Tải bản đầy đủ

Mô hình kinh doanh theo mạng MLM.doc

Chương 1. Mở đầu
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay, các
công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày càng mạnh mẽ. Hàng loạt công ty nước
ngoài đã, đang xây dựng hệ thống phân phối theo mô hình kinh doanh theo mạng
(MLM) tại Việt Nam với hệ thống phân phối của họ là các công ty có quốc tịch Việt
Nam hay những công ty do chính họ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ quản
lý, bên cạnh những công ty MLM xuất hiện trong bối cảnh trên còn có những công ty
“made in Việt Nam”, và nhìn chung những công ty này, tồn tại như là thế hệ doanh
nghiệp tiên phong trong lĩnh vực MLM ở nước ta, đang không ngừng lớn mạnh, nhiều
công ty trong số đó có cả mạng lưới phân phối quy mô toàn quốc với số lượng người
tham gia rất lớn bao gồm đủ mọi thành phần, đủ lứa tuổi và doanh số bán của chúng
là những con số khổng lồ. Vì vậy và vì bản chất của MLM mà ta sẽ phân tích kỹ ở
phần sau, MLM tuy xuất hiện tại Việt Nam chưa lâu nhưng nó có những ảnh hưởng
rất đáng quan tâm đến nền kinh tế.
MLM là tốt hay xấu? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm khi họ có suy
nghĩ rằng họ có nên gia nhập vào loại hình kinh doanh này hay không
Hiện nay, các hoạt động kiểu MLM có thể diễn ra bất cứ nơi đâu. Đặc biệt, TP
Cần Thơ nay được nhiều người biết như là một thị trường mới nổi nhưng đã gần như

sắp bùng nổ trong lĩnh vực kinh doanh theo mạng. Các hoạt động tiếp thị luôn cực kỳ
sôi nổi, bên cạnh đó số lượng người tham gia vào lĩnh vực này ngày càng nhiều do sự
chiêu mộ rầm rộ của các công ty MLM. Những điều này tác động không nhỏ đến nền
kinh tế, đến lao động và tác động hoàn toàn không nhỏ đến đội ngũ sinh viên. Những
vấn đề khá khái quát nêu trên cho thấy rằng MLM là mô hình kinh doanh tuy khá mới
mẻ nhưng nó đang tồn tại như là một vấn đề nhạy cảm và nóng bỏng.
Vì vậy, MLM là mô hình kinh doanh cần được quan tâm thích đáng và việc
nghiên cứu về nó là cần thiết. Việc làm rõ bản chất và thực trạng của MLM sẽ giúp
cho nhiều người có thể nhìn rõ hơn, trước hết là bản chất của nó, và công việc thuộc
lĩnh vực MLM mà mình đã chọn hoặc đang tìm hiểu, ngoài ra, từ quá trình nghiên cứu
có thể đưa ra những phương hướng phát triển mô hình MLM đúng pháp luật đóng góp
1
Chương 1. Mở đầu
vào sự phát triển kinh tế nước nhà và cũng có thể đưa ra các giải pháp khắc phục
những mặt tiêu cực để trả MLM về một loại hình kinh doanh lành mạnh thật sự có lợi
cho người tham gia vào nó.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Phản ảnh tình hình kinh doanh theo mạng ở Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ
nói riêng. Từ đó đề ra giải pháp góp phần phát huy lợi thế của MLM vào phát triển
kinh tế, khắc phục hạn chế, tiêu cực xuất phát từ mô hình kinh doanh này.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Phân tích, làm rõ mô hình MLM.
Phản ánh khái quát về tình hình MLM tại Việt Nam và thực trạng MLM tại TP
Cần Thơ.
Đề xuất phương hướng, tận dụng và phát huy thế mạnh của MLM, giải pháp
khắc phục những hạn chế, tiêu cực xuất phát từ mô hình này nhằm trả MLM hiện tại
về một mô hình kinh doanh lành mạnh như luật định.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Kinh doanh theo mạng hay MLM là gì?
Trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay có cần loại hình kinh doanh như MLM
không?
Ở Việt Nam nói chung vàTP Cần Thơ nói riêng, MLM đã, đang và sẽ phát triển
như thế nào?
Những ưu điểm, hạn chế và mặt tiêu cực của MLM là gì và người ta nghĩ gì về
nó? Biện pháp khai thác ưu điểm, khắc phục mặt hạn chế, tiêu cực của nó?
1.4. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Xoay quanh việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
Về không gian: Nghiên cứu sẽ trình bài khái quát về thực trạng MLM ở Việt
Nam và MLM tại TP Cần Thơ.


Về thời gian: Nghiên cứu tập trung vào các năm 2005-2010, ngoài ra, các năm
trước 2005 sẽ được trình bày sơ lược.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
1.5.1. Phương pháp luận và phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Vận dụng lý thuyết kinh tế vi mô và vĩ mô cùng với thống kê kinh tế, căn cứ vào
các văn bản, quy phạm pháp luật để phân tích, làm rõ vấn đề.
1.5.2. Phương pháp thu thập số liệu
2
Chương 1. Mở đầu
Số liệu thứ cấp: Thu thập từ các cơ quan quản lý kinh tế và các cơ quan có liên
quan, từ các công ty MLM, từ tài liệu tham khảo, báo chí và internet.
Số liệu sơ cấp: Thu thập trực tiếp từ các đối tượng đang hoạt động trong lĩnh
vực MLM và kể cả những người chưa tham gia.
3
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
CHƯƠNG 2
KHÁI QUÁT VỀ MLM. THỰC TRẠNG MLM TẠI VIỆT NAM NÓI
CHUNG, TP CẦN THƠ NÓI RIÊNG
2.1. Khái quát về MLM
2.1.1. MLM là gì và nguyên lý vận hành của nó
2.1.1.1 Khái quát về MLM
Kinh doanh theo mạng viết tắt là MLM-Multi Level Marketing, chỉ một phương
thức bán hàng trong đó vấn đề tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm được thực hiện qua một
cơ cấu nhiều tầng là các mạng lưới phân phối bao gồm những nhà phân phối (NPP) có
nhiệm vụ phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng và xây dựng mạng lưới phân
phối. Những người này hoạt động độc lập và mỗi NPP có thu nhập được tính theo
những tỉ lệ nhất định trên doanh số bán hàng của chính NPP và của mạng lưới do NPP
này xây dựng.
Ở Việt Nam MLM còn được gọi là bán hàng đa cấp, tiếp thị mạng lưới, hợp tác
tiêu thụ…Dù tên gọi là gì thì bản chất của nó cũng không có sự khác biệt so với
MLM trên thế giới. Khoản 11 điều 3 Luật Canh Tranh 2005 của Quốc hội nước ta quy
định kinh doanh theo mạng như sau:
“Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều
kiện sau đây:
a) Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người
tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau;
b) Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người
tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng hoặc địa điểm khác không phải
là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc của người tham gia;
c) Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng
hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia
4
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
bán hàng đa cấp cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được
doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.”
2.1.1.2. Nguyên lý vận hành
Nguyên lý vận hành của MLM khá đơn giản: Chia sẻ thông tin trực tiếp và phát
triển theo cấp số nhân. Mạng lưới phân phối của các công ty MLM sẽ đảm nhận hoàn
toàn vai trò chia sẻ thông tin trực tiếp như là một biện pháp hữu hiệu thay thế cho các
công cụ tiếp thị, quảng cáo truyền thống: Các NPP sẽ sử dụng sản phẩm của công ty,
cảm nhận chất lượng của nó, rồi giới thiệu nó đến mọi người kích thích nhu cầu tiêu
thụ.
Nguyên lý phát triển được xây dựng trên nền tảng là chia sẻ thông tin trực tiếp,
phát triển theo nghĩa thông thường là phát triển mạng lưới phân phối, nó cũng bao
gồm cả việc phát triển thị trường và lượng sản phẩm tiêu thụ. Theo nguyên lý này,
mỗi NPP hiện hữu của doanh nghiệp phải xây dựng mạng lưới cho mình bằng cách
bảo trợ người mới gia nhập vào mạng lưới phân phối và trở thành người đỡ đầu của
người do mình bảo trợ, Người được bảo trợ là tuyến dưới trực tiếp của người đỡ đầu
và đương nhiên là NPP của công ty. Mỗi NPP khi đạt chỉ tiêu nhất định do công ty
quy định sẽ có quyền bảo trợ nhiều người. Hầu hết NPP đủ tiêu chuẩn không ngừng
mở rộng mạng lưới của mình dẫn đến lượng NPP của công ty có thể tăng lên rất
nhanh theo một cấp số nhân. Trên lý thuyết, việc NPP thứ nhất bảo trợ một người làm
NPP thứ 2, rồi NPP thứ 2 bảo trợ một người làm NPP thứ 3, rồi NPP thứ 3 bảo trợ
một người khác nữa, cứ như thế, quá trình này có thể kéo dài vô tận. Chính việc đội
ngũ phân phối tăng không ngừng theo cấp số nhân khiến cho thị trường của công ty
tăng lên nhanh chóng.
Hình 2. Sơ đồ minh họa nguyên lý phát triển cho một mạng lưới
5
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
2.1.2. Sơ đồ kinh doanh và sơ đồ trả thưởng
2.1.2.1 Sơ đồ kinh doanh
Mỗi công ty MLM đều có mục đích hàng đầu là phát triền nhanh chóng mạng
lưới. Nhưng do đặc thù quản trị và những mục tiêu cụ thể của mỗi công ty mỗi khác
nên mỗi công ty thiết kế cho mình một sơ đồ kinh doanh và các NPP của nó dựa vào
đó để xây dựng mạng lưới cho mình. Trên thế giới có hàng chục ngàn công ty kinh
doanh theo mạng, thì cũng có một số lượng rất lớn sơ đồ kinh doanh, tuy nhiên, chúng
là những kết hợp hoặc là những biến tấu của các sơ đồ: Sơ đồ đơn cấp, sơ đồ bậc
thang, sơ đồ bậc thang ly khai, sơ đồ ly khai, sơ đồ nhị phân, sơ đồ ma trận, sơ đồ đều
tầng. Dưới đây xin giới thiệu 4 sơ đồ phổ biến:
Sơ đồ bậc thang ly khai hay bậc thang thoát ly: Một NPP có thể vươn lên những
vị trí cao hơn người đỡ đầu của mình, và hoàn toàn có thể tách rời khỏi mạng lưới của
người đỡ đầu nếu anh ta đã đáp ứng được những tiêu chuẩn nhất định về cấp bậc.
Doanh số bán hàng của NPP này không còn được tính vào doanh số người đỡ đầu, lúc
bấy giờ NPP đã ly khai. Luôn có điều kiện nếu người đỡ đầu đáp ứng sẽ được nhận
hoa hồng trên doanh số của nhóm ly khai, điều kiện này thông thường là yêu cầu về
chỉ tiêu bán hàng. Sơ đồ bậc thang ly khai được nhiều người đánh giá là kế hoạch trả
thưởng tuyệt vời, một NPP thành công có thể được hưởng hoa hồng trên hàng trăm
cấp bậc. Nó thúc đẩy các NPP tích cực hoạt động và thăng tiến, nó cũng tạo ra một
môi trường cạnh tranh giữa các NPP và tạo động lực cho NPP vươn cao... Vấn đề ở
chỗ nó có thể làm việc quản lý trở nên phức tạp, nó kích thích các NPP mua hàng
nhiều chỉ để đạt được chỉ tiêu nhận doanh số từ nhóm thoát ly khỏi hệ thống của
mình. Đôi khi người đỡ đầu nhận thấy rằng sơ đồ này đầy những bất công khi họ
không còn nhận được lợi ích gì từ những nhóm ly khai có thủ lĩnh do mình bảo trợ.
Tuy có nhiều hạn chế nhưng sơ đồ bậc thang ly khai được đánh giá là nó có khả năng
“biến giấc mơ thành hiện thực” và nó còn tồn tại lâu dài trong ngành MLM.
Sơ đồ ma trận: Sơ đồ này xuất hiện khi máy tính được sử dụng rộng rãi, nó quy
định số lượng người tối đa trong tuyến dưới trực tiếp của NPP đồng thời nó cũng quy
định số tầng tối đa mà mỗi NPP có thể được hưởng hoa hồng. Như vậy sơ đồ ma trận
quy định kích thước tối đa của một mạng lưới phân phối của một NPP. Cụ thể một sơ
đồ ma trận m x n quy định mỗi NPP không được phép có quá m người thuộc tuyến
dưới trực tiếp và được hưởng hoa hồng tính trên số lượng tầng không vượt quá n. Khi
một NPP đã có m người ở tuyến dưới trực tiếp, anh ta vẫn có thể giới thiệu người
khác vào mạng lưới của mình nhưng những người này được phân bổ vào những chỗ
6
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
còn trống trong mạng lưới của ai đó trong tuyến dưới trực tiếp của NPP trên. Đây
được gọi là ‘‘công thức trám’’ tự động. Những nhà sáng lập sơ đồ này khẳng định sơ
đồ ma trận tạo điều kiện cho tuyến trên hỗ trợ tuyến dưới và duy trì sự năng động của
những người tham gia vì họ không muốn mất đi những tuyến dưới “miễn phí” được
cung cấp từ tuyến trên của họ. Những người không ủng hộ có quan điểm ngược lại
khi cho rằng sơ đồ ma trận mang đến một cách trả thưởng hấp dẫn cho những NPP
yếu kém hoặc không làm việc và không công bằng cho các thủ lĩnh bởi “công thức
trám” tự động. Thời gian sẽ trả lời trả lời sơ đồ này có thể tồn tại thêm bao lâu.
Sơ đồ nhị phân: Sơ đồ nhị phân thực chất là một sơ đồ ma trận 2 x i, i tiến đến
vô cùng. Như vậy mỗi NPP không thể có quá 2 người ở tuyến dưới trực tiếp nhưng
được hưởng hoa hồng trên số tầng không hạn chế. Theo sơ đồ này mỗi NPP sẽ có hai
nhánh (2 chân) là 2 mạng lưới phân phối của 2 tuyến dưới trực tiếp, NPP được hưởng
hoa hồng càng cao khi hai chân có doanh số càng gần bằng nhau. Tính chất của sơ đồ
đòi hỏi tuyến trên phải hỗ trợ tuyến dưới nên tạo ra một mạng lưới khá bền vững.
Trong một mạng lưới, sơ đồ làm cho người vào trước luôn có lợi hơn người vào sau
và người vào sau không thể vượt qua người vào trước. Khuyết điểm nghiêm trọng của
nó là những NPP lười biếng có thể chỉ biết trông chờ vào sự trợ giúp của tuyến trên,
và hai chân có tốc độ phát triển có thể rất khác nhau nên việc cân đối hai chân là một
thách thức thật sự.
Sơ đồ đều tầng: Cho phép NPP có số lượng tuyến dưới trực tiếp là không giới
hạn, và NPP muốn đi lên nhất thiết phải hỗ trợ tuyến dưới của mình phát triển. Một
NPP nếu muốn thành công phải phát triển không ngừng mạng lưới của mình theo
chiều rộng-có tuyến dưới trực tiếp càng nhiều càng tốt và theo chiều sâu-gia tăng số
lượng tầng trong mạng lưới của mình. Nhưng việc đạt hiệu quả đồng thời ở hai mục
tiêu trên là không dễ dàng. Tính ổn định của sơ đồ này không cao do không có giới
hạn về chiều rộng. Nhiều NPP nhận xét rằng sơ đồ này là đất dụng võ cho những NPP
tài năng.
Điều quan trọng khi đánh giá sơ đồ kinh doanh, theo các nhà phân tích, cần phải
xem xét: Nó có tích hợp ưu thế quản lý và sức mạnh cộng tác? Năng lực NPP được
phát huy? Sơ đồ đó có đòi hỏi người đỡ đầu phải hỗ trợ tuyến dưới của mình để cả
hai cùng đi lên? Sơ đồ đó có bảo đảm được tính cân bằng hay không, đều kiện cho
một sơ đồ cân bằng là nó vừa giữ được những thủ lĩnh giỏi, vừa thu hút các NPP mới,
điều này khó đạt được. Tiếp theo, là một vấn đề đáng quan tâm khi người ta nhìn về
tương lai của mình khi dừng sự nghiệp MLM được đề cập đến trong khái niệm nghỉ
7
Hình 3. Kế hoạch tiếp thị của một công ty MLM.
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
hưu sớm: “Cho đến nay chưa có công ty nào sản sinh ra những thủ lĩnh có thể nghỉ
hưu an toàn trên sự nghiệp của họ”, Eric Worre, một doanh nhân thành đạt trong
ngành MLM nhận xét.
2.1.2.2. Sơ đồ trả thưởng
Sơ đồ trả thưởng hay kế hoạch trả thưởng, kế hoạch tiếp thị, phụ thuộc vào sơ đồ
kinh doanh, nó quy định một cơ chế trả tiền cho NPP, cho biết NPP nhận được hoa
hồng là bao nhiêu trên doanh số bán hàng cá nhân (hoa hồng cá nhân) và được nhận
những mức hoa hồng là bao nhiêu trên doanh số bán hàng của các tầng dưới trong
mạng lưới của NPP (hoa hồng khối lượng). Nó cũng quy định những chỉ tiêu là điều
kiện đủ để NPP được thăng cấp bậc và/hoặc để nhận được các phần thưởng giá trị, nó
cũng quy định chỉ tiêu mà nếu NPP không đạt thì không được nhận hoa hồng khối
lượng.
Thật khó để tìm thấy một công ty nào có kế hoạch trả thưởng mang lại lợi ích
xứng đáng cho tất cả NPP vì nó phải đảm bảo rằng công ty thu được lợi nhuận lớn từ
việc bán hàng đồng thời phải thể hiện rằng NPP có thể làm giàu trên kế hoạch này.
Với những ai đang tìm hiểu về một công ty MLM thì kế hoạch trả thưởng là yếu tố
được quan tâm hàng đầu, đối với những NPP thì nó là một kế hoạch mà họ phải căn
cứ vào đó để đặt ra mục tiêu phấn đấu. Kế hoạch trả thưởng cũng như sơ đồ kinh
doanh luôn là những sơ đồ được công khai.
2.1.3. Đặc điểm chung của các công ty MLM
8
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
Thiết kế sơ đồ kinh doanh và áp dụng như một công thức mở xây dựng hệ thống
phân phối và sử dụng sơ đồ trả thưởng xác định mức thù lao và thăng hạng cho NPP,
thu hút NPP tiềm năng
Quán triệt nguyên lý chia sẻ thông tin và phát triển theo cấp số nhân.
Có các chương trình đào tạo người tham gia với nội dung chủ yếu là đào tạo
cách bán hàng và cách mở rộng mạng lưới.
Triết lý kinh doanh được cho là mục tiêu tối thượng mà công ty theo đuổi,
nhưng đối với công ty nó như một phần cốt yếu của thông điệp marketing.
Không áp dụng các biện pháp quảng cáo trên các phương tiện truyền thông,
không trưng bày sản phẩm ở các cửa hàng bán lẻ, những vai trò này được các NPP
đảm nhận.
Cho phép thừa kế, một NPP trong một công ty MLM có thể thừa kế lại toàn bộ
sự nghiệp của mình, kể cả cấp bậc và mạng lưới.
Một công ty MLM chân chính luôn có những đặc điểm như sau:
- Cung cấp sản phẩm thiết thực, chất lượng với giá cả phải chăng.
- Tuân thủ pháp luật của quốc gia nơi công ty đăng ký kinh doanh.
- Lợi ích tài chính của công ty và NPP chủ yếu là thành quả của công sức đầu tư
xây dựng và cung cấp dịch vụ thực tế.
- Công ty và NPP hoạt động nghiêm túc, có tinh thần trách nhiệm.
2.1.4. Tóm lược lịch sử phát triển của MLM
Cho đến nay ngành kinh doanh theo mạng đã tồn tại 70 năm và lịch sử của nó
gắn liền với tên tuổi nhà hóa học Karl Renborg (1887-1973), người Mỹ. Năm 1927
ông từ Trung Quốc về Mỹ nghiên cứu và chế biến các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng,
vitamin, các chất vi lượng, đa lượng. Năm 1934, K. Renborg sáng lập công ty
Vitamins California. Cuối năm 1939 nhà sáng lập đổi tên công ty thành Nutrilite
Products. Những NPP được nhận hoa hồng trên lượng hàng họ bán ra và trên những
sản phẩm được bán ra bởi những người do họ trực tiếp tìm ra. Nutrilite Products đã áp
dụng mô hình MLM sơ khai.
Năm 1959, hai NPP của K. Renborg là Rich Devos và Jey Van Andel thành lập
công ty riêng là American Way Corporation viết tắt là Amway. Hiện nay, Amway
đang hoạt động trên 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam.
Vào những năm 70, MLM chịu sức ép mạnh mẽ từ phía dư luận lẫn chính
quyền. Năm 1975 MLM bị quy kết với hình tháp ảo là hình thức kinh doanh bất
chính. Ngành MLM bắt đầu cuộc hành trình khẳng định tính đúng đắn của mình để
9
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
tồn tại mà dẫn đầu là Amway “đứng mũi chịu sào” từ 1975-1979. Cuối năm 1979 Tòa
án Thương mại Liên bang Hoa Kì tuyên bố phương thức kinh doanh của Amway
không phải là hình tháp ảo. Sau đó không lâu bộ luật đầu tiên về MLM ra đời tại Mỹ
công nhận sự tồn tại hợp pháp của mô hình kinh doanh này.
Trong ngành MLM không ai xa lạ với Richard Poe, tác giả quyển “Làn sóng thứ
3”, quyển sách này chia MLM ra các thời kỳ:
Thời kì tiềm ẩn: là giai đoạn 1940-1979, đây là thời kỳ hình thành MLM, đến
năm 1979 chỉ có khoảng 30 công ty MLM tại Mỹ.
Thời kỳ bắt đầu: 1979-1990, MLM bùng nổ, mỗi ngày có hàng trăm công ty
MLM bố cáo thành lập với đủ loại sản phẩm và sơ đồ kinh doanh.
Thời kỳ đa thị trường hay làn sóng thứ 3: 1990-1999, sự tiến bộ của công nghệ
thông tin, truyền thông đã làm cho MLM mang màu sắc mới. Việc quản trị một mạng
lưới phân phối khổng lồ trở nên dễ dàng hơn. Máy vi tính, điện thoại, internet…đã
giúp các NPP đơn giản hóa công việc của mình và có nhiều hơn thì giờ nhàn rỗi, năng
suất tăng lên đáng kể. Làn sóng thứ 3 chứng kiến cảnh các công ty truyền thống lớn
như Ford, Colgate, Canon, Coccola và nhiều công ty tên tuổi khác áp dụng MLM đẩy
mạnh bán hàng.
Từ năm 2000 trở về sau, ngành công nghiệp MLM bước vào làn sóng thứ 4,
MLM phát triển rộng khắp thế giới, hàng chục ngàn công ty MLM đã tồn tại một cách
hợp pháp và xây dựng mạng lưới phân phối vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Ngày
nay vai trò quan trọng của MLM trong nền kinh tế toàn cầu đã được thừa nhận. Cùng
với thương mại điện tử, MLM đang tạo một làn sóng mới trong nền kinh tế hiện nay.
2.1.5. Bản chất của MLM
Từ khi ra đời đến nay MLM nhiều lần va chạm với pháp luật và báo giới. Thực
tế đúng như mọi người điều biết nó là một loại hình kinh doanh gây nhiều tranh cãi
trong hàng chục năm qua.
MLM không hoạt động theo công thức mà nó là một mô hình kinh doanh được
các công ty khác nhau vận hành khác nhau nên nói chung hình thức tồn tại trong nền
kinh tế của nó rất phong phú, trong khi những biến tướng của nó hay MLM bất chính
phát triển cũng khá nhanh dưới danh nghĩa MLM nên cũng không ngạc nhiên khi
MLM và MLM bất chính đôi khi được xem là một. Đây là một lý do chính giải thích
nguồn gốc những tranh cãi về bản chất MLM. Những người phản đối MLM tin rằng
họ có những bằng chứng không thể chối cãi chứng minh rằng MLM là xấu, gây thiệt
hại cho mọi người ngoại trừ những người đứng đầu công ty. Ngược lại, những người
10
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
bênh vực MLM luôn cố gắng chứng minh MLM không có gì là sai trái và nó là mô
hình kinh doanh phù hợp với xu thế phát triển và mang lại lợi ích cho xã hội.
Đến đây câu hỏi đặt ra là rốt cuộc, MLM tốt hay xấu? Cho dù câu trả lời là nó
tốt hay nó xấu vẫn luôn có nhiều ý kiến bác bỏ vì đây đang là tiêu điểm của những vụ
tranh cãi không ngừng của những người quan tâm. Thay vào đó chúng ta hãy xem xét
những khía cạnh sau thay cho việc lắng nghe một câu trả lời.
- MLM đòi hỏi ở người khao khát thành công tính ham học hỏi và cần cù làm
việc, như những ngành kinh doanh khác, những người lười biếng dù có thể đạt được
một số thành tựu ban đầu nhưng rồi cũng phải rời khỏi, có thể khác với những ngành
kinh doanh khác, công ty không đào thải những ai lười biếng, mà chính sự lười biếng
đào thải chủ của chúng.
- Nguyên lý của MLM là đơn giản và dễ thực hiện, nhưng thành đạt trong lĩnh
vực này là một bài toán khó. Người bảo trợ có thể hỗ trợ tuyến dưới của mình, nhưng
mỗi NPP cần làm lấy mọi việc trên tinh thần trách nhiệm lớn lao với khách hàng.
-Triết lý của MLM là triết lý về một lối sống lành mạnh và đạo đức.
- Dù MLM đã sản sinh ra bao nhiêu triệu phú thì nó vẫn không phải là cách kiếm
tiền mới, tuyệt nhiên không phải là một công thức làm giàu. Thành công bền vững
phụ thuộc vào chính người tham gia.
Kinh doanh theo mạng khắc phục được các hạn chế trong kinh doanh truyền
thống nhưng nó không thể là mô hình kinh doanh hoàn hảo. Những điểm ưu việc của
nó dễ dàng thu hút người ngoài cuộc bước vào, còn những nhược điểm và những khó
khăn trong quá trình hoạt động cũng có thể làm các NPP nhanh chóng rời bỏ nó. Theo
quan điểm của em, MLM không có gì sai trái nếu nó được vận hành không trái pháp
luật. Còn về nó tốt hay xấu, thì cũng rõ ràng rằng thật khó để một người bênh vực
MLM phủ nhận những những lời cáo buộc loại hình kinh doanh này, và, tùy theo góc
độ quan sát ta sẽ nhìn thấy được những mặt khác nhau của nó.
2.2. Khái quát mô hình MLM ở Việt Nam
2.2.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
So với ngành công nghiệp MLM thế giới, ngành MLM Việt Nam còn rất non trẻ
với tuổi đời trên 10 năm. Từ khi xuất hiện MLM phát triển nhanh chóng và tạo ra
những làn sóng tranh luận. Bên cạnh những công ty chân chính cũng có những công
ty bất chính. Số người tham gia vào lĩnh vực này tăng nhanh.
Ở Việt Nam, kinh doanh theo mạng nhanh chóng quen thuộc với mọi người,
nhưng hiểu về hình thức kinh doanh này thì còn khiêm tốn. Khi một người thất bại
11
Chương 2. Khái quát về MLM. Thực trạng MLM tại Việt Nam nói chung, TP Cần Thơ nói riêng
trong lĩnh vực MLM có thể khiến hàng chục người lên án nó, ngược lại một người
thành công thu hút không ít người vào lĩnh vực mới mẻ này.
Từ năm 1998 đã xuất hiện một vài công ty đa cấp ở nước ta, đầu tiên là
Incomex, tiếp theo là Thế Giới Mới, rồi đến Sinh Lợi, Lô Hội, Vision. Những công ty
này phân phối các dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thực phẩm chức năng, hoạt
động với quy mô ban đầu nhỏ lẻ thường va chạm với pháp luật và khiến báo chí tốn
không ít giấy mực. Không phải công ty nào cũng làm ăn nghiêm túc nên nảy sinh
nhiều sự hiểu nhầm về mô hình kinh doanh này.
Đến cuối năm 2004 Việt Nam đã có khoảng 20 công ty bán hàng đa cấp phân
phối chủ yếu những dòng sản phẩm tiêu dùng, chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp được
sản xuất bởi các tập đoàn ở nước ngoài. Ngành MLM Việt Nam ngày càng mở rộng
trên phạm vi toàn quốc khi các công ty phát triển mạng lưới phân phối và lập ra nhiều
chi nhánh. Để đáp ứng tình hình thực tế trong nước và hòa nhập với xu thế phát triển
trên thế giới, năm 2005 hành lang pháp lý MLM tại Việt Nam dần dần hình thành các
điều luật và các quy định về bán hàng đa cấp mở ra con đường lớn cho ngành MLM
Việt Nam phát triển và tạo điều kiện cho nước ngoài đầu tư. Tính đến đầu tháng
7/2005 nước ta đã có gần 30 công ty MLM và 100000 NPP, những con số này đang
tăng lên khi Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp được
ban hành ngày 24/08/2005.
2.2.2. Tình hình kinh doanh theo mô hình MLM hiện nay
Hiện nay, tuy ngành MLM đã có luật pháp điều chỉnh nhưng thực trạng kinh
doanh vẫn rất phức tạp. Những công ty MLM hoạt động bất chính vẫn tồn tại và
không ngừng lôi kéo người tham gia để phát triển mạng lưới. Những công ty này
mang lại lợi ích tài chính cho người đứng đầu của nó và mang lại cơ hội làm giàu cho
một số người nhưng nó lại gây thiệt hại cho xã hội và tác động xấu đến môi trường
kinh doanh. Bên cạnh đó cũng có những công ty MLM tuân thủ luật pháp, đóng thuế
đầy đủ đúng hạn, tạo việc làm cho nhiều người và làm tăng ngân sách nhà nước, dưới
đây là danh sách các công ty MLM ở Việt Nam.
Danh sách các công ty bán hàng đa cấp
STT Tên công ty
Địa phương
đăng ký
Trạng thái
1 Cty CP Kim Đô TP HCM Đang hoạt động
12

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×