Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu giá trị của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư buồng trứng tt

Bộ giáo dục và đào tạo

Bộ y tế

Trờng đại học y Hà Nội

ON TIN LU

NGHIấN CU GI TR
CA CHP CNG HNG T TRONG
CHN ON UNG TH BUNG TRNG
Chuyờn ngnh : Chn oỏn hỡnh nh
Mó s : 62720166

tóm tắt luận án tiến sỹ y học

Hà Nội - 2019
Công trình đợc hoàn thành tại


Trờng đại học y Hà Nội


Ngời hớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. BI VN LNH
2. PGS.TS. V B QUYT

Phản biện 1: ..................................PGS.TS.
Thỏi Khc Chõu
Phản

biện

2:

PGS.TSKH. Nguyn ỡnh Tun
Phản biện 3: ..................................PGS.TS.
Lõm Khỏnh

Luận án đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp
Trờng họp tại Trờng Đại học Y Hà Nội.
Vào hồi giờ

ngày

tháng

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Th viện Quốc gia

năm 2019.


- Th viÖn Trêng §¹i häc Y Hµ Néi


Các công trình đã công bố của tác giả
có liên quan tới luận án

1.

on Tin Lu, Bựi Vn Lnh, V Bỏ Quyt (2019), Nghiờn
cu ỏp dng thang im cng hng t trong chn oỏn kh
nng ỏc tớnh ca u bung trng, Tp chớ Y hc thc hnh, s
thỏng 1 nm 2019 (1089), trang 86 - 90.

2.

on Tin Lu, Bựi Vn Lnh, V Bỏ Quyt (2019),
Nghiờn cu giỏ tr ca xung cng hng t ng hc sau
tiờm thuc i quang t trong chn oỏn phõn bit u bung
trng ỏc tớnh vi u bung trng lnh tớnh, Tp chớ Y hc thc
hnh, s thỏng 3 nm 2019 (1098), trang 23 27.


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư buồng trứng là ung thư hay gặp hàng thứ ba, sau ung thư cổ
tử cung và ung thư nội mạc tử cung, nhưng lại là nguyên nhân tử vong
hàng đầu trong số các ung thư sinh dục nữ. Bệnh có tiên lượng xấu vì đa
số các trường hợp được phát hiện muộn, khi được phát hiện phần lớn các
trường hợp đã có xâm lấn trong tiểu khung hoặc di căn lên phúc mạc
trong ổ bụng. Để thay đổi tiên lượng bệnh, cần phát hiện sớm và điều trị
đúng phác đồ.
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh có vai trò quan trọng trong
chẩn đoán xác định, chẩn đoán giai đoạn ung thư buồng trứng, giúp định
hướng điều trị ung thư buồng trứng hiệu quả hơn. Trong đó cộng hưởng
từ (CHT) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh ngày càng được áp dụng
nhiều trong chẩn đoán ung thư buồng trứng. Sự phát triển các chuỗi xung
cộng hưởng từ mới có thời gian chụp nhanh hơn, phân giải hình ảnh tốt
hơn, phân tích được nhiều đặc điểm của tổ chức u, giúp phân biệt được tổ
chức ung thư với tổ chức lành tính, đồng thời có khảo sát tốt toàn bộ ổ
bụng để phát hiện di căn phúc mạc, di căn hạch. CHT ngày càng thể hiện
ưu điểm trong chẩn đoán xác định và chẩn đoán giai đoạ n ung thư buồng
trứng. Đã có những công trình nghiên cứu giá trị của CHT trong chẩn
đoán ung thư buồng trứng ở các nước phát triển, tuy nhiên ở nước ta
chưa có công trình nghiên cứu nào, đặc biệt là các công trình nghiên cứu
về ứng dụng máy cộng hưởng từ có từ lực cao, phần mềm tiên tiến trong
chẩn đoán ung thư buồng trứng. Nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “Nghiên cứu giá trị của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư
buồng trứng” với ba mục tiêu nghiên cứu sau:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ của ung thư buồng trứng.
2. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán phân biệt
ung thư buồng trứng với u buồng trứng lành tính.
3. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán giai đoạn
ung thư buồng trứng.


2
* Tính cấp thiết của đề tài: Cần thiết phương pháp chẩn đoán hình
ảnh có giá trị cao trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng lành tính và
ác tính trước phẫu thuật, giúp định hướng lựa chọn phương pháp phẫu
thuật phù hợp. Đồng thời có thể chẩn đoán giai đoạn ung thư buồng trứng
trước phẫu thuật, giúp tiên lượng bệnh trước điều trị, quyết định điều trị
hóa chất tiền phẫu hay không. Chụp cộng hưởng từ với từ lực cao, các
chuỗi xung mới có nhiều triển vọng trong chẩn đoán xác định và chẩn
đoán giai đoạn ung thư buồng trứng.
* Những đóng góp mới của đề tài: Đây là nghiên cứu giá trị của
CHT trong chẩn đoán ung thư buồng trứng đầu ở Việt Nam. Kết quả
nghiên cứu cho thấy dựa vào dấu hiệu u buồng trứng có phần tổ chức để
chẩn đoán ung thư buồng trứng có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu thấp.
Tổ chức ung thư buồng trứng luôn tăng tín hiệu DW-b1000, giá trị cutoff ADC ADC ≤ 1,26x10-3 mm2/s có giá trị chẩn đoán xác định ung thư
buồng trứng. Đặc điểm tổ chức bắt thuốc đối quang từ với biểu đồ loại II,
III là đặc điểm có giá trị quan trọng nhất chẩn đoán xác định ung thư
buồng trứng. Dựa vào hình ảnh xung DW-b1000 chẩn đoán di căn phúc
mạc có độ nhạy và độ chính xác cao.
NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 131 trang: Đặt vấn đề (2 trang), chương 1: Tổng quan
(37 trang), chương 2: Phương pháp nghiên cứu (19 trang), chương 3:
Kết quả nghiên cứu (28 trang), chương 4: Bàn luận (42 trang), Kết
luận (2 trang), Kiến nghị (1trang). Trong luận án có 35 bảng, 3 biểu
đồ, 3 sơ đồ, 29 hình, 105 tài liệu tham khảo (5 tài liệu tiếng Việt, 100
tài liệu tiếng Anh).


3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH UNG THƯ BUỒNG TRỨNG
1.1.1. Dịch tễ ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng là ung thư hay gặp hàng thứ 6 trong các loại
ung thư nói chung ở phụ nữ (chiếm 4% các loại ung thư), hàng thứ 3
trong các ung thư đường sinh dục nữ, sau ung thư cổ tử cung và ung thư
nội mạc tử cung.
Ung thư buồng trứng có thể gặp ở các lứa tuổi khác nhau 20 – 80
tuổi, nhưng chủ yếu gặp ở người có tuổi, 80 – 90% gặp người trên 40
tuổi, 30 – 40% gặp ở người trên 65 tuổi. Riêng đối với trường hợp ung
thư tế bào mầm buồng trứng thì gặp ở tuổi trẻ hơn, với đỉnh ở độ tuổi 20.
1.1.2. Giải phẫu bệnh ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng nguyên phát gồm ba nhóm với nguồn gốc tế
bào khác nhau, ung thư biểu mô bề mặt buồng trứng hay gặp nhất, ung
thư tế bào mầm và ung thư tế bào thừng sinh dục ít gặp.
- Ung thư biểu mô chiếm tỷ lệ chủ yếu (khoảng 85% - 90%) trong
các ung thư buồng trứng.
- Ung thư tế bào mầm buồng trứng chiếm khoảng 5% - 10% các
trường hợp ung thư buồng trứng.
- Ung thư thừng sinh dục ít gặp, chiếm < 5% trường hợp ung thư
buồng trứng. U thừng sinh dục gồm các loại u có nguồn gốc từ tế bào nội
tiết và tế bào xơ trong phần lõi buồng trứng. Phần lớn các trường hợp u
thừng sinh dục là u lành tính, có một số trường hợp là u ác tính.
1.1.3. Giai đoạn ung thư buồng trứng
Phân giai đoạn ung thư buồng trứng theo Hiệp hội sản phụ khoa thế
giới FIGO (International federation of gynecology and obstretics).
Giai đoạn I: U còn khu trú trong buồng trứng.


4
Giai đoạn II: U ở một hoặc hai buồng trứng, có di căn trong tiểu khung.
Giai đoạn III: U ở một hoặc hai buồng trứng, giải phẫu bệnh xác
định có tế bào ung thư di căn ra phúc mạc ngoài tiểu khung hoặc có di
căn hạch sau phúc mạc.
Giai đoạn IV: Di căn xa, không tính di căn phúc mạc.
1.2. KĨ THUẬT CHỤP CHT CHẨN ĐOÁN UNG THƯ BUỒNG TRỨNG
Máy chụp CHT có từ lực 1,5T hoặc 3T.
Chụp tiểu khung các chuỗi xung trước tiêm thuốc đối quang từ:
- Các xung T2W theo mặt phẳng nằm ngang, đứng ngang, đứng dọc,
độ dày lớp cắt 4mm, khoảng cách giữa các lớp 1mm. Xung T2W có phân
giải cao, có vai trò quan trọng trong đánh giá ranh giới khối u với các
tạng trong tiểu khung. Giữa u với tử cung, bàng quang, trực tràng, thành
bên tiểu khung có lớp tăng tín hiệu (mỡ), khi thấy mất lớp tăng tín hiệu
này hoặc lớp tăng tín hiệu này không đều, bị co kéo thì khả năng u xâm
lấn hoặc dính với các tạng bên cạnh.
- Xung khuếch tán DW mặt phẳng nằm ngang, độ dày lớp cắt 5 mm,
khoảng cách giữa các lớp cắt 1mm, giá trị b = 0 s/mm 2 và b = 1000 s/mm2.
Các tổ chức u ác tính có mật độ tế bào cao, có nhiều khoang gian bào, tế bào
non chứa nhiều dịch, các phân tử nước bị hạn chế khếch tán trong các
khoang gian bào, thể hiện tín hiệu cao các trên hình DW-b1000.
- Xung T1W không xóa mỡ mặt phẳng nằm ngang, độ dày lớp cắt 6
mm; khoảng cách hai lớp cắt 0,6 mm. Cấu trúc mỡ trong u, chảy máu
trong u, dịch giàu protein sẽ tăng tín hiệu trên T1W không xóa mỡ.
- Xung T1W xóa mỡ, độ dày lớp cắt 4 mm; các lớp cắt cách nhau 1
mm. Cấu trúc mỡ trong khối u sẽ giảm tín hiệu trên xung T1W xóa mỡ,
chảy máu hoặc dịch giàu protein vẫn tăng tín hiệu trên T1W xóa mỡ.
Tiêm thuốc đối quang từ, liều 0,1mmol/kg, tiêm tĩnh mạch với tốc
độ 3ml/s, sau đó tiêm tiếp 20ml nước muối 0,9% với cùng tốc độ tiêm.
Sau tiêm thuốc chụp tiểu khung với chuỗi xung:


5
- Xung động học Dynamic-enhanced MRI (DCE-MRI), chụp tiểu
khung nhiều xung T1W xóa mỡ liên tiếp, theo mặt phẳng nằm ngang,
chụp từ khi bắt đầu tiêm thuốc đến sau tiêm thuốc 5-10 phút. Tín hiệu thu
được tại vị trí tổn thương xác định biến đổi theo thời gian được thể hiện
trên biểu đồ - biểu đồ bắt thuốc đối quang từ của tổ chức.
Chụp tầng trên ổ bụng để phát hiện các di căn tầng trên ổ bụng, các
chuỗi xung:
- Xung xung khuếch tán DW, mặt phẳng nằm ngang, độ dày lớp cắt
5 mm, khoảng cách giữa các lớp cắt 1mm, giá trị b= 0 và b= 1000
s/mm2. Các di căn phúc mạc, hạch di căn sau phúc mạc tăng tín hiệu trên
hình DW-b1000.
- Xung T2W xóa mỡ, mặt phẳng nằm ngang, độ dày lớp cắt 5mm,
khoảng cách giữa các lớp cắt 1mm. Mỡ phúc mạc giảm tín hiệu, dịch
trong ổ bụng tăng tín hiệu trên ảnh T2W xóa mỡ, các nốt di căn trong
phúc mạc tăng tín hiệu.
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ TRỊ CHT TRONG CHẨN
ĐOÁN UNG THƯ BUỒNG TRỨNG
Các nghiên cứu về giá trị của CHT trong chẩn đoán phân biệt u
buồng trứng ác tính với u buồng trứng lành tính có kết quả khác nhau.
Các nghiên cứu của những năm 1990 – 2000, sử dụng máy cộng hưởng
từ 0,5 – 1,0 Tesla chụp tiểu khung chẩn đoán u buồng trứng, với các
chuỗi xung cơ bản T1W, T2W, T1W sau tiêm thuốc đối quang từ, cho
thấy giá trị của CHT tương đương với chụp CLVT trong chẩn đoán phân
biệt u buồng trứng ác tính với u buồng trứng lành tính. Ghossain và cộng
sự (1991) nghiên cứu so sánh giá trị của chuỗi xung T1W, T2W, T1W sau
tiêm thuốc đối quang từ với chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang
trong chẩn đoán phân biệt ung thư buồng trứng với u buồng trứng lành
tính, CHT có độ nhạy 85%, độ đặc hiệu 87%, độ chính xác 86%, giá trị
dương tính 83%, giá trị âm tính 88%, giá trị của CHT không khác biệt so
với chụp CLVT.


6
Các nghiên cứu trong vòng 10 năm trở lại đây cho thấy giá trị CHT
có giá trị cao hơn trong chẩn đoán ung thư buồng trứng, sự thay đổi này
là do các máy CHT từ lực cao hơn 1,5 – 3 Tesla, cùng với các chuỗi xung
mới có tốc độ chụp nhanh, cung cấp nhiều thông tin hơn về đặc điểm của
tổ chức. Thomassin và cộng sự (2013) nghiên cứu giá trị của CHT trong
chẩn đoán phân biệt u buồng trứng ác tính với u buồng trứng lành tính
trong 329 trường hợp u buồng trứng. Nghiên cứu của Thomassin chủ yếu
dựa vào xung DW và xung động học sau tiêm thuốc đối quang từ để chẩn
đoán u buồng trứng ác tính, CHT có độ nhạy cao độ nhạy 93,5%, độ đặc
hiệu 95,5%, độ chính xác 95,1%. Nghiên cứu của Pereira và cộng sự
(2018), nghiên cứu giá trị của CHT trong chẩn đoán xác định ung thư
buồng trứng trong số 237 khối u buồng trứng, CHT có giá trị chẩn đoán rất
cao với độ nhạy 94,9%, độ đặc hiệu 97,5%, độ chính xác 96,6%, trong đó
Pereira và cộng sự nhấn mạnh vai trò của xung DW và xung động học sau
tiêm thuốc đối quang từ trong chẩn đoán ung thư buồng trứng.
Các nghiên cứu về giá trị của CHT chẩn đoán giai đoạn ung thư
buồng trứng đều nhận định CHT có giá trị cao trong chẩn đoán di căn
phúc mạc. Low R.N và cộng sự (2009), nghiên cứu giá trị của xung DW
chẩn đoán di căn phúc mạc của ung thư buồng trứng ở mức độ đại thể có
độ nhạy 90%, độ chính xác 91%. Tempany và cộng sự (2000), nghiên cứu
so sánh giá các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán di căn
phúc mạc ở mức đại thể của ung thư buồng trứng, CHT có giá trị cao hơn
chụp CLVT và siêu âm, độ nhạy của CHT đạt 95%. Nhưng CHT có giá trị
thấp trong chẩn đoán xâm lấn tiểu khung, Kurst và cộng sự (1999), nghiên
cứu giá trị của CHT trong chẩn đoán xâm lấn tiểu khung có độ nhạy thấp
58,3%, giá trị dự báo dương tính 71,4%, tỷ lệ dương tính giả cao 28,6%.
Mặc dù trên thế giới đã có các nghiên cứu giá trị của CHT trong
chẩn đoán ung thư buồng trứng từ những năm 1990 với các thế hệ máy từ
lực thấp và các nghiên cứu của những năm 2010 trở lại đây với các thế hệ
máy mới có từ lực cao, các xung mới trong chẩn đoán ung thư buồng


7
trứng. Nhưng cho đến nay, chúng tôi chưa thấy nghiên cứu nào ở trong
nước về giá trị CHT trong chẩn đoán ung thư buồng trứng, chính vì vậy
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này để tìm hiểu sâu sắc hơn, ứng
dụng tốt các kiến thức, kĩ năng thực hành CHT trong chẩn đoán ung thư
buồng trứng.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 184 bệnh nhân u buồng trứng, trong
đó có 93 trường hợp u buồng trứng ác tính, 91 trường hợp u buồng trứng
lành tính.
Các bệnh nhân được chụp CHT tiểu khung và ổ bụng để chẩn đoán
tại khoa Chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Đại học Y Hà Nội, được phẫu
thuật tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và bệnh viện Phụ sản Trung ương,
từ tháng 11/2013 – 8/2017.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến cứu.
2.2.2. Phương tiện nghiên cứu
- Máy cộng hưởng từ 1.5T Signa X (hãng GE).
- Thuốc đối quang từ Dotarem 0,5mmol/1ml.
2.2.3. Thiết kế nghiên cứu
- Chọn các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.
- Phân tích các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, biểu
hiện lâm sàng, xét nghiệm.


8
- Phân tích các đặc điểm hình ảnh CHT của u buồng trứng, mô tả các
đặc điểm chung của u buồng trứng ác tính, so sánh các đặc điểm của u
buồng trứng ác tính và u buồng trứng lành tính. Các đặc điểm hình ảnh
CHT cần phân tích bao gồm: Kích thước, số lượng ngăn, độ dày thành,
nhú tổ chức, cấu trúc khối u, tín hiệu DW của tổ chức, đặc điểm bắt
thuốc của tổ chức, đặc điểm xâm lấn xung quanh, di căn phúc mạc, di
căn hạch, dịch ổ bụng.
- Chẩn đoán xác định u buồng trứng ác tính dựa vào các đặc điểm
hình ảnh CHT thường gặp ở u buồng trứng ác tính, không gặp hoặc ít gặp
ở u buồng trứng lành tính. So sánh kết quả chẩn đoán xác định u ác tính
của CHT với kết quả giải phẫu bệnh của u buồng trứng sau phẫu thuật,
tính độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác của CHT.
- Phân tích đa biến các đặc điểm CHT chẩn đoán u ác tính: Kích
thước u lớn, nhiều ngăn, thành dày ≥3mm, thành có nhú tổ chức, cấu trúc u
có tổ chức, tổ chức tăng tín hiệu DW, tổ chức bắt thuốc mạnh (biểu đồ loại
II, III), hình ảnh di căn phúc mạc, dịch ổ bụng. Xác định những đặc điểm
CHT nào có giá trị cao trong chẩn đoán xác định u buồng trứng ác tính.
- Phân tích các đặc điểm chẩn đoán u buồng trứng lành tính: Nang
thành mỏng, nang thành dày nhưng không có tổ chức, nang lạc nội mạc
đơn thuần, nang mỡ đơn thuần, u có tổ chức giảm tín hiệu DW, u có tổ
chức bắt thuốc kém (biểu đồ bắt thuốc loại I).
- Tính tỷ lệ ác tính của các u theo đặc điểm CHT, xếp các u buồng
trứng theo tỷ lệ ác tính vào thang điểm CHT của Thomassin, thang điểm
gồm 5 điểm (điểm 1 không có u, điểm 2 u lành tính, điểm 3 tỷ lệ ác tính
thấp, điểm 4 tỷ lệ u ác tính cao, điểm 5 gần như chắc chắn ác tính).
- Dựa vào hình ảnh CHT chẩn đoán sự xâm lấn của u buồng trứng ác
tính, chẩn đoán di căn phúc mạc, di căn tạng, di căn hạch, chẩn đoán giai
đoạn bệnh trước phẫu thuật. So sánh kết quả chẩn giai đoạn bệnh trước phẫu


9
thuật của CHT với kết quả chẩn đoán giai đoạn bệnh của phẫu thuật và giải
phẫu bệnh. Tính độ chính xác của CHT trong chẩn đoán giai đoạn bệnh.


10
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Với 184 trường hợp u buồng trứng trong nghiên cứu, có 93 trường
hợp ác tính (50,5%), 91 trường hợp u lành (49,5%). U biểu mô ác tính
chiếm chủ yếu (84,6%), u ác tế bào mầm 8,3%, ung thư thừng sinh
dục 7,1%.
Các bệnh nhân ung thư buồng trứng có tuổi trung bình 49,5 ± 14,8
tuổi, 72,1% ở tuổi 40 – 69 tuổi.
Dấu hiệu lâm sàng u buồng trứng ác tính không đặc hiệu, mỗi dấu
hiệu cơ năng gặp <50% các trường hợp, khám phụ khoa sờ thấy khối
trong 88,7% các trường hợp.
Xét nghiệm CA15 có độ nhạy 94,9% với ung thư buồng trứng giai
đoạn III, IV, 78,9% với giai đoạn II, 57,1% với giai đoạn I.
3.2. Đặc điểm hình ảnh CHT của ung thư buồng trứng
U buồng trứng ác tính có kích thước trung bình 93,9 ± 37,8mm.
Cấu trúc u buồng trứng ác tính dạng nang hỗn hợp chiếm 93,6%, cấu
trúc u tổ chức đặc hoàn toàn 3,2%, nang hoàn toàn 3,2%.
84,4% dịch trong u buồng trứng ác tính tăng tín hiệu trên T2W, giảm
tín hiệu trên T1W (thanh dịch); 10% dịch dạng khảm, tăng giảm tín hiệu
T1W, T2W không đều (dịch nhày, giàu protein); 5,6% dịch tăng tín hiệu
trên T1W, T1W xóa mỡ, giảm tín hiệu T2W (chảy máu trong u).
Tổ chức u ác tính 100% tăng tín hiệu trên DW, 94,4% bắt thuốc đối
quang từ mạnh (biểu đồ bắt thuốc loại II hoặc III), 5,6% ngấm thuốc ít
(biểu đồ bắt thuốc loại I).
3.3. Giá trị của CHT trong chẩn đoán phân biệt u ác tính với u lành
tính buồng trứng
3.3.1. Phân tích các đặc điểm CHT chẩn đoán u buồng trứng ác tính


11
Bảng 3.1: Phân tích đa biến các đặc điểm hình ảnh CHT chẩn đoán u
buồng trứng ác tính
Đặc điểm ác
Ác tính
tính

Lành
tính

Kích thước u 54/93
31/91
≥ 80mm
(58,1%) (34,1%
)
Nhiều ngăn
68/93
47/91
(73,1%) (51,6%
)
Thành dày ≥ 72/93
47/91
3mm
(77,4%) (51,6%
)
Nhú thành
53/93
20/91
nang
(57,0%) (22,0%
)
U có thành
90/93
37/91
phần tổ chức (96,8%) (40,7%
)
Tổ chức tăng 90/93
29/91
tín hiệu trên (96,8%) (31,9%
DW
)
Tổ chức
68/93
10/91
ADC ≤
(73,1%) (11,0%)
1,26x10-3
mm2/s
Biểu đồ bắt
85/93
9/91
thuốc loại III, (91,4%) (9,9%)
II
Di căn phúc 29/93
0/91
mạc
(31,2%) (0,0%)
Dịch ổ bụng 56/93
16/91
(60,2%) (17,6%
)

Phân tích đơn
biến
p
0,001
0,002
0,001
0,001
0,001
0,001
0,001

0,001

OR (CI
95%)
2,680
(1,474 4,873)
2,546
(1,376 4,714)
3,210
(1,698 6,067)
4,704
(2,470 8,956)
43,784
(12,875 148,896)
64,138
(18,711 219,849)
22,032
(9,889 49,086)

Phân tích đa biến
p
0,117
0,120
0,103
0,190
0,776
0,197
0,073

aOR (CI
95%)
0,266
(0,0511,393)
3,461
(0,722 –
16,585)
3,730
(0,766 –
18,157)
0,356
(0,076 –
1,670)
1,338
(0,181 –
9,913)
3,432
(0,526 –
22,377)
4,067
(0,878 –
18,845)

96,806 0,001
59,211
(35,630 (10,047 –
263,020)
334,845)
0,001
+∞
0,001 873212193,
7
0,001
7,095
0,874
1,126
(3,591(0,259 –
14,018)
4,899)


12
Khi phân tích từng từng đặc điểm chẩn đoán u buồng trứng ác tính
(phân tích đơn biến), thì các đặc điểm hình ảnh CHT u kích thước ≥
80mm, u có nhiều ngăn, thành u dày ≥ 3mm, có nhú tổ chức thành nang,
u có tổ chức, tổ chức u tăng tín hiệu trên DW-b1000, giá trị ADC của tổ
chức ≤ 1,26x10-3 mm2/s, tổ chức u giàu mạch (biểu đồ bắt thuốc loại
II,III), hình ảnh di căn phúc mạc, dịch tự do ổ bụng đều có giá trị chẩn
đoán u ác tính buồng trứng. Tỷ lệ ác tính của u có một trong các đặc
điểm như trên cao hơn tỷ lệ ác tính của u không có đặc điểm tương ứng,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05, tỷ suất chênh tỷ lệ ác tính OR
của các đặc điểm đều >1. Tuy nhiên khi phân tích đa biến Regression
Multinomial Logistic, chỉ có hai đặc điểm là tổ chức có biểu đồ bắt thuốc
loại II, III và hình ảnh di căn phúc mạc là có giá trị chẩn đoán u ác tính,
tỷ suất chênh tỷ lệ ác tính aOR rất cao, khoảng giao động tỷ suất chênh
(CI 95%) luôn > 1, với p < 0,001, còn lại các dấu hiệu khác không có giá
trị chẩn đoán u buồng trứng ác tính, tỷ suất chênh ác tính aOR của các
đặc điểm này <1 hoặc khoảng giao động (CI 95%) của aOR có phần giao
động <1, với p > 0,05 (Bảng 3.26). Điều này được lý giải bởi các đặc
điểm hình ảnh CHT sau khi phân tích đa biến có p > 0,05, tỷ suất chênh
aOR <1, đều là các đặc điểm khi phân tích đơn biến có giá trị chẩn đoán
u ác tính không cao, độ nhạy thấp (19,4% - 77,4%), độ đặc hiệu không
cao (48,4% - 92,3%), độ chính xác thấp (55,4% - 71,2%), giá trị dự báo
âm tính và giá trị dự báo dương tính cũng không cao. Ngược lại, đặc
điểm bắt thuốc đối quang từ của tổ chức u là đặc điểm có giá trị chẩn
đoán với độ nhạy cao (91,4%), độ đặc hiệu cao (90,1%), khi u có tổ chức
bắt thuốc với biểu đồ loại II, III thì thường có nhiều đặc điểm chẩn đoán
ác tính khác ở trên đi kèm. Đặc điểm có hình ảnh di căn phúc mạc trên
CHT là đặc điểm có độ nhạy không cao nhưng độ đặc hiệu cao đạt 100%,


13
khi quan sát thấy nốt di căn phúc mạc trên hình ảnh cộng hưởng từ gần
như chắc chắn là u ác tính.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả một
số nghiên cứu khác. Thomassin và cộng sự (2013) nghiên cứu xây dựng
thang điểm cộng hưởng từ trong chẩn đoán phân biệt u ác tính buồng
trứng với u lành tính buồng trứng, phân tích đa biến cũng nhận định chỉ
có hai đặc điểm chẩn đoán ác tính có giá trị cao là biểu đồ bắt thuốc đối
quang từ của tổ chức u và hình ảnh di căn phúc mạc, các đặc điểm chẩn
đoán ác tính khác không có giá trị nhiều khi phân tích đa biến. Các
nghiên cứu áp dụng thang điểm cộng hưởng từ trong chẩn đoán ung thư
buồng trứng khác, như nghiên cứu Pereira (2018), nghiên cứu của
Sadowski (2018), đều nhận định tương tự và chỉ đưa hai đặc điểm biểu
đồ bắt thuốc của tổ chức u, hình ảnh di căn phúc mạc vào tiêu chuẩn chẩn
đoán ác tính.

Hình 3.1: Tổ chức ung thư bắt thuốc với biểu đồ loại III. Ung thư biểu mổ
tuyến thanh dịch buồng trứng trái. Tổ chức u bắt thuốc với biểu đồ loại III
(biểu đồ 1 màu tím), biểu đồ dốc hơn, bắt thuốc nhanh hơn so với biểu đồ
bắt thuốc của cơ tử cung (biểu đồ 2 màu xanh). BN: Vũ Hồng Ch., 44 tuổi,
MBA 178/13.


14
3.3.2. Phân tích các đặc điểm chẩn đoán u buồng trứng lành tính
Bảng 3.2: Các dấu hiệu chẩn đoán khả năng lành tính của u buồng trứng
Dấu hiệu khả năng
lành tính cao

Tỷ lệ lành
tính

Tỷ lệ ác tính

P

LR

Nang thành dày, không có
tổ chức

21/24 (87,5%) 3/24 (12,5%) <0,001 20,49
9

Nang thành mỏng, không
có tổ chức

18/18 (100%)

Nang lạc nội mạc đơn
thuần, không có tổ chức

7/7 (100%)

0/7 (0,0%)

0,006

10,14
0

Nang mỡ đơn thuần, không
có tổ chức bắt thuốc

8/8 (100%)

0/8 (0,0%)

0,013

8,656

Tổ chức giảm tín hiệu DW

10/10 (100%)

0/10 (0,0%)

0,003 11,637

Tổ chức bắt thuốc biểu đồ
loại I

28/33 (84,8%) 5/33 (15,2%)

0/18 (0,0%) < 0,001 27,34
7

0,001

21,81
2

Các u nang buồng trứng lành tính không có tăng sinh tổ chức trong
nang nên thường là nang đơn thuần không có tổ chức, ngược lại các u
nang ác tính buồng trứng có sự tăng tổ chức ác tính trong nang nên
thường có phần tổ chức trong nang. Chính vì vậy, các u nang buồng
trứng không có tổ chức nhiều khả năng là u lành tính hơn.
Nang thành mỏng đơn thuần thường gặp là các u nang tuyến thanh
dịch lành tính, u nang tuyến nhày lành tính, các nang cơ năng buồng
trứng, nang cạnh buồng trứng, nang tụ dịch phúc mạc, các nang này lành
tính không có sự tăng sinh tế bào trong lòng nang nên thành mỏng.
Nang lạc nội mạc đơn thuần là một trong những nang lành tính hay
gặp ở buồng trứng, các nang này có dịch tăng tín hiệu trên T1W và T1W
xóa mỡ, giảm tín hiệu trên T2W (chảy máu mạn tính), thành nang có thể
dày hoặc mỏng nhưng không có phần tổ chức. Một số trường hợp ung
thư biểu mô dạng nội mạc, ung thư tế bào sáng cũng có chảy máu mạn


15
tính bên trong nên cũng có dịch tăng tín hiệu trên T1W, T1W xóa mỡ,
giảm tín hiệu trên T2W, nhưng những trường hợp ung thư này thường có
thành phần tổ chức bắt thuốc đối quang từ trong nang.
Nang mỡ đơn thuần trong có thành phần mỡ (tăng tín hiệu trên T1W,
giảm tín hiệu trên T1W xóa mỡ), không có tổ chức bắt thuốc đối quang
từ, đây là các u quái hay u nang bì lành tính. Các trường hợp u quái có
thành phần bắt thuốc thì có thể là u quái lành tính hoặc ác tính, không
chắc chắn là lành tính.
Tổ chức giảm tín hiệu trên T2W và DW là các tổ chức lành tính giàu
xơ, ít tế bào, không hạn chế khuếch tán trên xung DW, nên các u có tổ chức
giảm tín hiệu trên T2W và DW thường cũng là các u lành tính. Tổ chức có
biểu đồ bắt thuốc loại I là tổ chức nghoèo mạch, chính vì vậy u có tổ chức
với biểu đồ bắt thuốc loại I cũng có khả năng lành tính cao, tỷ lệ ác tính thấp.
Chính vì vậy trong nghiên cứu của chúng tôi, các dấu hiệu nang
thành mỏng đơn thuần, nang lạc nội mạc đơn thuần, nang cấu trúc mỡ
đơn thuần, tổ chức giảm tín hiệu trên DW là các dấu hiệu chẩn đoán u
buồng trứng lành tính, tỷ lệ ác tính là 0%. Các dấu hiệu nang thành dày
không có tổ chức, u có tổ chức với biểu đồ bắt thuốc loại I là các dấu
hiệu có khả năng lành tính cao, tỷ lệ ác tính thấp, lần lượt là 5,3% và
15,2%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với các
nghiên cứu khác. Nghiên cứu của Thomassin (2013), cũng nhận định các
nang thành mỏng đơn thuần, nang lạc nội mạc đơn thuần, nang mỡ đơn
thuần, u có tổ chức giảm tín hiệu trên DW có tỷ lệ ác tính là 0%, nang
thành dày không có tổ chức và u có tổ chức với biểu đồ bắt thuốc loại I
có tỷ lệ ác tính thấp 4,3 – 4,5%. Nghiên cứu của Pereira (2018), có kết
quả các nang thành mỏng đơn thuần, nang lạc nội mạc đơn thuần, nang
mỡ đơn thuần, u có tổ chức giảm tín hiệu trên DW có tỷ lệ ác tính là 0%,
nang thành dày không có tổ chức và u có tổ chức với biểu đồ bắt thuốc
loại I có tỷ lệ ác tính thấp 5,1%.


16
Bảng 3.3: Tỷ lệ ác tính u buồng trứng theo thang điểm CHT
Thang
điểm
CHT
Điểm 1
Điểm 2

Khả năng
ác tính
Chắc chắn
lành tính

Điểm 3

Khả năng
ác tính thấp

Điểm 4

Khả năng
ác tính cao
Gần
như
chắc chắn
ác tính

Điểm 5

Đặc điểm u buồng trứng
trên CHT
Không có u
Nang thành mỏng
Nang lạc nội mạc
Nang mỡ đơn thuần
Tổ chức giảm tín hiệu
T2W, DW
Nang thành dày
Tổ chức biểu đồ bắt thuốc
loại I
Tổ chức biểu đồ bắt thuốc
loại II
Tổ chức biểu đồ bắt thuốc
loại III
Di căn phúc mạc

Tỷ lệ ác tính

0/43

0%

6/46

13,0%

37/45

82,2%

50/50

100%

Điểm 1 là không có u, trong nghiên cứu của chúng tôi tất cả các
bệnh nhân đều có u nên không có trường hợp điểm 1. Điểm 2 chắc chắn
là lành tính, tỷ lệ ác tính là 0%. Điểm 3 khả năng ác tính thấp, tỷ lệ ác
tính 13,0%. Điểm 4 khả năng ác tính cao, tỷ lệ ác tính 82,2%. Điểm 5
gần như chắc chắn ác tính, tỷ lệ ác tính 100%.
Bảng 3.4: Giá trị của CHT trong chẩn đoán phân biệt u buồng trứng
ác tính với u buồng trứng lành tính
Chẩn đoán
CHT
U ác tính
(thang điểm 4,5)
U lành tính
(thang điểm 2,3)
Tổng

Kết quả mô bệnh học

Tổng

U ác tính

U lành tính

87

7

94

6

84

90

93

91

184


17
Chúng tôi chẩn đoán xác định u buồng trứng ác tính nếu u có tổ chức
bắt thuốc đối quang từ với biểu đồ loại II, III hoặc có hình ảnh di căn
phúc mạc (tương ứng có thang điểm CHT là 4 hoặc 5). Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy CHT có giá trị cao trong chẩn đoán xác định
u buồng trứng ác tính, với độ nhạy cao 93,5%, độ đặc hiệu cao 92,3%,
giá trị dự báo dương tính cao 92,6%, giá trị dự báo âm tính cao 93,3%,
độ chính xác cao 92,9% (Bảng 3.29). Các nghiên cứu của Thomassin
(2013) và của Pereira (2018) cũng chẩn đoán xác định u ác tính nếu u có
thang điểm CHT là 4 hoặc 5, các kết quả nghiên cứu này cũng gần tương
đồng với kết quả nghiên cứu của chúng tôi, đều nhận định CHT có giá trị
cao trong chẩn đoán u buồng trứng ác tính. Kết quả nghiên cứu của
Thomassin có độ nhạy độ 93,5%, độ đặc hiệu 96,6%, độ chính xác 96,0%
. Kết quả nghiên cứu của Pereira (2018) có độ nhạy 94,9%, độ đặc hiệu
97,5%, độ chính xác 96,6%.
3.4. Giá trị của CHT trong chẩn đoán giai đoạn ung thư buồng trứng
3.4.1. Giá trị của CHT trong chẩn đoán xâm lấn trong tiểu khung
Chẩn đoán xâm lấn tử cung, trực tràng, bàng quang khi trên hình ảnh
CHT thấy mất mặt phẳng tăng tín hiệu trên T2W phân cách giữa khối u
và thành tử cung, thành bàng quang, thành trực tràng, hoặc mặt phẳng
phân cách có tín hiệu không đều, bị co kéo. Đặc điểm này được quan sát
thấy trên hai hướng chụp khác nhau của xung T2W. Chẩn đoán xâm lấn
thành tiểu khung khi mất lớp mỡ tăng tín hiệu trên T2W giữa khối u và
cơ, xương thành bên tiểu khung hoặc u bao quanh hơn một nửa chu vi
động tĩnh mạch chậu. Đây là các tiêu chuẩn được áp dụng trong một số
nghiên cứu giá trị của CLVT và CHT trong chẩn đoán giai đoạn ung thư
buồng trứng. Khi áp dụng các tiêu chuẩn này để chẩn đoán sự xâm lấn
tiểu khung của ung thư buồng trứng, chúng tôi thấy cộng hưởng từ có độ
nhạy không cao 56,9%, độ đặc hiệu không cao 77,1%, giá trị dự báo
dương tính 80,5%, tỷ lệ dương tính giả khá cao 19,5% (Bảng 3.30). Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các kết quả nghiên cứu
khác, Forstner và cộng sự (1995) nghiên cứu giá trị của CHT chẩn đoán
khả phẫu thuật triệt để 50 trường hợp ung thư buồng trứng, CHT chẩn
đoán xâm lấn trong tiểu khung độ nhạy chỉ đạt 60%, giá trị dự báo dương


18
tính không cao 69%, tỷ lệ dương tính giả rất cao 31%. Kurst và cộng sự
(1999), nghiên cứu giá trị của CHT trong chẩn đoán giai đoạn ung thư
buồng trứng, CHT chẩn đoán xâm lấn tiểu khung có độ nhạy thấp 58,3%,
giá trị dự báo dương tính 71,4%, tỷ lệ dương tính giả cao 28,6%. Nhiều
trường hợp lớp mỡ thành tiểu khung dày nên khi u đã xâm lấn thành bên
tiểu khung nhưng vẫn chưa xâm lấn hết độ dày của lớp mỡ nên trên hình
ảnh cộng hưởng từ vẫn còn quan sát thấy lớp mỡ giữa u và cơ, xương.
Mặt phẳng phân cách giữa khối u và thành trực tràng, bàng quang, tử
cung và vòi trứng chính là lớp mỡ và thanh mạc của các tạng, một số
trường hợp sự xâm lấn chưa chiếm hết độ dày của các lớp này nên trên
hình ảnh CHT vẫn quan sát được hình ảnh mặt phẳng phân cách. Các
trường hợp này dẫn đến chẩn đoán âm tính giả, chính vì vậy CHT có độ
nhạy không cao. Ngược lại, một số trường hợp lớp mỡ thành tiểu khung
rất mỏng, nên khi u gần sát cơ, xương thành tiểu khung nhưng thực chất
u chưa xâm lấn thành bên tiểu khung. Đồng thời nhiều trường hợp lớp
mỡ thanh mạc của các tạng trong tiểu khung rất mỏng, mặc dù u chưa
xâm lấn các tạng trong tiểu khung nhưng với phân giải của xung T2W
chụp độ dày 6mm chúng ta vẫn không quan sát rõ được mặt phẳng phân
cách u với thành các tạng. Các trường hợp này dẫn đến chẩn đoán CHT
tỷ lệ dương tính giả đáng kể, độ đặc hiệu thấp.

Hình 3.2: Hình ảnh xâm lấn tiểu khung. Ung thư biểu mô tuyến thanh
dịch buồng trứng xâm lấn tử cung và trực tràng, mất mặt phẳng tăng tín
hiệu giữa u với thành tử cung (mũi tên trắng), giữa u và thành trực tràng
(mũi tên vàng), trên ảnh T2W mặt phẳng đứng ngang (hình trái), mặt
phẳng đứng dọc (hình phải). BN: Phạm Thị T., MBA: 405/31.


19
4.4.2. Giá trị của cộng hưởng từ trong phát hiện hạch to
Theo nghiên cứu của Takeshima và cộng sự (2005), phần lớn các
hạch di căn ung thư buồng trứng ở cạnh động mạch chủ bụng, và cạnh
các động mạch chậu, tỷ lệ ung thư buồng trứng có hạch di căn chiếm tỷ
lệ từ 13 – 60% các trường hợp, trong đó có rất nhiều trường hợp hạch di
căn nhưng có kích thước nhỏ. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Maggioni
và cộng sự (2006), so sánh nhóm bệnh nhân ung thư buồng trứng được
phẫu thuật, có phẫu tích hạch một cách hệ thống với nhóm bệnh nhân
ung thư buồng trứng được phẫu thuật nhưng không phẫu tích hạch một
cách hệ thống, chỉ lấy các hạch lớn như là một nỗ lực lấy u tối đa, kết quả
nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt thời gian sống của hai nhóm
bệnh nhân này. Trong nghiên cứu của chúng tôi, các phẫu thuật viên cũng
chỉ thực hiện cắt bỏ hạch khi thấy có hạch kích thước lớn, chính vì vậy
chúng tôi cũng chỉ nghiên cứu vai trò của CHT trong phát hiện các hạch
to, đường kính ngang của hạch đạt từ 8mm trở lên. Việc phát hiện hạch to
trước phẫu thuật giúp định hướng phẫu thuật viên tìm hạch lớn trong
phẫu thuật để cắt bỏ. Có 10 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi,
phẫu thuật viên đã phát hiện có hạch to và cắt bỏ, CHT đã phát hiện được
8 trường hợp, độ nhạy đạt 80%, độ đặc hiệu 97,6%. Có 2 trường hợp khi
phẫu thuật có hạch to nhưng CHT không phát hiện hạch to; đồng thời có
hai trường hợp CHT chẩn đoán hạch to nhưng trong phẫu thuật đã không
tìm thấy hạch to, tỷ lệ dương tính giả 20%. Độ nhạy của CHT trong phát
hiện hạch to trong nghiên cứu chúng tôi thấp hơn so với một số kết quả
nghiên cứu khác. Nghiên cứu của Kim J.K và cộng sự (2008), 125 trường
hợp ung thư cổ tử cung, có 30 hạch di căn kích thước ≥8mm, CHT phát
hiện hạch này có độ nhạy 87%. Harisinghani và cộng sự (2003), nghiên
cứu giá trị của CHT trong phát hiện hạch thứ phát kích thước ≥8mm ở
các bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến có độ nhạy 91%. Trong nghiên cứu
của chúng tôi, hai trường hợp dương tính giả là do chúng tôi chẩn đoán
nhầm nốt thứ phát phúc mạc thành bên tiểu khung, ở gần các động mạc
chậu là hạch, ngược lại hai trường hợp âm tính giả là hai trường hợp hạch


20
trong tiểu khung không nằm sát các động mạch chậu chúng tôi chẩn đoán
nhầm là nốt thứ phát phúc mạc. Đối tượng nghiên cứu của Kim J.K là các
trường hợp ung thư cổ tử cung, đối tượng nghiên cứu của Harisinghani là
ung thư tiền liệt tuyến, các loại ung thư này hay gặp di căn hạch tiểu
khung nhưng di căn phúc mạc tiểu khung ít gặp hơn ung thư buồng
trứng, nên ít khi bị nhầm giữa hạch tiểu khung với nốt di căn tiểu khung,
đây có thể là nguyên nhân độ nhạy và độ đặc hiệu của các nghiên cứu
này cao hơn nghiên cứu của chúng tôi.
3.4.3. Giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán di căn mức độ đại
thể phúc mạc
Tổn thương di căn phúc mạc là các nốt ở phúc mạc thành (phúc mạc
vòm hoành, rãnh đại tràng, thành bụng và thành tiểu khung), phúc mạc
tạng (ở bề mặt gan, lách, thành ruột), mạc nối lớn, mạc treo, mạc nối lớn
có nhiều nốt có thể tạo thành hình ảnh dày lan tỏa mạc nối lớn. Tổn
thương di căn phúc mạc có đặc điểm hạn chế khuếch tán trên xung DW,
tín hiệu cao hơn các tạng trong ổ bụng trên các xung DW-b1000, giảm tín
hiệu so với mỡ phúc mạc trên xung T1W và T2W, bắt thuốc đối quang
từ. Xung khuếch tán (DW) là xung cơ bản để phát hiện di căn phúc mạc,
các nghiên cứu gần đây về giá trị của CHT trong chẩn đoán di căn phúc
mạc đều dựa vào xung DW, chẩn đoán xác định di căn phúc mạc dựa vào
đặc điểm tín hiệu cao trên DW với giá trị b cao (b800, b1000). Vì vậy
trong nghiên cứu chúng tôi chẩn đoán di căn phúc mạc dựa vào đặc điểm
tổn thương có tín hiệu cao trên xung DW-b1000. Có 33 trường hợp di
căn phúc mạc ở mức đại thể, CHT phát hiện di căn phúc mạc ở mức độ
đại thể có độ nhạy khá cao 87,9%, độ chính xác 95,6% (Bảng 3.32). Kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cũng gần tương đồng với kết quả nghiên
cứu của các tác giả khác. Low R.N và cộng sự (2009), nghiên cứu giá trị
xung DW chẩn đoán di căn phúc mạc ở mức độ đại thể, độ nhạy của
CHT đạt 90%, độ chính xác 91%. Tempany và cộng sự (2000), nghiên
cứu so sánh giá các phương pháp chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán
giai đoạn ung thư buồng trứng, CHT có giá trị cao hơn chụp CLVT và


21
siêu âm, độ nhạy của CHT trong chẩn đoán di căn phúc mạc ở mức đại
thể độ nhạy đạt 95%.

Hình 3.3: Hình ảnh di căn phúc mạc tạng và phúc mạc thành. Di căn
phúc mạc tăng tín hiệu DW-b1000. Các nốt di căn phúc mạc bề mặt gan
(mũi tên vàng), các nốt di căn phúc mạc hoành và thành bụng (mũi tên
trắng), di căn mạc nối lớn dày lan tỏa (mũi tên đỏ). BN: Đỗ Thị N.,
MBA: 195/16.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng nhận thấy độ nhạy của CHT phụ
thuộc vào kích thước của di căn phúc mạc. Có 5 trường hợp di căn phúc
mạc ở mức vi thể không quan sát rõ bằng mắt khi phẫu thuật, CHT không
phát hiện được trường hợp nào, độ nhạy 0%; 17 trường hợp di căn phúc
mạc, quan sát được trong phẫu thuật có kích thước ≤10mm, CHT phát
hiện được 13/17 trường hợp, độ nhạy đạt 76,5%; 16 trường hợp di căn
phúc mạc có kích thước >10mm, cộng hưởng từ phát hiện được 16/16
trường hợp, độ nhạy 100%. Các xung chụp CHT khảo sát toàn bộ ổ bụng
có độ dày 6mm, có độ phân giải nhất định, đồng thời có một số nhiễu ảnh
(nhiễu do cử động của hô hấp, nhu động ruột), các nốt tổn thương kích
thước nhỏ tín hiệu bị cộng gộp với cấu trúc xung quanh sẽ khó phân biệt
với các cấu trúc xung quanh, nên độ nhạy của CHT sẽ thấp hơn. Ngược
lại các nốt có kích thước lớn sẽ dễ quan sát hơn, sự phân biệt tín hiệu rõ
ràng hơn, nên CHT có độ nhạy cao hơn.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×