Tải bản đầy đủ

Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng đồ gỗ xuất khẩu VN trên thị trường Nhật Bản.doc

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính tất yếu của đề tài
Hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hóa đang diễn ra một cách mạnh
mẽ, tác động đến mọi quốc gia, các lĩnh vực và các ngành. Theo xu thế đó, các
quốc gia đã và đang tiến hành các hoạt động mở cửa, hội nhập vào xu hướng này.
Việt Nam thực sự đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật đặc biệt là thành tựu về xuất
khẩu. Việt Nam đã xác định cho mình những mặt hàng chủ lực như gạo, cà phê,
may mặc, đồ gỗ...Trong đó hàng đồ gỗ ngày càng có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Nó không chỉ góp phần tạo ra công ăn việc làm cho một số
lượng lớn lao động mà giá trị xuất khẩu của ngành còn chiếm tỉ lệ lớn trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Đặc biệt tại một số thị trường lớn như Nhật
Bản, Hoa Kỳ, EU...hàng đồ gỗ Việt Nam đã có được một chỗ đứng, vị thế quan
trọng trên thị trường, chiếm một tỷ lệ thị phần đáng kể đặc biệt là thị trường Nhật
Bản với tốc độ tăng thị phần khá nhanh, với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng
qua các năm, sản phẩm chủng loại khá đa dạng.
Tuy đã đạt được những thành tựu nổi bật về xuất khẩu nhưng nếu so sánh
với các đối thủ trên thị trường có cùng mặt hàng xuất khẩu thì kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn. Thị phần chiếm lĩnh so với các đối thủ
còn quá nhỏ. Nguyên nhân chính là do năng lực cạnh tranh hàng Việt Nam trên thị
trường thế giới còn chưa cao, còn nhiều bất cập, chưa tạo được niềm tin với khách
hàng, thị trường không ổn định....mặt hàng đồ gỗ cũng không phải là một ngoại lệ,

chúng ta gặp rất nhiều khó khăn về năng lực cạnh tranh với các đối thủ khác trên
thị trường mà điển hình ở đây là thị trường Nhật Bản - một thị trường lớn, tiềm
năng. Vì vậy em đã chọn đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh hàng đồ gỗ
xuất khẩu Việt Nam trên thị trường Nhật Bản" để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Phân tích thực trạng năng lực cạnh
tranh của hàng đồ gỗViệt Nam trên thị trường xuất khẩu ( Nhật Bản ) để từ đó đề
1
xuất các giải pháp đối với các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng
Nghiên cứu năng lực cạnh tranh hàng đồ gỗ Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu sản phẩm đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật
Bản trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay.
4. Chuyên đề sử dụng các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
- Phương pháp toán thống kê
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phục lục, mục
lục thì nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Lý luận về cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực
cạnh tranh hàng đồ gỗ của Việt Nam
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam
trên thị trường Nhật Bản
Chương 3: Dự báo, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam trên thị trường Nhật Bản trong thời
gian tới
Trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài này do trình độ, thời gian, kinh
nghiệm còn hạn chế và nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên chắc chắn em không tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp, chỉ bảo của thầy cô
giáo. Và em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.s.Ngô Thị Tuyết Mai đã tận tình
giúp đỡ em để em hoàn thành bài viết này.
2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG
LỰC CẠNH TRANH HÀNG ĐỒ GỖ XUẤT KHẨU CỦA
VIỆT NAM
1.1. Lý luận về cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm, phân loại và vai trò của cạnh tranh
1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là một phạm trù kinh tế khách quan, là quan hệ kinh tế giữa
những người cùng sản xuất kinh doanh một loại sản phẩm, nó vừa là môi trường,
vừa là động lực phát triển kinh tế.
Trong kinh tế học, cạnh tranh được định nghĩa là sự giành giật thị trường để
tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Theo C.Mác: "cạnh tranh là sự ganh
đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện
thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được những lợi nhuận siêu
ngạch". Đây là định nghĩa khái quát nhất về cạnh tranh, nó đã nói lên được mục
đích của cạnh tranh, nhưng chưa nói lên cách thức để giành thắng lợi trong cạnh
tranh.
Cạnh tranh là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa những
người sản xuất hàng hóa dựa trên thực lực kinh tế của họ. Cơ sở của cạnh tranh là
chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Chế độ này đẻ ra cạnh tranh, chèn ép
lẫn nhau, " cá lớn nuốt cá bé". Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc
độ tiêu cực. Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và
coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội.
Do vậy cạnh tranh có thể được hiểu như sau:
Cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những
chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm
giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng
hóa và thu được lợi nhuận cao.
3
* Khái niệm năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa được hiểu là tất cả những đặc điểm, yếu
tố, tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thị
trường trong một thời gian dài.
Năng lực cạnh tranh là khả năng chiếm lĩnh thị trường của một mặt hàng, là
khả năng mà doanh nghiệp có thể đạt được những điều kiện thuận lợi trong tiêu
thụ hàng hóa của mình.
Năng lực cạnh tranh của hàng hóa còn được thể hiện ở vị trí của mặt hàng đó
trên thị trường, hay nói cách khác đó là sức mua đối với hàng hóa trên thị trường,
là mức độ chấp nhận của người tiêu dùng.
Tóm lại: Năng lực cạnh tranh của hàng hóa là sự biểu hiện “tính trội” của
hàng hóa về chất lượng, giá cả và hình thức lưu chuyển của nó trên thị trường,
tạo nên sự hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng
nó. Năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là khả năng giành lợi thế, chiếm ưu thế
trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loại trên cùng đoạn thị
trường tại cùng thời điểm.
Cần phân biệt " năng lực cạnh tranh của hàng hóa " và " năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp ". Hai khái niệm này liên quan mật thiết với nhau. Năng lực
cạnh tranh của hàng hóa là một trong những nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của hàng hóa thể hiện năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của của hàng hóa thể hiện năng lực của
hàng hóa đó thay thế một hàng hóa khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc
tính, chất lượng hoặc giá cả hàng hóa. Trên thực tế, hai khái niệm này có thể sử
dụng thay thế cho nhau.
Các yếu tố cấu thành
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của hàng hóa bao gồm: sự khác
biệt (vượt trội) về chất lượng, số lượng, giá cả, mẫu mã, độc đáo hay kiểu dáng,
tính tiện dụng, hình thức phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng, dịch vụ sau
bán hàng, lòng tin của khách hàng đối với hàng hóa đó… so với hàng hóa của đối
thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một thời điểm. Năng
4
lực cạnh tranh còn thể hiện qua mức độ chiếm lĩnh thị trường (thị phần của nó) tốc
độ tăng thị phần, khả năng gây ấn tượng đối với người sử dụng…
Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Như vậy, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm.
Việc phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thường được tiến hành
đồng thời bằng 3 phương pháp: (1) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng,
chất lượng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã...); (2) đánh giá trực tiếp thị trường (doanh
số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối...); (3) điều tra xã hội
học - chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết
tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu...). Sau đó so sánh các tiêu chí đó với
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trường tại cùng thời điểm để xác
định năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động
vào quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so
với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh (nếu nó chưa có năng lực cạnh
tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở
mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực cạnh
tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu). Nói cách khác: nâng cao sức cạnh tranh
cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại
được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm đồng thời hoàn thiện
những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứ không phải so với
chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối
thủ cạnh tranh của nó.
Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm khác với việc hoàn
thiện sản phẩm ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm đó
trở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau. Vì
vậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do
nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác.
5
1.1.1.2. Phân loại cạnh tranh
Căn cứ vào chủ thể tham gia
- Cạnh tranh giữa người bán với người mua:
Đây là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, người bán
luôn mong muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, ngược lại người mua lại
muốn mua sản phẩm đó với mức giá thấp nhất. Sự cạnh tranh này được thực hiện
qua quá trình " mặc cả ", kết thúc quá trình này, người bán sẽ chỉ đồng ý bán sản
phẩm của mình và người mua sẽ chỉ chấp nhận mua sản phẩm với giá chấp nhận là
giá thỏa thuận giữa người bán và người mua.
- Cạnh tranh giữa những người mua
Đây là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Loại cạnh tranh này
xảy ra khi mức cầu đối với một hàng hóa hay dịch vụ nào đó trên thị trường lớn
hơn lượng hàng hóa, dịch vụ nào đó mà người bán có thể cung cấp. Do đó, cạnh
tranh sẽ trở nên gay gắt hơn khi càng có ít người bán nhưng lại nhiều người muốn
mua và giá cả hàng hóa, dịch vụ sẽ được người bán đẩy lên cao. Kết quả cuối cùng
là người bán thu được lợi nhuận cao, sang người mua phải chịu thiệt thòi.
- Cạnh tranh giữa những người bán
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất. Trong cuộc cạnh tranh
này, các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp khác nhau để tạo cho mình thế mạnh
nhằm vượt lên trên đối thủ hoặc thôn tính lẫn nhau để tranh giành khách hàng và
thị trường. Kết quả để đánh giá doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh là
việc tăng doanh số tiêu thụ và tăng tỉ lệ thị phần, theo đó tăng lợi nhuận, tăng đầu
tư chiều sâu, mở rộng sản xuât.
Căn cứ vào phạm vi cạnh tranh
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Đây là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong nội bộ ngành, cùng sản xuất
ra một loại hàng hóa nhằm mục đích tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn để thu lợi nhuận
siêu ngạch. Để cạnh tranh cùng với đối thủ cùng ngành, các doanh nghiệp phải
thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao cấu tạo hữu cơ của tư bản, nâng cao năng
xuất lao động nhằm làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa doanh nghiệp sản xuất ra
thấp hơn giá trị xã hội để thu lợi nhuận siêu ngạch.
6
- Cạnh tranh giữa các ngành:
Đây là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành khác nhau,
nhằm giành nơi đầu tư có lợi nhất. Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp bị
hấp dẫn bởi khách hàng nên đã chyển vốn đầu tư từ ngành ít lợi nhuận sang ngành
lợi nhuận cao. Sự điều chỉnh này sau một thời gian nhất định sẽ hình thành nên sự
phân phối hợp lý giữa các ngành sản xuất và hình thành tỷ suất lợi nhuận bình
quân giữa các nghành.
Căn cứ vào mức độ, tính chất cạnh tranh thị trường
- Cạnh tranh hoàn hảo
Đây là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và người
mua độc lập với nhau, không có người nào có ưu thế để có thể ảnh hưởng tới giá
cả. Các sản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự khác
biệt về quy cánh phẩm chất mẫu mã. Tất cả người mua và bán đều có hiểu biết đầy
đủ về thông tin liên quan đến việc trao đổi. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo đòi hỏi
tất cả người mua và người bán đều có liên hệ với tất cả những người trao đổi tiềm
năng, biết tất cả các đặc trưng của các mặt hàng trao đổi, biết tất cả giá người bán
đòi bán và giá người mua trả. Không có gì ngăn cản việc gia nhập và rút khỏi thị
trường. Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá cả trên thị
trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sản phẩm đến mức
giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
- Cạnh tranh không hoàn hảo
Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm là không
đồng nhất với nhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau, mỗi nhãn
hiệu đều mang hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa các sản phẩm
là không đáng kể. Trong môi trường cạnh tranh không hoàn hảo, mức độ cạnh
tranh gay gắt và các hình thức cạnh tranh cũng hết sức đa dạng. Bằng nhiều hình
thức khác nhau của cạnh tranh, người bán lợi dụng uy tín của mình, hay sử dụng
các biện pháp khuếch trương sản phẩm, khuyến mại, các dịch vụ đặc biệt sau bán
hàng...có thể có những lợi thế hơn, có được những điều kiện bán hàng tốt hơn,
cạnh tranh tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh, đáp ứng tối ưu các nhu cầu của
khách hàng, duy trì và ngày càng mở rộng hơn thị trường tiêu thụ sản phẩm của
7
mình...kết quả của cạnh tranh là dẫn đến cuộc chiến về giá cả giữa người bán với
nhau. Đây là hình thức cạnh tranh được coi là phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
- Cạnh tranh độc quyền
Đây là trạng thái cạnh tranh trên thị trường mà ở đó chỉ có một hay một số ít
người bán cung cấp một loại sản phẩm đồng nhất hoặc chỉ có một hay một số ít
người mua một loại sản phẩm đó. Số ít người này có thể kiểm soát gần như toàn
bộ số lượng sản phẩm bán ra hay mua vào thị trường.
Thị trường có sự pha trộn giữa độc quyền và cạnh tranh được gọi là thị
trường cạnh tranh độc quyền. Trong thị trường này không có cạnh tranh về giá như
ở thị trường cạnh tranh không hoàn hảo mà các nhà độc quyền quyết định về giá
cả. Việc định giá này nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho các nhà độc quyền.
1.1.1.3 Phân loại năng lực cạnh tranh
Nâng lực cạnh tranh quốc gia
Đây là một khái niệm phức tạp, bao gồm các yếu tố ở tầm vĩ mô, đồng thời
cũng bao gồm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong cả nước. Năng lực
cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là khả năng của một nền kinh tế đạt được
tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư ,bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng
cao đời sống của người dân. Một số tổ chức quốc tế (như diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), viện phát triển quản lý
(IMD) ở Lausanne, Thụy Sĩ...) tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng năng lực
cạnh tranh của các nền kinh tế thế giới. Các xếp hạng đó áp dụng các phương pháp
luận tương tự như nhau và đi đến kết quả giống nhau về xu thế, tuy không hoàn
toàn giống nhau về xếp hạng do có những khác biệt trong phương pháp luận (thí
dụ như về trọng số cho từng yếu tố, về cơ sở dữ liệu...). Các nhà đầu tư quốc tế
thường tham khảo các xếp hạng này như một căn cứ để lựa chọn địa điểm đầu tư,
vì vậy, các xếp hạng đó có ý nghĩa quan trọng đối với các chính phủ và doanh
nghiệp.
8
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và ngoài nước. Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm
và dịch vụ, vì vậy cần phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với khả
năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm - dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm dịch vụ thường được đo bằng thị phần
của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường.
Giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết qua lại với
nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có
năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh
tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng lực
cạnh tranh thì môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính
sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định; bộ
máy nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp.
Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh
tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp có
thể kinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao.
1.2. Các lý thuyết cạnh tranh
Thuyết thương mại quốc tế cổ điển sử dụng lợi thế của năng suất lao động
để định nghĩa lợi thế cạnh tranh, chúng ta xem xét lý thuyết của học thuyết lợi thế
so sánh qua mô hình đơn giản sau đây:
Trên thế giới khi một quốc gia có thể sản xuất ra một loại sản phẩm có giá
thấp hơn quốc gia khác thì số hàng hóa này có thể được xuất khẩu để bù đắp cho
việc nhập các loại hàng hóa có giá trị cao hơn nhằm đem lại lợi ích cao nhất.
Adam smith ( 1723- 1790) đã dẫn chứng ví dụ về lợi điểm tuyệt đối mà cả 2 quốc
gia có thể thu được lợi nhuận từ thương mại:

9
Số lượng trên mỗi đơn vị lao động đầu vào
Hàng hóa Hoa Kỳ Nhật Bản
Số tấn gạo 4 2
Xe hơi 2 4
Tại Hoa kỳ 4 tấn gạo có giá trị tương đương 2 chiếc xe hơi, ở Nhật Bản 2
tấn gạo có giá trị tương đương 4 xe hơi, Hoa kỳ có lợi điểm tuyệt đối với sản xuất
gạo còn Nhật Bản có lợi điểm tuyệt đối về sản xuất xe hơi. Như vậy Hoa Kỳ xuất
khẩu gạo, nhập khẩu xe hơi còn Nhật Bản xuất khẩu xe hơi và nhập khẩu gạo. Hoa
kỳ nên chuyên môn hóa sản xuất gạo và Nhật Bản nên chuyên môn hóa sản xuất
xe hơi.
Sau khi đã chuyên môn hóa sản xuất, Hoa Kỳ và Nhật Bản tiến hành trao đổi
thặng dư sản phẩm của mình cho đến khi nào sự trao đổi ấy còn hiệu quả hơn trao
đổi nội địa, kết quả trao đổi:
Hàng hóa Hoa Kỳ Nhật Bản
Số tấn gạo 3 3
Xe hơi 3 3
Như vậy lý thuyết của Adam smith đã sử dụng yếu tố năng xuất lao động
để định nghĩa lợi thế cạnh tranh,theo ông thì một quốc gia nên lựa chọn những
ngành sản xuất mà có lợi thế so sánh về năng suất lao động đồng thời áp dụng các
biện pháp tác động nhằm tác động gián tiếp hoặc trực tiếp lên lợi thế sẵn có để sử
dụng một cách hiệu quả nhất, ví dụ như : đào tạo nâng cao tay nghề lao động, đầu
tư tranh thiết bị cho lao động... đó chính là lợi thế cạnh tranh.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh thuyết truyền thống của David Ricardo và lý
thuyết của hai nhà kinh tế học Scandinavian, Heckscher và Ohlin. Cả hai người,
đều dựa trên một loạt các giả định được minh hoạ dưới đây.
Giả sử chỉ có hai nước (Phần Lan và Ấn Độ) và hai mặt hàng (dệt và giấy).
Lấy K=vốn ($); L=lao động(giờ); r=giá thuê vốn ($); và w=giá đơn vị lao động
hoặc mức lương ($/giờ). Tương tự, lấy L
hàng dệt
= số giờ lao động cần để sản xuất ra
1 m hàng dệt và L
giấy
=số giờ cần để sản xuất ra 1 tấn giấy.
10
Mô Hình Lợi Thế Giá Cạnh Tranh Truyền Thống: Như đã so sánh với Ấn Độ
và xem xét lý thuyết giá trị của lao động truyền thống, Phần Lan có lợi thế giá trị
cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn Độ về ngành dệt nếu:
Phần Lan > Ấn Độ
hoặc
>
Thậm chí nếu Phần Lan có hiệu quả hơn đối với mỗi mặt hàng mà, theo nghĩa:
L
dệt
Phần Lan L
dệt
Ấn Độ và L
giấy
Phần Lan < L
giấy
Ấn Độ.
Khi trao đổi thương mại diễn ra, Phần Lan nên xuất khẩu giấy sang Ấn Độ
để đổi lấy mặt hàng dệt.
Ví dụ: Công nghệ sản xuất hàng dệt và giấy ở Phần Lan và Ấn Độ (tính theo giờ
quy định để sản xuất ra một mặt hàng)
1 tấn giấy 1 m hàng dệt
Ở Phần Lan 10 15
Ở Ấn Độ 40 20
Vì 15/10 < 20/40 (nói cách khác 10/40 < 15/20, Phần Lan có lợi thế cạnh tranh về
sản xuất giấy và ấn Độ về dệt may)
*Mô Hình Lợi Thế Cạnh Tranh Của Heckscher-Ohlin:
Theo Heckscher - Ohlin thì lợi thế cạnh tranh khác nhau giữa các nước là do
sự khan hiếm tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau, sự khan hiếm khan
hiếm khác nhau đó còn do cơ cấu các nguồn lực sẵn có và các giai đoạn phát triển
khác nhau. Xem xét mô hình cạnh tranh dưới đây:
Ngành dệt cần nhiều lao động hơn trong sản xuất và giấy cần nhiều vốn hơn
nếu:
giấy > ngành dệt
Và Phần Lan nhiều vốn hơn còn Ấn Độ nhiều lao động hơn nếu:
Phần Lan < Ấn Độ
Điều này có nghĩa là Phần Lan (nơi giá vốn khá rẽ) có lợi thế cạnh tranh về
sản xuất những hàng hoá cần nhiều vốn (như giấy) và ấn Độ (nơi vốn khá đắt và
11
hiếm) lại có lợi thế cạnh tranh về những mặt hàng cần nhiều lao động. Khi trao đổi
thương mại diễn ra, Phần Lan nên xuất khẩu giấy sang ấn Độ và nhập khẩu hàng
dệt.
*Cả hai đều cần được minh hoạ bằng mô hình giá cả hàng hoá như bảng dưới
đây. Từ đó, có thể thấy rằng cứ mỗi 4 tấn giấy Phần Lan xuất bằng đường biển
sang ấn Độ, họ sẽ thu về hơn 1m vải (và có thể gần 2m), trong khi đó, nếu không
trao đổi cứ mỗi 4 tấn giấy được dùng trong nước sẽ chỉ mua được 1m vải. Tương
tự, cứ mỗi m vải ấn Độ xuất sang Phần Lan sẽ thu về được 2 tấn giấy (có thể lên
tới 4 tấn) mà nếu không trao đổi mỗi mét vải bán đi chỉ thu về được 2 tấn giấy.
Giá cạnh tranh của hàng dệt may và giấy ở Phần Lan và ấn Độ trước khi có
trao đổi thương mại
Phần
Lan
Ấn Độ
Hàng dệt may (m) FM 80 Rs.200
Giấy (tấn) FM 20 Rs.100
Giá trước khi trao đổi của 1m hàng dệt tính
theo tấn giấy
1m vải
có giá bằng
4 tấn giấy
1m vải
chỉ bằng 2 tấn
giấy
Nhận xét: trước khi đem trao đổi, vải giá cao hơn ở Phần Lan so với giá
của nó ở Ấn Độ, tức là Phần Lan có lợi thế cạnh tranh về sản xuất giấy và Ấn
Độ về sản xuất hàng dệt may
12
*Nguốn Gốc hay Cơ Sở Cho Lợi Thế Cạnh Tranh:
-Lợi thế về kỹ thuật: Một nước có thể có lợi thế về kỹ thuật trong sản xuất cả
hai sản phẩm hơn nước kia nhưng sự khác nhau về lợi thế có thể lớn hơn trong
một mặt hàng.
-Các khoản thiên phú: Một nước (như Ấn Độ) có thể được thiên phú nhiều
hơn các nước khác (như Phần Lan) về nguồn lực (như lao động) , tài nguyên thiên
nhiên sẵn có, đất đai, khí hậu....đó là những lợi thế so sánh sẵn có, nhưng không
hẳn là đó là những lợi thế cạnh tranh nếu như không biết khai thác, biến cái lợi thế
so sánh đó thành lợi thế cạnh tranh của mình, ví dụ, như Việt Nam có lợi thế về
nguồn lao động rẻ, dồi dào, tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa hình 3/4 là đồi
núi... Đấy là điều kiện, lợi thế rất có lợi cho việc sản xuất các mặt hàng xuất khẩu
chế biến từ gỗ, nếu chúng ta biết sử dụng lợi thế so sánh đấy một cách hợp lý, để
biến thành lợi thế cạnh tranh. Như nhà nước có các chính sách phát triển, quy
hoạch trồng rừng, đào tạo tay nghề lao động, đầu tư trang thiết bị....thì hiệu quả sẽ
rất lớn, các sản phẩm xuất khẩu sẽ có năng lực cạnh tranh cao về tất cả các mặt,
chi phí, giá thành, chất lượng...
Từ cơ sở các học thuyết trên, thấy rằng việc sử dụng lợi thế cạnh tranh trong
một nền kinh tế là quá trình lựa chọn cơ cấu nghành phù hợp, phát huy được
những lợi thế hiện có thành lợi thế cạnh tranh. Theo lý thuyết này thì các hàng hóa
khác nhau đòi hỏi sự kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau, mỗi nước phải lựa
chọn một cơ cấu ngành phù hợp với cơ cấu nguồn lực hiện có.
Cơ cấu các nguồn lực của một quốc gia luôn luôn thay đổi, do đó cách thức
khai thác các nguồn lực cũng phải thay đổi theo. Một nền kinh tế khai thác tốt lợi
thế cạnh tranh sẽ nhanh chóng nhận ra sự thay đổi đó. Theo các học thuyết cổ
điển, các yếu tố đầu vào của sản xuất bao gồm đất đai, tài nguyên khoáng sản, kết
cấu hạ tầng, lao động, vốn... trong đó, đất đai hoặc tài nguyên khoáng sản là những
yếu tố có giới hạn bởi vậy phải " sử dụng như thế nào ". Phải tìm ra một tỉ lệ sử
dụng các nguồn lực và phân bố sản xuất như thế nào cho từng giai đoạn phát triển
của nền kinh tế để khai thác lợi thế cạnh tranh một cách tốt nhất, bên cạnh việc
khai khác thì đồng thời phải có kế hoạch khôi phục phát triển các lợi thế, nguồn
lực để phát triển một cách bền vững.
13
1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.3.1. Các tiêu chí thuộc sản phẩm
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một sản phẩm thì phải dựa trên các yếu
tố thuộc về sản phẩm để đánh giá, các yếu tố về: Tính năng, chất lượng, giá cả, sự
tiện ích, mẫu mã...
- Tính năng của sản phẩm đó có phù hợp với yêu cầu của khách hàng hay
không: Sản phẩm có tính năng, công dụng phù hợp hơn với yêu cầu của khách
hàng sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn.
- Mức độ hấp dẫn của sản phẩm đó về mẫu mã kiểu cách so với các đối thủ
cạnh tranh. Trong quá trình quyết định mua của mình khách hàng thường xem xét
mẫu mã, kiểu dáng của sản phẩm có phù hợp với yêu cầu và thị hiếu của mình hay
không trước khi tìm hiểu những thông tin khác về sản phẩm.
- Mức chênh lệch về giá của mặt hàng đó so với các đối thủ cạnh tranh. Rõ
ràng giá cả là một trong những yếu tố quan trọng nhất thể hiện năng lực cạnh tranh
của sản phẩm. Với hai sản phẩm tương tự nhau, khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm
nào có giá thấp hơn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của marketing và quá trình
khác biệt hoá sản phẩm hiện nay hầu như không thể tìm thấy hai sản phẩm hoàn
toàn giống nhau trên thị trường. Tuy nhiên doanh nghiệp hoàn toàn có thể định giá
cho sản phẩm của mình tùy theo mục đích kinh doanh cụ thể.
Doanh nghiệp có thể đi theo chiến lược giá cao hoặc theo chiến lược giá
thấp chỉ cần mức giá đó bù đắp được chi phí, bù đắp được chi phí, đạt được mục
đích đặt ra và doanh nghiệp vẫn có thể có lãi. Nếu sự định giá cho sản phẩm tạo ra
sự chênh lệch cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường đồng thời đem
lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh thì sản phẩm
sẽ có sức cạnh tranh lớn hơn trên thị trường, sản phẩm sẽ ngày càng chiếm được
lòng tin của người tiêu dùng, thu hút được nhiều khách hàng, qua đó tăng doanh số
bán hàng và sẽ có được thị trường lớn trên thị trường.
Hay để có thể cạnh tranh bằng chiến lược giá thấp thì doanh nghiệp cần phải
xem xét khả năng hạ giá sản phẩm của đơn vị mình. Doanh nghiệp càng có nhiều
14
khả năng hạ giá thì sẽ có nhiều lợi thế hơn so với đối thủ cạnh tranh, tất nhiên còn
nhiều yếu tố liên quan đến như, chất lượng sản phẩm...Tuy nhiên khả năng hạ giá
thành còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chi phí sản xuất, chi phí quản lý, tiềm
lực tài chính của doanh nghiệp, khả năng bán hàng, phân phối sản phẩm...Việc hạ
giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận
của doanh nghiệp. Bởi vậy việc định giá cao, giá thấp, giá thế giới, phụ thuộc rất
nhiều vào yếu tố, đặc tính của sản phẩm so với các sản phẩm cùng loai, hay mục
đích của doanh nghiệp, cũng như trên từng phân đoạn thị trường liên quan đến chu
kỳ sống của sản phẩm...Vì vậy, để đánh giá năng lực cạnh tranh chính xác cần
phải đánh giá thêm tiêu chí khác thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm như.
- Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm so với sản phẩm cùng loại
của đối thủ cạnh tranh. Ngày nay chất lượng sản phẩm là yếu tố được quan tâm
hàng đầu sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh nếu các tính năng của sản
phẩm đó vượt trội hơn so với sản phẩm cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố này có
thể đánh giá thông qua so sánh hai sản phẩm với nhau về chất lượng, độ bền. tiện
ích trong sử dụng…Đây là một trong những yếu tố tương đối dễ so sánh đối với đa
số những sản phẩm đơn giản. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm phức tạp khách hàng
không thể đánh giá ngay được chất lượng của sản phẩm. Do đó khách hàng sẽ
đánh giá chất lượng sản phẩm gián tiếp thông qua uy tín của người sản xuất, của
nước sản xuất…vì vậy xây dựng uy tín về
1.3.2. Các tiêu chí trên thị trường
Để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường, năng lực cạnh tranh so các đối
thủ khác trên cùng một thị trường dựa vào các chỉ tiêu: Doanh số bán, thị phần, hệ
thống phân phối...
- Mức doanh thu của sản phẩm đó trong từng năm: Năng lực cạnh tranh
cũng biểu hiện qua doanh thu của sản phẩm trên thị trường. Nếu sản phẩm có
doanh thu cao, tốc độ tăng doanh thu cao so với đối thủ cạnh tranh chứng tỏ sản
phẩm có năng lực cạnh tranh cao. Chỉ tiêu này thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị
trường của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh.
15
Doanh thu = số lượng hàng hóa tiêu thụ * giá cả hàng hóa ( trong một
khoảng thời gian nhất định )
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường: Thị phần của một hàng hóa trên thị
trường là tỷ lệ phần trăm mà một mặt hàng chiếm lĩnh được trên thị trường đó.
Thị phần của hàng hóa A trên thị trường = mA / M
mA: Số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M: Tổng số lượng được tiêu thụ trên thị trường
Độ lớn của chỉ tiêu này nói lên mức độ chiếm lĩnh thị trường của một sản
phẩm. Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá mức độ cạnh tranh của một sản
phẩm so với sản phẩm cùng loại khác.
Tuỳ theo loại mặt hàng, thị trường và theo quy mô của thị trường có thể xem
xét năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, thông qua đánh giá thị phần
của sản phẩm đó. Một sản phẩm được coi là có năng lực cạnh tranh cao trên thị
trường khi chúng chiếm thị phần lớn so với sản phẩm cùng loại được bán trên thị
trường. Tuy nhiên, cũng phải vận dụng chỉ tiêu này một cách linh hoạt. Với một số
sản phẩm mới ra đời, chưa chiếm lĩnh được thị trường thì không thể sử dụng chỉ
tiêu này để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó trên thị trường vì khi đó
phân tích sẽ có sự sai lệch nhất định. Đây cũng chính là cơ sở để hình thành chỉ
tiêu thứ 2 nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm là tốc độ tăng thị phần
của sản phẩm.
- Tốc độ tăng thị phần của sản phẩm đó có thể so sánh theo tính lịch sử, tức
là năm sau tốt hơn năm trước, để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Nếu
sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao. Và
ngược lại nếu thị phần của sản phẩm cạnh tranh tăng nhanh hơn thì sản phẩm có
năng lực cạnh tranh thấp hơn so với sản phẩm cạnh tranh.
- Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối cho sản phẩm càng hợp lý thì thị
phần do hàng hoá chiếm lĩnh sẽ càng lớn. Hệ thống phân phối được thiết kế hợp lý
so với cách thức phân phối của sản phẩm cạnh tranh khác, vùng với việc đẩy mạnh
16
xúc tiến bán hàng sẽ tăng thêm năng lực cạnh tranh của sản phẩm do đáp ứng được
kịp thời yêu cầu của thị trường về số lượng và chất lượng.
Một hệ thống phân phối hợp lý bao gồm mạng lưới các cơ sở giúp doanh
nghiệp đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá với mọi hình thức bán buôn, bán lẻ
vừa thích hợp với phong tục, tập quán địa phương, tiện lợi cho người tiêu dùng
đồng thời phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng.
Kênh phân phối còn giúp khách hàng tiếp cận với các dịch vụ của nhà sản
xuất dễ dàng hơn như dịch dụ trước trong và sau khi bán hàng.
1.3.3. Các tiêu chí liên quan đến quan điểm của khách hàng
Nếu như trước kia hai yếu tố chất lượng, giá cả có tính chất quyết định đến
năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì ngày nay cùng với quá trình toàn cầu hoá,
phạm vi đánh giá các tiêu chí thể hiện năng lực cạnh tranh cần phải được mở rộng
hơn. Trong quá trình đánh giá cũng cần đưa thêm các yếu tố định tính khác như
hình ảnh của các doanh nghiệp tham gia thị trường, hình ảnh của quốc gia, lòng tin
của khách hàng đối với sản phẩm, sự thoả mãn của khách hàng đối với sản phẩm,
thương hiệu của sản phẩm…
1.3.4. Một số tiêu chí khác
- Tăng trưởng xuất khẩu của sản phẩm: Việc tăng trưởng xuất khẩu sản
phẩm nhanh cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng. Ngược lại nếu tốc
độ tăng trưởng giảm hoặc đình trệ cho thấy năng lực cạnh tranh của sản phẩm
thấp. Với những yếu tố khác không đổi, những sản phẩm xuất khẩu tăng trưởng
nhanh, dù được thể hiện bằng những con số tuyệt đối nhỏ, cho thấy những sản
phẩm này có năng lực cạnh tranh cao.
- Các cơ hội cung: Một số nhân tố quyết định các điều kiện cung và năng lực
cạnh tranh sản phẩm là năng lực của các ngành phụ trợ, khả năng tiếp cận nguyên
liệu thô, công nghệ, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh nội địa v.v. Các điều
kiện cung và năng lực cạnh tranh càng cao thì tiềm năng xuất khẩu càng cao, với
điều kiện các yếu tố khác không đổi.
17
- Ưu tiên quốc gia: Chính phủ các nước đều đề ra các ưu tiên trong hầu hết
các chiến lược xuất khẩu của mình. Những ưu tiên này phần nào phản ánh những
nhận định kinh tế, như tốc độ tăng trưởng, hình thái cầu thế giới và tình hình cung
sản phẩm đó trên thị trường. Tuy nhiên, những ưu tiên này cũng phản ánh những
mối quan tâm khác như an ninh lương thực, cung của thị trường nội địa, tạo việc
làm, ưu tiên vùng, tiến bộ công nghệ v.v. Đối với những sản phẩm mà Chính phủ
ưu tiên, Chính phủ cũng sẽ có những hình thức hỗ trợ đặc biệt như các chính sách
khuyến khích, ưu tiên đầu tư. Do đó, nếu những yếu tố khác không đổi, khi sản
phẩm càng được ưu tiên thì năng lực xuất khẩu càng lớn.
- Chất lượng môi trường và xã hội của sản phẩm xuất khẩu: Giá trị của sản
phẩm xuất khẩu có thể được phản ánh không chính xác nếu chỉ xét trên yếu tố kinh
tế vì nó còn có những tác động phụ và/hay những tác động ngoại lai tích cực hoặc
tiêu cực. Những ví dụ rõ rệt nhất là những tác động ngoại lai liên quan đến môi
trường, sản phẩm xuất khẩu có thể có những tác động tiêu cực lớn hoặc nhỏ đối
với môi trường tuỳ theo công nghệ được áp dụng. Những chi phí này xã hội phải
gánh chịu, chứ không phải là người nhập khẩu hay thị trường. Những tác động tích
cực bao gồm tạo việc làm, trực tiếp hỗ trợ những nhóm người nghèo, nâng cao hơn
sự tham gia và tầm quan trọng của phụ nữ. Do đó, xuất khẩu sản phẩm có tiềm
năng tạo ra nhiều việc làm, không gây ra hoặc chỉ gây ra những hậu quả thấp đối
với môi trường, mang lại những lợi ích đặc biệt cho phụ nữ và người nghèo, đặc
biệt ở vùng nông thôn, cần được chú ý nhiều hơn, với điều kiện những yếu tố khác
không đổi. Hiện nay nhiều thị trường nhập khẩu đã sử dụng tiêu chí này để áp
dụng các rào cản thương mại đối với một số sản phẩm như sản phẩm dệt may phải
áp dụng tiêu chuẩn SA8000…Nếu sản phẩm của nước nào đó đáp ứng được tốt
hơn các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn.
Như vậy: Trong quá trình phân tích, đánh giá sẽ rất khó khăn cho việc lượng
hoá toàn bộ các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Vì vậy, chúng
ta phải kết hợp vừa định lượng vừa định tính nhằm xác định năng lực cạnh tranh
thực sự của hàng hoá trên thị trường. Không chỉ đánh giá trên một vài chỉ tiêu
quan trọng như: thị phần, doanh thu, giá cả...mà phải đánh giá một cách tổng hợp,
18
phải dựa trên tất cả các mặt, các yếu tố liên quan đến sản phẩm, thị trường, nhu
cầu, thị hiếu của khách hàng...
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng đồ gỗ
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng đồ gỗ Việt
Nam, ta đi nghiên cứu các quy trình từ các khâu:
Quy trình trồng gỗ → Thu mua → Chế biến → Xuất khẩu
- Quy trình trồng gỗ: Phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của nhà nuớc từ việc đề
ra các quy định, quy hoạch, khuyến khích phát triển trồng rừng, đến việc hỗ trợ
vốn cho nguời nông dân, nâng cao trình độ về mức đội am hiểu cũng như về kỹ
thuật để đạt đuợc sản luợng tối đa. Đối với một nuớc có khí hậu gió mùa nhiệt
đới, có sự phân chia rõ rệt về điều kiện tự nhiên giữa các vùng, các miền như
Việt Nam thì việc nghiên cứu điều kiện tự nhiên, đất đai là rất cần thiết có tính
quyết định tới việc quy hoạch phát triển từng loại cây để thu đuợc sản luợng gỗ là
cao nhất.
- Thu mua: Đi đôi với việc phát triển trồng rừng là việc thu mua nguyên liệu để
chế biến. Để đạt đuợc hiệu quả cao nhất thì nhà nuớc, các doanh nghiệp phải liên
kết, phối hợp với nguời nông dân, các hộ gia đình trồng rừng từ việc trồng rừng
đến việc khai thác, thu mua. Đây là một mối quan hệ mật thiết, lâu dài để có thể
đáp ứng đuợc nhu cầu về nguồn nguyên liệu trong nuớc.
Tuy nhiên việc thu mua nguyên liệu gỗ hiện nay là chưa đuợc hợp lý, bởi chúng ta
chưa có đuợc một kế hoạch phát triển cụ thể, lâu dài mối quan hệ giũa nhà nuớc,
các doanh nghiệp sản xuất và nguời trồng rừng là chưa có tiếng nói chung, nhà
nuớc chưa có đuợc một chính sách cụ thể để nguời nông dân chuyên sâu vào việc
phát triển rừng bởi khâu thu mua nguyên liệu là chưa ổn định, các doanh nghiệp
còn trong tình trạng tức thời, chỉ mang tính giai đoạn, tức là khi nào cần thì mới
thu mua, khi nào không cần thì thôi, bởi vậy chưa đạt đuợc hiệu quả cao, nguời
nông dân thì không khỏi lo lắng, bất ổn về đầu ra.
- Chế biến: Đây là một khâu quan trọng có tính quyết định đối với năng lực cạnh
tranh của sản phẩm, liên quan đến nhiều yếu tố, tay nghề lao động, cơ sở hạ tầng,
vốn, công nghệ…
19
Kinh nghiệm của người lao động hoặc trình độ chuyên môn của họ sẽ quyết
định đến năng suất, chất lượng của sản phẩm.
Đầu tư vào công nghệ: Nếu đầu tư vào công nghệ cao sẽ tạo ra những sản
phẩm có chất lượng phù hợp hơn với yêu cầu của người tiêu dùng hiện tại, đây là
một phương pháp hữu hiệu để sản phẩm chiếm được lòng tin của khách hàng trên
phạm vi rộng.
Đầu tư vào con người: Con người được đầu tư cùng lúc với đầu tư công
nghệ sẽ tăng khả năng sáng tạo, nâng hàm lượng chất xám làm cho sản phẩm có
tính độc đáo, chiếm lĩnh thị trường ở mức độ cao hơn. Nói cách khách nếu đầu tư
vào con người sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Bên cạnh đó càng ngày các nuớc nhập khẩu càng yêu cầu, đòi hỏi khắt khe
về tiêu chuẩn kỹ thuật, bởi vậy việc đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, là
một tất yếu nếu muốn thâm nhập vào thị truờng thế giới nói chung và thị truờng
Nhật Bản nói riêng.
- Xuất khẩu: Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của hàng hóa
xuất khẩu bao gồm những yếu tố bên ngoài như nhu cầu thị trường, liên kết ngành,
môi trường cạnh tranh và những công cụ tác động đến năng lực cạnh tranh của sản
phẩm và các biện pháp nhằm xây dựng “sức mạnh” hay “tính vượt trội” cho hàng hoá
so với đối thủ khác.
Về nhu cầu thị trường, khi thị trường khó tính các doanh nghiệp sẽ tiếp
xúc với những khách hàng khó tính từ đó hiểu rõ hơn về nhu cầu và sở thích người
tiêu dùng. Nếu muốn tăng năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp sản xuất cần
phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng tinh tế và khó tính. Phân tích và nghiên cứu
đầy đủ về quy mô và thị phần của nhu những khách hàng thông thạo Internet,
những người mua hàng di động, phải có năng lực quan sát và đáp ứng xu hướng
thị trường ...
- Vấn đề liên kết ngành, đặc biệt là hợp tác liên kết quốc tế bao gồm những
nhà cung cấp và các ngành liên quan thường xảy ra ở cấp độ khu vực hơn là cả
nước. Khả năng duy trì các liên kết quốc tế có tầm quan trọng ngày càng lớn đối
20
với các nước đang phát triển (UNCTAD, 1999). Do quá trình toàn cầu hoá, tự do
hoá thương mại và quá trình hội nhập diễn ra ngày càng sâu rộng, vị thế cạnh tranh
của hàng hóa của các nước đang phát triển ngày càng xoay quanh khả năng thiết
lập các liên kết quốc tế của các doanh nghiệp và các ngành,
Môi trường cạnh tranh. Sự phát triển của năng lực cạnh tranh của sản phẩm
chịu ảnh hưởng bởi các chính sách của chính phủ. Chính phủ đóng vai trò then
chốt trong việc tạo ra môi trường cạnh tranh, tính cạnh tranh. Cụ thể là tác động
đến nội dung và phạm vi của các hoạt động xuất nhập khẩu, các yếu tố về môi
trường thể chế, chính sách, các mối liên kết xuyên quốc gia... Các chính sách và
biện pháp của chính phủ đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát
triển. Cần xác xây dựng các chương trình và sử dụng các công cụ nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho các ngành nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của
mình. Tuy nhiên, việc phân tích các chương trình cụ thể này phải xem xét các điều
kiện và khuôn khổ kinh tế tổng thể, bằng cách kiểm soát ảnh hưởng của các nhân
tố như ổn định kinh tế vĩ mô, sự cởi mở trong chính sách thương mại và chế độ
đầu tư.
Năng lực tiếp thị ở tầm vĩ mô: Khả năng thu thập, phân tích thông tin của các
cơ quan đại diện chính phủ ở nước ngoài, các cơ quan nghiên cứu tầm cỡ quốc gia.
Các chiến lược phối hợp quốc gia, chính sách thương mại trong việc hỗ trợ sản
phẩm thâm nhập thị trường nước ngoài như chính sách thuế, chương trình tín
dụng, hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp trong xúc tiến thương mại- tìm kiếm
khách hàng, khuyến khích và ưu đãi đầu tư ra nước ngoài.
Năng lực tổ chức tiếp thị ở tầm vi mô phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ, khả
năng thu thập và phân tích thông tin của nhân viên nghiệp vụ marketing. Khả năng
khám phá thị trường và tiếp cận thị trường với phí tốn thấp nhất. Cách thực lựa các
chiến lược, kỹ thuật phù hợp với loại sản phẩm để áp dụng vào công tác tiếp thị
như quảng cáo, phân phối tài liệu, hội chợ, khuyến mãi...nhằm tăng thị phần hàng
hoá.
Vì vậy để nâng cao đuợc năng lực cạnh tranh của hàng đồ gỗ xuất khẩu của
Việt Nam, đảm bảo năng lực cạnh tranh bền vững thì việc đảm bảo các khâu sự
21
gắn kết giữa các khâu, từ trồng rừng, thu mua, chế biến, xuất khẩu là rất cần thiết,
mang tính quyết định đến năng lực cạnh tranh trên thị truờng quốc tế. Từng khâu
một có hoạt động tốt thì sản phẩm mới có đuợc sức cạnh tranh cao. Bởi vậy có
một sự thực là, trong khi nuớc ta có điều kiện rất tốt để phát triển trồng rừng
nhưng các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ phải mua 80% nguyên liệu từ các nuớc
khác, đó là hậu quả của việc chúng ta có đuợc một kế hoạch để phát triển một cách
toàn diện giữa các khâu.
1.5. Một số mô hình cạnh tranh
1.5.1. Mô hình 5 nhân tố của M.Porter
Theo quan điểm của M.porter các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của
hàng hóa có thể tổng hợp thành 5 nhóm nhân tố cơ bản và được coi là năm sức
mạnh tác động đến cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường. Và thông qua năm
nhóm nhân tố này chúng ta có thể đánh giá được thực trạng sức cạnh tranh hàng
Mô hình 1.1. Mô hình cạnh tranh 5 nhân tố của M.Porter
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại là những công ty, doanh nghiệp đang hoạt
động sản xuất kinh doanh trong một ngành nhất định, những công ty, doanh
Sản phẩm thay thế
Nhà cung ứng
Các đối thủ cạnh
tranh hiện tại
Đối thủ cạnh tranh
tiềm ẩn
Khách hàng
22
nghiệp này đã vượt qua những rào cản để xâm nhập vào ngành hoặc những hãng
muốn rút lui nhưng chưa có cơ hội.
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại của trong ngành quyết định mức độ và tính
chất tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong ngành mà mục đích cuối cùng là giữ
vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo có thể có được mức lợi nhuận cao
nhất. Chúng ta có thể đánh giá sức cạnh tranh hàng hóa của doanh nghiệp qua đối
thủ cạnh tranh hiện tại bằng cách so sánh tương quan giữa doanh nghiệp ta và đối
thủ hiện tại về thị phần hàng hóa chiếm lĩnh hiện tại, về môi trường sản xuất, về
tiềm năng...Nếu mọi yếu tố trên mà đối thủ cạnh tranh hiện tại tốt hơn thì sản
phẩm của doanh nghiệp kém sức cạnh tranh hơn và ngược lại...
Nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giá
chính xác mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng và chiến lược hiện tại
của những đối thủ cạnh tranh hiện tại, đặc biệt là đối thủ cạnh tranh hiện tại chính
để là cơ sở đánh giá được sức cạnh tranh của mình trên thị trường để xây dựng
chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung.
23
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Khi một ngành có sự tăng thêm về số lượng các đối thủ cạnh tranh mới thì hệ
quả có thể là tỷ suất lợi nhuận bị giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh. Các đối
thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường sau, nên họ có khả năng ứng dụng
những thành tựu mói của khoa học, công nghệ. Sự xuất hiện của một đối thủ cạnh
tranh mới trong ngành thường thông qua việc mua lại các doanh nghiệp đang hoạt
động, nhưng đang có ý định rút lui khỏi ngành.
Không phải bao giờ cũng gặp phải các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng, nhưng
khi đối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi. Vì
vậy, doanh nghiệp cần tự tạo một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của đối thủ mới.
Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hóa sản phẩm, dịch
vụ, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhập các kênh tiêu
thụ...
Các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng bao gồm các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt
động của một công ty, như các nhà cung cấp vốn, nguyên liệu...Các nhà cung ứng
có thể gây áp lực khá mạnh tới hoạt động của công ty. Cho nên, việc phân tích và
tìm hiểu các nhà cung ứng là vấn đề quan trọng trong quá trình phân tích cạnh
tranh.
Khách hàng
Là đối tượng chính của hoạt động kinh doanh. Nếu doanh nghiệp nào đáp
ứng tốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được
sự ủng hộ và trung thành từ phía khách hàng.
Về mặt lý thuyết, lợi ích của khách hàng và của nhà sản xuất thường mâu
thuẫn với nhau. Khách hàng mong muốn có được những chủng loại hàng hóa và
dịch vụ với chất lượng tốt nhất và giá cả thấp nhất. Còn nhà sản xuất lại mong
muốn khách hàng trả cho hàng hóa của họ mức giá cao.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt thì vai trò của khách hàng càng trở nên
quan trọng và cần được ưu tiên hơn. Một doanh nghiệp không thể thỏa mãn được
tất cả nhu cầu của các loại khách hàng cho nên nhất thiết các doanh nghiệp phải
phân loại khách hàng thành các nhóm khác nhau. Trên cơ sở đó mới tiến hành
24
phân tích và đưa ra các chính sách thích hợp để thu hút ngày càng nhiều khách
hành về phía mình.
Sản phẩm thay thế
Sức ép do xuất hiện sản phẩm thay thế làm hạn chế lợi nhuận tiềm năng của
ngành do mức giá cao nhất bị khống chế. Nếu không chú ý tới các sản phẩm thay
thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại ở các thị trường nhỏ bé. Vì vậy, các
hãng không ngừng nghiên cứu và tung ra các mặt hàng thay thế. Muốn đạt thành
công thì phải luôn cập nhật các công nghệ mới của nhân loại vào sản xuất và hoạt
động kinh doanh.
1.5.2. Mô hình phân tích SWOT
SWOT viết tắt của 4 từ: Thế mạnh ( Strenghts ); điểm yếu ( Weaknesses );
cơ hội ( Opportunities ); đe dọa ( Threats ).
Là mô hình được dùng phổ biến trong thực tế để đánh giá hoạt động của
một công ty, một ngành từ đó rút ra được những chiến lược hợp lý cho hoạt động
của công ty hoặc cho ngành đó trong thời gian tới.
Mô hình này bao gồm 2 mảng: S-W, là các nhân tố bên trong, chủ quan như
nhân sự, tài chính, công nghệ, uy tín, tiếng tăm, mối quan hệ, văn hóa, truyền
thống của tổ chức,...
O-T, là nhân tố đến từ môi trường bên ngoài vì những nhân tố đó đến từ
môi trường khách quan. Những khía cạnh liên quan đến cơ hội và mối đe dọa có
thể do sự biến động của nền kinh tế ( tăng trưởng hay suy thoái ), sự thay đổi trong
chính sách của Nhà nước, cán cân cạnh tranh thay đổi...Nếu như việc phân tích
này được thực hiện một cách kỹ lưỡng và sáng suốt, các chiến lược cấp ngành đề
ra có thể nắm bắt được các cơ hội và sẵn sàng đối phó với các đe dọa có thể xảy
ra.
1.6. Kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm đồ gỗ của
Trung Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.6.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là thị trường cung cấp lớn nhất về sản phẩm đồ gỗ cho các thị
trường nhập khẩu, các sản phẩm đồ gỗ của Trung Quốc có khả năng cạnh tranh
lớn. Đây là kết quả điều chỉnh của Chính phủ Trung Quốc mang lại nhằm nâng
25

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×