QCD – Quality, Cost, Delivery). Tính chung, với trình độ hiện có của
mình, các nước đang phát triển không dễ làm ngay được điều này. Một khi chất
lượng đã được đảm bảo, thì vẫn cần cải thiện hai yếu tố sau là chi phí và giao
hàng. Để giảm chi phí và đẩy nhanh tiến độ giao hàng, đối với các nhà đầu tư
9
Kenichi Ohno (chủ biên, 2007): Building Supporting Industries in Vietnam (Xây dựng công nghiệp hỗ trợ ở
Việt Nam), Vol. 1, Vietnam Development Forum, Hà Nội - Tokyo (tiếng Anh). Có trên địa chỉ: vdf.org.vn
16 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
nước ngoài việc phát triển CNHT ở nước sở tại là rất quan trọng và họ sẵn sàng
hỗ trợ, kể cả đầu tư cho việc hỗ trợ phát triển CNHT tại nước đó.
Mối quan hệ này được minh họa cụ thể hơn qua việc tổng kết quá trình
xây dựng và phát triển ngành CNHT ở các nước đang phát triển của các nhà
phân tích. Có thể chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: “Thời kì khởi đầu”. Khi chưa có FDI đi vào, trong nước
thường đã có ít nhiều cơ sở CNHT cung cấp linh kiện cho các đơn vị sản xuất,
lắp ráp thành phẩm. Đến khi có FDI, một số cơ sở CNHT sẽ phát triển mạnh hơn
nếu tham gia được vào mạng lưới sản xuất của các doanh nghiệp FDI.
Giai đoạn 2: “Thời kì bắt đầu phát triển”. Khi FDI tăng mạnh khiến nhu
cầu về linh phụ kiện gia tăng, làm tăng nhanh số lượng các cơ sở CNHT trong
nước phục vụ các doanh nghiệp FDI. Những cơ sở nào sớm hình thành mối liên
kết với các doanh nghiệp FDI sẽ được hỗ trợ về nhiều mặt như: đào tạo nguồn
nhân lực, cung cấp thiết bị kĩ thuật, chuyển giao công nghệ,… và sẽ có bước tiến
vượt bậc.
Giai đoạn 3: “Thời kì phát triển cao trào”. Sau một thời gian hoạt động,
quy mô sản xuất của các doanh nghiệp FDI được mở rộng, tạo ra thị trường ngày
càng lớn cho CNHT, theo đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể tìm đến
đầu tư vào lĩnh vực này.
10
6. Sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ có thể được dùng trong nước hoặc xuất
khẩu
Sản phẩm của ngành CNHT không chỉ phục vụ cho các ngành công
nghiệp nội địa. Khi đạt tới mức độ phát triển cao, ngoài việc cung cấp cho các
ngành công nghiệp trong nước, các sản phẩm của ngành CNHT có thể xuất khẩu
ra nước ngoài. Trong khu vực ASEAN, Thái Lan được coi là một điển hình
10
TS. Nguyễn Công Liêm, Nguyễn Mạnh Hà, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, “Đi tìm
lời giải cho ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam trong kỳ chiến lược tới”, Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội,
số 19, tháng 7/2007.
17 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
thành công trong việc xuất khẩu các sản phẩm của CNHT. Xuất khẩu sản phẩm
hỗ trợ có thể coi là một trong những hướng đi phù hợp với Việt Nam, khi dung
lượng thị trường cho ngành CNHT còn nhỏ.
V. Vai trò của ngành công nghiệp hỗ trợ
1. Công nghiệp hỗ trợ phát triển giúp tăng cường thu hút vốn FDI
Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, CNHT phát triển là một trong những
tiêu chí lựa chọn môi trường đầu tư tiềm năng. Gần đây, chi phí nhân công rẻ
không còn là lợi thế lớn của các nước tiếp nhận đầu tư, mà chính CNHT phát
triển mới là điều hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Theo điều tra của JETRO
tiến hành tại các cơ sở lắp ráp cơ khí của các nhà đầu tư Nhật Bản ở Đông Nam
Á, chi phí linh kiện, phụ tùng chiếm đến 70 – 90% giá thành sản phẩm, chi phí
nhân công chỉ chiếm khoảng 10%
11
. Chính vì thế, dù một nước có ưu thế về lao
động nhưng CNHT không phát triển thì môi trường đầu tư cũng trở nên kém hấp
dẫn. Phát triển CNHT là điều kiện để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài.
Hơn nữa, CNHT phát triển thu hút được nhiều vốn FDI cũng giúp nước
nhận đầu tư phát triển công nghệ, kỹ năng quản lý cũng như đào tạo nhân lực bởi
vì ngoài nguồn vốn tư bản, nhà đầu tư cũng tiến hành chuyển giao công nghệ
hiện đại và kỹ năng lao động và quản lý chuyên nghiệp sang các nước tiếp nhận
đầu tư. Như vậy, CNHT phát triển sẽ góp phần quan trọng trong đổi mới sản
xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm của một quốc gia. Việc phát
triển CNHT dẫn tới thu hút nhiều vốn FDI sẽ dẫn tới sự phát triển toàn diện
trong nền kinh tế của một quốc gia.
2. Công nghiệp hỗ trợ phát triển đẩy mạnh quá trình chuyên môn hóa và
ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất
11
Kenichi Ohno (Chủ biên). (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” (Tập 1), Diễn đàn phát triển
Việt Nam (VDF), Hà Nội. Có trên địa chỉ www.vdf.org.vn
18 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Thực tiễn ở các nước công nghiệp hiện đại đã cho thấy, chuyên môn hóa
giúp tận dụng tối đa lợi thế so sánh của doanh nghiệp, quốc gia, từ đó thúc đẩy
nền công nghiệp ngày càng phát triển theo hướng có lợi. Khi doanh nghiệp phải
thực hiện tất cả các công đoạn trong quá trình sản xuất, nguồn lực sẽ bị chia nhỏ,
từ đó không có điều kiện phát huy khả năng nổi trội nhất của mình, hiệu quả sản
xuất sẽ bị giảm sút. Phát triển CNHT giúp các doanh nghiệp không phải thực
hiện tất cả các khâu từ sản xuất nguyên vật liệu, máy móc, công cụ, lắp ráp…
Với sự phát triển của CNHT, các doanh nghiệp chỉ cần tập trung chuyên môn
hóa vào một khâu mà mình có khả năng làm tốt nhất và từ đó sẽ đầu tư tiền của,
công sức nâng cao hiệu quả, chất lượng của sản phẩm mình làm ra.
Hơn nữa, với sự phát triển của các doanh nghiệp chuyên sản xuất linh
kiện, phụ tùng, tư liệu sản xuất đầu vào,… các doanh nghiệp lắp ráp, chế tạo sản
phẩm cuối cùng sẽ không phải lo sản xuất hay nhập khẩu các sản phẩm đầu vào.
Các doanh nghiệp hỗ trợ sẽ tập trung nghiên cứu, thiết kế để sản xuất ra các sản
phẩm đầu vào ngày càng đạt các tiêu chuẩn chất lượng tốt hơn, năng suất hơn
đáp ứng cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp. Quá trình tạo ra thành phẩm nhờ
đó nhanh hơn, sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn, hiệu quả kinh tế nhờ đó cũng
tăng lên. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất sẽ tạo nên lợi thế cạnh
tranh cho sản phẩm hỗ trợ cũng như sản phẩm cuối cùng tại một quốc gia.
3. Công nghiệp hỗ trợ phát triển tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ cấu lao
động theo hướng tích cực
Các quốc gia có nền CNHT kém phát triển thường là những nước có
nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng lao động thấp. Vì thế mà các doanh
nghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu các sản phẩm CNHT để tiến hành sản
xuất và xã hội thì vẫn tồn tại một số lượng lớn lao động không có công ăn việc
làm. CNHT phát triển có vai trò tạo thêm việc làm cho người lao động trong lĩnh
19 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
vực công nghiệp. CNHT phát triển khiến nhu cầu tuyển dụng của các doanh
nghiệp sản xuất trong nước cũng tăng cao, những người lao động ở các làng quê
muốn có công ăn việc làm phải tham gia các lớp học nghề, các trường trung cấp
hay cao đẳng, đại học để bắt kịp với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp.
Với mức bao phủ rộng các ngành công nghiệp, số lượng việc làm mà CNHT tạo
ra sẽ là không nhỏ. Môi trường đầu tư sẽ trở nên hấp dẫn hơn nhờ CNHT phát
triển, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cũng muốn tuyển dụng thêm lao động
phổ thông trong nước để giảm chi phí nhân công. CNHT càng phát triển đòi hỏi
chất lượng lao động cũng phải ngày một nâng cao để đáp ứng yêu cầu tuyển
dụng của nhà sản xuất. Một bộ phận các doanh nghiệp sẽ thực hiện chủ trương
đào tạo tay nghề cho nhân công để nâng cao chất lượng sản phẩm. Cơ cấu lao
động nhờ đó ngày càng phát triển theo hướng tích cực.
4. Công nghiệp hỗ trợ giúp phát triển ngành công nghiệp nội địa
CNHT đáp ứng được nhu cầu sản phẩm đầu vào chất lượng cho các ngành
công nghiệp sản xuất lắp ráp sẽ giúp phát triển ngành công nghiệp nội địa nói
chung. Có thể thấy, việc phát triển ngành CNHT trong nước sẽ tạo đà cho các
ngành công nghiệp khác phát triển do có sự chuyên môn hóa trong khâu cung
cấp nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện phục vụ sản xuất. Hơn nữa, các sản phẩm
cuối cùng được giảm giá thành do việc cung cấp nguyên vật liệu trở nên nhanh
chóng, thuận tiện hơn. Mặt khác, chất lượng sản phẩm cũng ngày một nâng cao
phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng một khi ngành CNHT được chú trọng
phát triển.
Để minh họa cho vai trò này chúng ta có thể nhìn vào lịch sử phát triển
kinh tế của Nhật Bản. Trong giai đoạn phát triển thần kì của mình, Nhật Bản đã
xây dựng cơ cấu kinh tế “hai tầng”, chú trọng ngay từ đầu khâu cung ứng nguyên
vật liệu đầu vào, đây chính là nền tảng của việc hình thành nền CNHT sau này.
20 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Thời kỳ này Nhật Bản đã thành lập các doanh nghiệp vệ tinh vừa và nhỏ trong
nước có khả năng cung cấp và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn những sản phẩm cấp
thấp hơn hoặc những sản phẩm sơ chế,… để có thể tạo ra thế chủ động trong sản
xuất của các doanh nghiệp này.
5. Công nghiệp hỗ trợ phát triển tạo tiền đề cho phát triển bền vững
CNHT là một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống sản
xuất hiện đại. Một hệ thống sản xuất hiện đại bao gồm nhiều quá trình: sản xuất
nguyên vật liệu, máy móc, công cụ, các bộ phận, quá trình lắp ráp bán thành
phẩm và thành phẩm,… Trong đó, CNHT thực hiện công đoạn sản xuất các bộ
phận công cụ, máy móc chất lượng cao hỗ trợ trực tiếp quá trình lắp ráp, sản xuất
ra sản phẩm cuối cùng. Như vậy, CNHT phát triển mới tạo nên được sự bền
vững trong hệ thống sản xuất mà nếu không phát triển CNHT thì nền công
nghiệp của một quốc gia sẽ mãi chỉ là gia công, lắp ráp đơn thuần, phải phụ
thuộc nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ nước ngoài, khi đó giá trị gia tăng cho
sản phẩm cuối cùng không cao, thu nhập thực tế của người lao động thấp, không
tương xứng với công sức lao động bỏ ra. CNHT cũng giúp cho các ngành công
nghiệp chủ đạo sẽ chủ động trong quá trình sản xuất, nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các sản phẩm của mình, từ đó thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế đất
nước. Đây chính là cơ sở cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
21 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
CHƯƠNG II
KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á TRONG VIỆC
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
I. Thực trạng phát triển CNHT tại một số nước Đông Á
Các nước Đông Á bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên, Đài Loan và
Trung Quốc là một khu vực kinh tế phát triển nhất châu Á hiện nay. Nhật Bản là
nền kinh tế phát triển thứ hai thế giới, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Đài Loan đều
là những quốc gia có nền công nghiệp phát triển. Việc phát triển công nghiệp của
các nước này có nước thì lâu đời có nước mới phát triển nhưng đều thể hiện rõ
mục tiêu phát triển CNHT rất sớm. Nói chung, CNHT tại các nước Đông Á là
những nền CNHT khá phát triển, quá trình phát triển CNHT của họ có nhiều
điểm Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm.
1. Tại Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp phát triển nhất châu Á với hàng
loạt các tập đoàn lớn đang khẳng định vị trí dẫn đầu trên thế giới. Để có được
thành quả như hiện nay, trước tiên phải kể đến việc Chính phủ Nhật Bản đã đưa
ra chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp, đặc biệt là việc quan tâm phát triển
các ngành CNHT giúp Nhật Bản từ chỗ phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài
trở thành quốc gia tự chủ và dẫn đầu về công nghệ như hiện nay. Để phục vụ nhà
máy lắp ráp, Nhật Bản có hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuất các
linh phụ kiện hỗ trợ.
Ngay từ giữa thập niên 50 của thế kỷ trước, Nhật Bản đã thực hiện chính
sách phát triển công nghiệp phụ trợ một cách bài bản, có chủ đích, có mục tiêu
trong từng thời kỳ. Theo ông Hirohiko Sekiya – Cố vấn trưởng Cục Hợp tác
22 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
quốc tế thuộc Viện Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, từ năm 1956 nước Nhật đã ban
hành Luật xúc tiến công nghiệp chế tạo máy, được chỉnh sửa năm 1961 và 1966.
Nhờ có luật này, Nhật Bản đã áp dụng các chính sách hỗ trợ cụ thể cho các
ngành công nghiệp phụ trợ ưu tiên nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
Cụ thể, trong giai đoạn 1956 – 1960, đã có 294 công ty, trong đó ¼ thuộc ngành
công nghiệp công cụ máy móc được vay vốn thay thế các phương tiện lỗi thời.
Trong giai đoạn 1961 – 1966, ngành công nghiệp linh kiện ô tô được hỗ trợ để
giảm khoảng 30% giá thành các linh kiện ô tô. Trong giai đoạn 1966 – 1971,
ngành linh kiện ô tô tiếp tục được hỗ trợ vốn, kết quả là thị phần của Nhật trên
thị trường ô tô thế giới đã tăng từ 3,6% năm 1965 lên 14,2% năm 1970 và 17,9%
năm 1975.
12
Trong ngành CNHT ngành xe máy, Nhật Bản càng ngày càng phát triển.
Trước những năm 1955, do Nhật Bản thực hiện phương thức sản xuất xe máy
khối lượng nhỏ nên nhiều doanh nghiệp sản xuất xe máy đã thực hiện mua các
phụ tùng (thông qua việc đặt hàng các doanh nghiệp đang sản xuất xe đạp, ô tô)
về lắp ráp để tránh được khâu đầu tư về thiết bị và khâu khai thác sản phẩm.
Điều đó khiến ngành CNHT xe máy không có mấy cơ hội để phát triển. Trong
giai đoạn này, các nhà máy sản xuất sản phẩm hỗ trợ tổng hợp với sản lượng lớn
gồm nhiều công đoạn sản xuất liên tục (đúc, luyện kim, gia công cơ khí, hàn,
sơn...) xuất hiện.
Trong thập kỷ 70 của thế kỷ trước, các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã khiến ngành CNHT xe máy phát triển. Các doanh nghiệp sản xuất,
lắp ráp xe máy đẩy mạnh quan hệ với các nhà cung cấp phụ tùng, linh kiện, tăng
cường khả năng khai thác và năng lực kỹ thuật, đa dạng hoá sản phẩm, nghiên
cứu phát triển sản phẩm mới với các tính năng ngày càng cao; đặc biệt, các
doanh nghiệp độc quyền đã chuyển hướng chiến lược xuất khẩu.
12
http://www.vinacorp.vn/news/cong-nghiep-phu-tro-viet-nam-vi-sao-phat-trien-i-ach/ct-384171
23 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Hiện nay, các doanh nghiệp Nhật Bản chuyển sang liên kết với các doanh
nghiệp nước ngoài, sử dụng có hiệu quả các phụ tùng giá rẻ của nước ngoài. Tuy
nhiên, doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì và tăng cường ưu thế về công nghệ và
khâu khai thác phát triển sản phẩm mới, không ngừng nâng cao chất lượng sản
phẩm, cải tiến mẫu mã và phát triển thương hiệu. Bên cạnh đó, do nhu cầu tiêu
thụ trong nước rất ít nên Chính phủ Nhật Bản đã chuyển hướng quản lý, hỗ trợ
các doanh nghiệp Nhật Bản để mở rộng sản xuất và thâm nhập thị trường ngoài
nước. Đến nay doanh nghiệp Nhật Bản đã rất thành công trong việc “xuất khẩu
sản xuất” tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm trên toàn cầu, khai thác hiệu quả
thị trường quốc tế với sức cạnh tranh cao.
13
Trong ngành CNHT điện tử Nhật Bản, sự phát triển của các doanh nghiệp
sản xuất sản phẩm linh phụ kiện cho ngành công nghiệp điện tử đã trở thành một
mạng lưới rộng khắp. (Xem Bảng 2, trang 21).
Nhìn vào bảng ta có thể thấy mạng lưới sản xuất linh kiện điện tử của
Nhật Bản rải khắp đất nước và chiếm vị trí quan trọng trên thế giới. Việc xây
dựng một mạng lưới CNHT ổn định chính là thành công của công nghiệp điện tử
Nhật Bản.
Bảng 2: Tình hình phân bổ sản xuất các linh kiện điện tử ở Nhật Bản
13
http://www.tinkinhte.com/nd5/detail/viet-nam/ho-so-tu-lieu/kinh-nghiem-phat-trien-cong-nghiep-xe-may-o-
mot-so-nuoc-va-bai-hoc-voi-viet-nam/56198.113207.html
24 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp
Giáo viên hướng dẫn: PGS,TS. Bïi ThÞ Lý
Thành phố
Thứ hạng
trên thế
giới
Kim ngạch
(Triệu
USD)
Tỷ trọng
trong nước
(%)
Tỷ trọng
trong khu
vực (%)
Tỷ trọng
trên thế giới
(%)
Tokyo 7 34,97 16,75 3,83 1,22
Yokohama 33 14,17 6,79 1,55 0,50
Nagoya 73 8,10 3,88 0,89 0,28
Osaka 81 7,73 3,70 0,85 0,27
Sapporo 119 5,56 2,66 0,61 0,19
Kawasaki 131 5,03 2,41 0,55 0,18
Kyoto 135 4,59 2,20 0,50 0,16
Kobe 143 4,35 2,09 0,48 0,15
Fukuoka 151 4,12 1,97 0,45 0,14
Hiroshima 155 3,92 1,88 0,43 0,14
Chiba 177 3,32 1,59 0,36 0,12
Sendai 178 3,31 1,58 0,36 0,12
Kitakyushu 196 2,70 1,29 0,30 0,09
Sakai 203 2,57 1,23 0,28 0,09
Sagamihara 217 2,25 1,08 0,25 0,08
Khác 102,07 48,89 11,18 3,57
Tổng cộng 208,75 100,00 22,86 7,30
Nguồn: Phillip M. Parker, INSEAD, bản quyền 2005, www.icongrouponline.com
2. Trung Quốc
Tại Trung Quốc, dệt là ngành CNHT cho ngành may, được Chính phủ coi
là mục tiêu phát triển và thực sự đã rất phát triển hết sức thành công. Hiện nay,
Trung Quốc là quốc gia lớn nhất thế giới về sản xuất một số loại sản phẩm dệt
may, đồng thời cũng là quốc gia xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới. Quá
trình phát triển công nghiệp dệt may của Trung Quốc được chia làm 3 giai đoạn.
25 Sinh Viên: Nguyễn Thế Tiệp

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×