Tải bản đầy đủ

Làm rõ luận điểm của Mác: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”. Từ đó, trình bày suy nghĩ của bản thân về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Làm rõ luận điểm của Mác: “Tôi coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã
hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”. Từ đó, trình bày suy nghĩ của bản thân về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

1. Khái niệm về hình thái kinh tế - xã hội
Theo quan điểm của triết học Mác, xã hội không phải là sự kết hợp ngẫu nhiên giữa
các cá nhân, mà là một hệ thống có cấu trúc phức tạp gồm nhiều lĩnh vực: lĩnh vực kinh
tế; lĩnh vực chính trị; lĩnh vực ý thức, tư tưởng; lĩnh vực các quan hệ xã hội vể gia đình,
giai cấp, dân tộc... Các lĩnh vực trong xã hội liên hệ chặt chẽ với nhau, thống nhất biện
chứng với nhau. C.Mác đã khái quát như sau:
"Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất
định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những
quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật
chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức
là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và
những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó. Phương thức
sản xuất đời sống vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần
nói chung”.
Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, C.Mác đã vạch ra quan hệ sản
xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, là quan hệ cơ bản
của xã hội, là cơ sở của các quan hệ xã hội khác; nó quy định tính độc đáo riêng của từng

xã hội trong lịch sử. Trong tác phẩm Lao động làm thuê và tư bản, C.Mác viết: "Tổng
hợp lại thì những quan hệ sản xuất hợp thành cái mà người ta gọi là những quan hệ xã
hội, là xã hội, và hơn nữa hợp thành một xã hội ở vào một giai đoạn phát triển lịch sử
nhất định, một xã hội có tính chất độc đáo riêng biệt. Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã
hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy, mỗi tổng thể đó đồng thời lại
đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại”.


Khái quát đó của Mác đã cho chúng ta thấy được tính lặp lại hợp quy luật trong sự
phát triển đa dạng của các nước khác nhau, mang lại một tiêu chuẩn thật sự khách quan
để phân biệt xã hội này với xã hội khác trong lịch sử.
Căn cứ vào tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn lịch
sử, chúng ta có thể khái quát như sau: Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ
nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu
quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất định của lực
lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những
quan hệ sản xuất ấy.
Hình thái kinh tế - xã hội có cấu trúc phức tạp, mỗi yếu tố có vị trí, chức năng riêng
và luôn tác động qua lại lẫn nhau. Hình thái kinh tế - xã hội gồm ba mặt cơ bản:
Lực lượng sản xuất: là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế xã hội.
Lực lượng sản xuất là yếu tố suy đến cùng quyết định sự hình thành và phát triển của các
hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất là những
quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả những quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái
kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất tương ứng với sự phát triển của lực lượng
sản xuất. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội này với xã hội
khác. Những quan hệ sản xuất tạo thành “bộ xương” của hình thái kinh tế xã hội, nó hợp
thành cơ sở hạ tầng của xã hội.
Trên nền tảng của các quan hệ sản xuất hình thành các quan điểm về chính trị, pháp
quyền, đạo đức, triết học,…cùng các thiết chế tương ứng hợp thành kiến trúc thượng tầng
xã hội với chức năng bảo vệ duy trì, phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Trong khái
niệm hình thái kinh tế xã hội, các bộ phận luôn có quan hệ biện chứng với nhau: trong đó
quan hệ sản xuất là cái cơ bản quyết định tất cả các quan hệ xã hội khác, trong các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội, Mác đã làm nổi bật riêng lĩnh vực kinh tế, làm nổi bật
quan hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả. Điều này chỉ rõ phương
pháp nhận thức xã hội của Mác là gán toàn bộ sự phong phú của các quan hệ xã hội vào
quan hệ sản xuất, đồng thời xem xét những quan hệ sản xuất để giải thích sự vận động của


các hình thái kinh tế xã hội - hai mặt này hợp thành phương thức sản xuất nền tảng vật
chất của mọi hình thái kinh tế xã hội. Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng là mối quan hệ cơ bản để xác định diện mạo của hình thái kinh tế xã hội.
Như vậy, hình thái kinh tế - xã hội khác với xã hội loài người nói chung nhưng có
quan hệ biện chứng với nhau: hình thái kinh tế xã hội là một giai đoạn phát triển nhất định
của xã hội loài người. Tương ứng với một giai đoạn phát triển của xã hội loài người có
một hình thái kinh tế xã hội tương ứng.
Ngoài các mặt cơ bản của xã hội đã nêu trên, các hình thái kinh tế - xã hội còn có
các quan hệ khác như gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó gắn
bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi dưới sự tác động của các quan hệ sản xuất.
2. Hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên
Xã hội loài người phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau.
Trên cơ sở phát hiện ra các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội, C.Mác đã
đi đến kết luận: "Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch
sử- tự nhiên". Các mặt cơ bản hợp thành một hình thái kinh tế - xã hội: lực lượng sản xuất
quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tách rời nhau, mà liên hệ biện chứng với nhau
hình thành nên những quy luật phổ biến của xã hội. Do tác động của quy luật khách quan
đó, mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động và phát triển thay thế nhau từ thấp lên cao
trong lịch sử như một quá trình lịch sử tự nhiên không phụ thuộc và ý trí, nguyện vọng
chủ quan của con người.
Khẳng định "sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch
sủ - tự nhiên" là khẳng định: các hình thái kinh tế - xã hội vận động, phát triển theo các
quy luật khách quan, chứ không phải theo ý muốn chủ quan của con người. V.I.Lênin
viết: "Mác coi sự vận động xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chịu sự chi phối của
những quy luật không những không phụ thuộc vào ý chí, ý thức và ý định của con người
mà trái lại, còn quyết định ý chí, ý thức và ý định của con người"1.
Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình thái kinh tế - xã hội
được thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau đây:
1V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, t.l, tr. 200.


Một là, sự vận động và phát triển của xã hội không tuân theo ý chí chủ quan của con
người mà tuân theo các quy luật khách quan, đó là các quy luật của chính bản thân cấu
trúc hình thái kinh tế - xã hội, là hệ thống các quy luật xã hội thuộc các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa, khoa học,... mà trước hết và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quy luật kiến trúc thượng tầng
phù hợp với cơ sở hạ tầng.
Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội vừa bị chi phối bởi các
quy luật phổ biến, vừa bị chi phối bởi các quy luật riêng, dặc thù. Các quy luật vận động
phát triển phổ biến của xã hội là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
và các quy luật khác. Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái
kinh tế - xã hội vận động, phát triển từ thấp đến cao.
Nguồn gốc sâu xa của sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là ở
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết
định làm thay đổi quan hệ sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho
kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vận động,
phát triển từ thấp đến cao, từ hình thái kinh tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội
khác cao hơn. V.I.Lênin viết: "Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ
sản xuất, và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất
thì ngưòi ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình
thái xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên" 1. Sự tác động của các quy luật khách quan
làm cho các hình thái kinh tế - xã hội phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao, đó là con
đường phát triển chung của nhân loại.
Lực lượng sản xuất, một mặt của phương thức sản xuất, là yếu tố bảo đảm tính kế
thừa trong sự phát triển đi lên của xã hội qui định khuynh hướng phát triển từ thấp lên
cao. Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phương thức sản xuất, biểu hiện tính gián đoạn
trong sự phát triển của lịch sử. Những quan hệ sản xuất lỗi thời được xoá bỏ và được thay
thế bằng những kiểu quan hệ sản xuất mới cao hơn và hình thái kinh tế - xã hội mới cao
hơn ra đời. Như vậy, sự xuất hiện, sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội, sự chuyển


biến từ hình thái đó lên hình thái cao hơn được giải thích trước hết bằng sự tác động của
quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất. Quy luật đó là khuynh hướng tự tìm đường cho mình trong sự phát triển thay thế các
hình thái kinh tế - xã hội. Thực tế lịch sử loài người đã trải qua các hình thái kinh tế xã
hội: cộng sản nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa. Sau khi xây
dựng học thuyết hình thái kinh tế xã hội, C.Mác đã vận dụng học thuyết đó vào phân tích
xã hội tư bản, vạch rõ các quy luật vận động, phát triển của xã hội và đã đi đến dự báo sự
ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, hình thái cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn
đầu là chủ nghĩa xã hội.
Vạch ra con đường tổng quát của lịch sử, điều đó có nghĩa là giải thích được rõ ràng
sự phát triển xã hội trong mỗi thời điểm của quá trình lịch sử. Lịch sử cụ thể vô cùng
phong phú, có hàng loạt những yếu tố làm cho quá trình lịch sử đa dạng và thường xuyên
biến đổi, không thể xem xét quá trình lịch sử như một đường thẳng.
Hai là, quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, tức là quá trình thay thế
lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử nhân loại và sự phát triển của lịch
sử xã hội loài người có thể do sự tác động của nhiều nhân tố chủ quan, nhưng nhân tố giữ
vai trò quyết định chính là sự tác động của các quy luật khách quan. Dưới sự tác động của
quy luật khách quan mà lịch sử nhân loại, xét trong tính chất toàn bộ của nó là quá trình
thay thế tuần tự của các hình thái kinh tế - xã hội: nguyên thủy, nô lệ, phong kiến, tư bản
chủ nghĩa và tương lai nhất định thuộc về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Trong khi khẳng định tính chất lịch sử - tự nhiên, tức tính quy luật khách quan của
sự vận động, phát triển xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đồng thời khẳng định vai trò
của các nhân tố khác đối với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch
sử mỗi cộng đồng người cụ thể nói riêng. Đó là sự tác động của các nhân tố thuộc về điều
kiện địa lý, tương quan lực lượng chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống
văn hóa của mỗi cộng đồng người, điều kiện tác động của tình hình quốc tế đối với tiến
trình phát triển của mỗi cộng đồng người trong lịch sử, v.v. Chính do sự lác động của các
nhân tố này mà tiến trình phát triển của mỗi cộng đồng người có thể diễn ra với những
con đường, hình thức và bước đi khác nhau, tạo nên tính phong phú, đa dạng trong sự


phát triển của lịch sử nhân loại. Tính chất phong phú, đa dạng của tiến trình phát triển các
hình thái kinh tế - xã hội có thể bao hàm những buớc phát triển "bỏ qua" một hay một vài
hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Tuy nhiên, những sự "bỏ qua" như vậy đều phải có
những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định.
Con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các quy luật chung,
mà còn bị tác động bởi các điều kiện phát triển cụ thể của mỗi dân tộc, như về điều kiện
tự nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hóa, về tác động quốc tế... Vì vậy, lịch sử phát
triển nhân loại vừa tuân theo những quy luật chung, vừa rất phong phú, đa dạng.
V.I.Lênin đã chỉ ra: "Tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã
không loại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm
hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó". Tính phong phú đa dạng nói lên
tính độc đáo riêng trong lịch sử phát triển của mỗi dân tộc. Một mặt, thể hiện ở chỗ, cùng
một hình thái kinh tế - xã hội nhưng ở các nước khác nhau có những hình thức cụ thể
khác nhau; mặt khác, thể hiện ở chỗ, có những dân tộc lần lượt trải qua tất cả các hình
thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hay một
số hình thái kinh tế - xã hội nào đó. Việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch
sử - tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ quan.
Như vậy, lịch sử nhân loại nói chung, lịch sử phát triển của mỗi cộng đồng người nói
riêng vừa tuân theo tính tất yếu của các quy luật xã hội, vừa chịu sự tác động đa dạng của
các nhân tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố hoạt động chủ quan của con người. Từ đó
lịch sử phát triển của xã hội được biểu hiện ra là lịch sử thống nhất trong tính đa dạng và
đa dạng trong tính thống nhất của nó.
3. Giá trị khoa học của học thuyết Mác về hình thái kinh tế xã hội
- Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Các Mác có một giá trị to lớn và bền vững
trong việc nhận thức về xã hội. Trước khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy tâm thống
trị trong khoa học xã hội. Các nhà triết học thực chất không hiểu được qui luật của sự phát
triển xã hội. Từ đó không giải quyết một cách triệt để về phân loại loại các chế độ xã hội
và phân kỳ lịch sử. Sự ra đời của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là một cuộc cách


mạng trong toàn bộ quan niệm về xã hội. Nó đưa lại một phương pháp nghiên cứu thật sự
khoa học.
- Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội chỉ ra rằng: động lực của lịch sử không phải
do một lực lượng thần bí hay do ý thức tư tưởng quyết định mà là sản xuất vật chất. Đây
là điểm xuất phát để nghiên cứu các hiện tượng của đời sống xã hội. Học thuyết về hình
thái kinh tế - xã hội là biểu hiện tập trung nhất quan niệm duy vật về lịch sử: “… Trước
hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu
tranh giành uyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo, triết học”.
Chừng nào sự thật đó còn tồn tại thì chừng đó quan niệm của Mác còn có giá trị.
- Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội chỉ rõ xã hội tồn tại được phải có quan hệ
giữa người với người. Trong các quan hệ xã hội đó, quan hệ xã hội vật chất, tức là quan
hệ sản xuất là quan hệ cơ bản, quyết định các quan hệ xã hội khác. Quan hệ sản xuất trở
thành tiêu chuẩn cơ bản, khách quan để phân biệt các chế độ xã hội.
- Học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội cung cấp cơ sở khách quan để nghiên cứu
xã hội: sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, điều
đó cho thấy các hình thái kinh tế - xã hội vận động theo những qui luật khách quan vốn có
của nó chứ không phải tuân theo ý muốn của con người. Chính vì vậy, nó đem đến cho
con người phương pháp nhận thức đúng về xã hội, đó là đi từ nhận thức các qui luật vận
động phát triển khách quan của xã hội loài người để giải thích về các hiện tượng xã hội,
gắn với một hình thái kinh tế - xã hội cụ thể.
Hơn một trăm năm kể từ khi học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Các Mác ra
đời, lịch sử loài người đã có những bước phát triển to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội nhưng học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội vẫn giữ nguyên giá trị, mặc dù
thực tiễn lịch sử và kiến thức nhân loại đã có nhiều bổ sung và phát triển mới so với học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội khi mới ra đời.
4. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bỏ qua chế độ TBCN là một
tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế vận động tiến bộ của thời đại và điều kiện
lịch sử cụ thể của Việt Nam, hoàn toàn không trái ngược với học thuyết hình thái
kinh tế - xã hội


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển
năm 2011) khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các
nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu
tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các
nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó
khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử,
loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”. Trong xu thế vận động chung đó của thế giới, thì
việc Việt Nam “đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của
lịch sử… Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ
và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”. Điều đó được lý giải bởi những lẽ sau:
Thứ nhất, lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển và thay thế
nhau của các hình thái kinh tế - xã hội. Song, không phải hình thái kinh tế - xã hội này kết
thúc hoàn toàn rồi hình thái kinh tế - xã hội tiếp sau mới ra đời. Giữa hình thái kinh tế - xã
hội cũ bị thay thế và hình thái kinh tế - xã hội mới sẽ thay thế nó bao giờ cũng có một giai
đoạn chuyển tiếp, đó là thời kỳ quá độ. Xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa với giai đoạn
đầu là chủ nghĩa xã hội, một chế độ xã hội mới hoàn toàn về chất so với các chế độ xã hội
trước đó lại càng đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, đầy khó khăn, thử
thách, khó tránh khỏi những va vấp, đổ vỡ tạm thời. Trong “Phê phán Cương lĩnh Gô-ta”,
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia”.
Thứ hai, học thuyết Mác - Lênin chứng minh rằng, loài người với tính cách một
chỉnh thể nhất thiết phải trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Nhưng, do đặc điểm lịch sử cụ thể về không gian và thời gian, do những điều kiện đặc thù khách quan và chủ quan,
bên ngoài và bên trong chi phối, không phải quốc gia nào cũng tuần tự trải qua tất cả các
hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao theo một trình tự sơ đồ chung. Có những nước
có thể bỏ qua một hoặc vài hình thái kinh tế - xã hội nào đó trong tiến trình phát triển của


mình tùy thuộc điều kiện lịch sử cụ thể đặc thù của từng nước. Điều đó hoàn toàn phù hợp
quy luật khách quan.
Thứ ba, cũng như lịch sử xã hội loài người nói chung, trong thời đại ngày nay, việc
bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là
hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Điều đó được quy định bởi:
- Trong điều kiện kinh tế thế giới có bước nhảy vọt về cơ sở vật chất - kỹ thuật, xã
hội loài người đòi hỏi phát triển lên một xã hội mới của nền văn minh cao hơn - đó là nền
văn minh của kinh tế tri thức. Do đó, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển
hợp quy luật khách quan. Sau chủ nghĩa tư bản nhất định phải là một chế độ xã hội tốt đẹp
hơn - chế độ xã hội chủ nghĩa mà sự lựa chọn của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Nước
ta là nước đã giành được độc lập dân tộc, có chính quyền dân chủ do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, đặc biệt là
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã ra
khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu
nhập trung bình, đang đẩy mạnh CNH, HĐH, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế quốc
tế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Đây là điều kiện tiên quyết, quyết
định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
- Sự lựa chọn xu hướng phát triển. Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước, từ nền nông nghiệp lạc hậu, mang nặng tính chất tự cung tự cấp, nền kinh tế nước ta
nảy sinh một yêu cầu khách quan là: chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hóa và thúc
đẩy sản xuất hàng hóa nhỏ phát triển lên thành sản xuất lớn dựa trên cơ sở kỹ thuật, công
nghệ hiện đại. Nếu để nền kinh tế phát triển tự phát chuyển thành nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa, trên cơ sở phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, do tác động của quy luật
giá trị thì sẽ hình thành chủ nghĩa tư bản, dẫn đến những hậu quả như: Chính quyền do
chính nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã phải tốn bao xương
máu mới giành được, sẽ bị mất; và chính nhân dân lao động lại rơi xuống địa vị người
làm thuê, bị bóc lột và khó có thể thực hiện được mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng
con người, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Chúng ta không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa vì thời đại ngày nay không phải là


thời đại của chủ nghĩa tư bản, mặc dù chủ nghĩa tư bản đang có động lực chủ yếu để phát
triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân
và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát
huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội...” điều chỉnh
để thích nghi với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn
không thể khắc phục được những mâu thuẫn, bất công xã hội thuộc về bản chất của chế
độ tư bản chủ nghĩa. Theo quy luật phát triển của lịch sử thì chủ nghĩa tư bản không thể
không bị phủ định. Vì thế, Đảng ta đã lựa chọn hướng đi phù hợp với lịch sử cụ thể của
Việt Nam là thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa dựa
trên cơ sở củng cố chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; dựa vào khối
liên minh công - nông - trí thức để tổ chức và huy động mọi tiềm lực của các tầng lớp
nhân dân, tiến hành CNH, HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Con đường này hoàn toàn
mới mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được đau khổ cho nhân dân lao động.
“Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh
giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá
nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế,
của toàn xã hội...”. Những thành tựu đã đạt được qua hơn 30 năm đổi mới đã chứng tỏ sự
lựa chọn đó là đúng hướng, phù hợp với lợi ích của cả dân tộc và hoàn cảnh lịch sử cụ thể
của nước ta, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Nói “nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa” chỉ có
nghĩa là trong lịch sử nước ta không có một giai đoạn, trong đó giai cấp tư sản nắm chính
quyền và quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa giữ địa vị thống trị trong nền kinh tế quốc
dân. “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị thế thống trị của quan hệ sản xuất
và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà
nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ,
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”. Con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta, gọi là thời kỳ quá độ với ý nghĩa là đất nước ta phải trải qua
một trạng thái xã hội mang tính trung gian, chuyển tiếp giữa hình thái kinh tế - xã hội cũ


và hình thái kinh tế - xã hội mới, trong đó nền kinh tế là nền kinh tế quá độ gồm nhiều
thành phần kinh tế. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,
sự hợp tác kinh tế quốc tế đa phương, đa dạng cho phép chúng ta tận dụng đại công
nghiệp của cả thế giới để có thể “rút ngắn” quá trình phát triển kinh tế đất nước. Sự phát
triển “rút ngắn” chỉ có nghĩa là đẩy nhanh tương đối quá trình phát triển lịch sử tự nhiên,
bằng những khâu trung gian, những hình thức, bước đi quá độ - được coi là cực kỳ cần
thiết và có tác dụng sắc bén đối với những nước mà sản xuất nhỏ là phổ biến đi lên chủ
nghĩa xã hội. Đồng thời, phải tôn trọng và vận dụng sáng tạo những tính quy luật của quá
trình phát triển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân của nước ta
chứng minh rằng, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có nhiều phong trào đấu
tranh chống Pháp thấm đượm tinh thần yêu nước, bất khuất, song đều lâm vào bế tắc và
cuối cùng thất bại. Đó là sự bế tắc và thất bại về đường lối chiến lược. Và như vậy, tất cả
các phương án chính trị của các giai cấp, từ đường lối cứu nước theo hệ tư tưởng phong
kiến, đến những đường lối theo lập trường nông dân, lập trường tiểu tư sản, tư sản, đều
được lịch sử khảo nghiệm nhưng rốt cuộc đều thất bại. Trong bối cảnh đó, Đảng ta ra đời,
nhanh chóng gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đưa sự nghiệp Cách
mạng Việt Nam không ngừng phát triển đi lên.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã tiến
hành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945; tiến hành 9 năm kháng chiến
trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và 20 năm hy sinh đầy xương máu chống đế
quốc Mỹ. Với chiến thắng oanh liệt mùa Xuân năm 1975, cả nước độc lập, thống nhất,
bước vào thời kỳ xây dựng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Quá trình xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, có lúc Đảng ta đã phạm
sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nhưng với bản lĩnh khoa
học, Đảng ta đã nhận thức rõ những sai lầm khuyết điểm do nguyên nhân thiếu kinh
nghiệm và nhất là do chủ quan duy ý chí, vi phạm những quy luật khách quan, dẫn đến
khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Qua kiểm điểm, Đảng đã rút ra những bài học
kinh nghiêm sâu sắc, đồng thời, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, từng


bước xác định rõ hơn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội; quá trình đổi mới tư duy,
trước hết là tư duy về kinh tế, Đảng đã xác định rõ hơn phát triển kinh tế là nhiệm vụ
trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt và đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa
lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,
như Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan
trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định
đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo: con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của
nước ta là phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”.
Như vậy, cả từ phương diện lý luận, cả từ phương diện thực tiễn vận động của lịch sử
nhân loại suốt thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI và đặc biệt từ thực tiễn lịch sử đấu
tranh giải phóng, xây dựng đất nước ở Việt Nam, việc nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, là hoàn toàn phù hợp với xu
thế của thời đại, với đặc điểm lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đúng khát
vọng của nhân dân ta.
KẾT LUẬN
Từ việc nghiên cứu, phân tích quan điểm sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã
hội là một quá trình lịch sử tự nhiên ta có cơ sở lý luận để một lần nữa khẳng định: Thứ
nhất, hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống, trong đó các mặt không ngừng tác động
qua lại lẫn nhau tạo thành quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội. Sự tác
động của các quy luật này làm cho các hình thái kinh tế - xã hội vận động, phát triển từ
thấp đến cao như “là một quá trình lịch sử - tự nhiên” không phụ thuộc vào ý chí, nguyện
vọng chủ quan của con người. Thứ hai, nguồn gốc sâu xa của sự vận động, phát triển xã
hội là ở sự phát triển của lực lượng sản xuất. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất
đã quyết định làm thay đổi quan hệ sản xuất. Đến lượt mình, quan hệ sản xuất thay đổi sẽ
làm cho kiến trúc thượng tầng thay đổi theo, và do đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ
được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, tiến bộ hơn. Quá trình đó diễn ra
một cách khách quan chứ không phải theo ý muốn chủ quan. V.I.Lênin viết: “Chỉ có đem
quy những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng sản
xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những
hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. Tìm hiểu về sự phát triển của


hình thái kinh tế - xã hội là ta đang tìm hiểu cái chung của sự phát triển xã hội qua các
thời đại. Chính vì vậy, giúp ta nâng tầm hiểu biết cũng như nhận thức một cách khái quát
về lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Đồng thời có thể khẳng định rằng,
những thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội của gần 30 năm đổi mới toàn diện đất nước đã
khẳng định sự đúng đắn, tính kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa của cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, cũng khẳng định những thành quả bổ sung và hoàn
thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong
thời đại ngày nay.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×