Tải bản đầy đủ

Đề án tốt nghiệp lớp kỹ năng lãnh đạo cấp phòng, Vận dụng kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong hoạt động của Chi cục Thuế huyện Đầm Hà

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ngành thuế đã có
những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đa số
cán bộ công chức thuế có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo
đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng. Thành tựu
sau 25 năm thành lập, hệ thống thuế đã trở thành một tổ chức lớn mạnh, thực
hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước mà Đảng và Nhà nước giao phó. Đồng
thời thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách hiện đại hóa ngành thuế theo
hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, từng bước hoàn thiện về
thể chế chính sách nhằm hội nhập với kinh tế quốc tế. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo
ngành thuế được tôi luyện, trưởng thành qua thử thách, có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có tinh thần độc lập tự chủ, trung thành với lý tưởng cách mạng mà Đảng,
bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, có ý chí, nghị lực để vươn lên, vượt qua mọi
khó khăn, gian khổ đưa sự nghiệp đổi mới ngày càng thu nhiều thắng lợi.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý, Đảng
và Nhà nước ta đã mở nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ,
về lý luận cho đội ngũ này. Chính vì vậy, những năm qua việc nhận thức và vận
dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn ngày càng có hiệu quả hơn.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thích nghi hơn với cơ chế thị trường và
tích lũy được thêm nhiều kinh nghiệm, việc hoạch định chính sách, khả năng cụ
thể hóa đường lối, chủ trương được nâng lên rõ rệt. Tính chủ động, sáng tạo được

phát huy. Bệnh kinh nghiệm giáo điều, tính ỷ lại, thụ động từng bước được khắc
phục.
Qua nghiên cứu, học tập Chương trình lớp học kỹ năng lãnh đạo, quản lý
cấp phòng, bản thân tôi đã nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của bản thân đồng thời nhận thức rõ các kỹ
năng lãnh đạo, quản lý là một công cụ hữu hiệu giúp cho các nhà lãnh đạo, quản
lý nói chung và các nhà lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở nâng cao hiệu quả quản lý xã
hội, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước tại từng địa phương.
Đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa; mở
rộng hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Nhiệm vụ thu ngân
sách nhà nước ngày càng tăng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu và đầu tư phát triển
đất nước, trong bối cảnh cải cách, hiện đại hóa ngành thuế để phù hợp với các
tiêu chuẩn, cam kết quốc tế, đòi hỏi ngành thuế phải xây dựng một đội ngũ cán
bộ lãnh đạo ngành thuế vững về chuyên môn, giỏi về kỹ năng quản lý hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong hoạt động của Chi cục Thuế có vai trò to
lớn đối với thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, nhưng trong thời gian
qua, trong thực tiễn tổ chức điều hành công việc thì bản thân tôi vẫn còn nhiều
hạn chế trong việc vận dụng kiến thức, kỹ năng. Điều đó làm ảnh hưởng đến hiệu
quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Để đáp ứng yêu cầu thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của Chi cục,
trong năm 2016 và những năm tiếp theo kịp thời khắc phục những hạn chế trong
công tác lãnh đạo, quản lý, bản thân tôi chọn nội dung “Vận dụng kỹ năng lãnh


đạo, quản lý trong hoạt động của Chi cục Thuế huyện Đầm Hà” làm đề án
thu hoạch.
PHẦN I: NHẬN THÚC CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ
1. Nhận thức về hoạt động lãnh đạo
Khi nói đến lãnh đạo là người ta nói đến họat động của những người đứng
đầu nhóm, các bộ phận, tổ chức. Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về lãnh
đạo ở nhiều phương diện khác nhau:
Theo cách thức: Lãnh đạo được định nghĩa “Lãnh đạo là làm thế nào để các
cá nhân và các tập thể đều nhận thấy rằng các mục tiêu theo duổi hợp với nguyện
vọng của mình và khi hoàn thành với những mục tiêu ấy, những nguyện vọng cá
nhân cũng được thỏa mãn” . Theo cách tiếp cận này thì người lãnh đạo phải xác
định được mục tiêu của tổ chức, đơn vị, và mục tiêu của mỗi cá nhân trong đơn
vị để kết hợp lại và hướng đến mục tiêu chung của đơn vị.
Ở góc độ khả năng, lãnh đạo được hiểu như sau: “ Lãnh đạo là khả năng ảnh
hưởng đến hành vi của người khác. Trong tổ chức, người lãnh đạo dùng ảnh
hưởng để hình thành mục tiêu”. Theo định nghĩa này để lãnh đạo được đơn vị thì
người lãnh đạo phải có những khả năng đặc biệt để ảnh hưởng đến người khác,
đó chính là uy tín của bản thân và quyền lực được Nhà nước giao.
Ở góc độ nghệ thuật: “Lãnh đạo là nghệ thuật nhấn mạnh việc đạt được các
mục tiêu tương hỗ thông qua phối hợp và thúc đẩy các cá nhân và các nhóm”.
Lãnh đạo được định nghĩa như alaf nghệ thuật áp đặt mong muốn của mình lên
người khác theo cách thức như ra lệnh để người khác tuân theo, tin tưởng, tôn
trọng và trung thành.
Theo định nghĩa này, nhấn mạnh đến khía cạnh nghệ thuật của lãnh đạo, mỗi
cá nhân có nhu cầu về vật chất và tinh thần riêng, vì vậy để đạt được mục tiêu
của tổ chức hoặc ý định của lãnh đạo, thì người lãnh đạo phải hiểu rõ nhu cầu,
động cơ của mỗi cá nhân cấp dưới và từ đó tìm ra các cơ chế cũng như phương
pháp tác động lên động cơ của từng cá nhân nhằm thúc đẩy họ hoạt động hướng
tới mục tiêu đã được xác định.
Lãnh đạo hành chính mang tính chính trị sâu sắc, những người lãnh đạo
hành chính, hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp do dân bầu lên, do đó họ có nghĩa
vụ phải phục vụ nhân dân vì lợi ích công, nội dung của nó phụ thuộc vào chế độ
chính trị và các giai đoạn lịch sử
Lãnh đạo hành chính mang tính tổng hợp, vừa lãnh đạo chính trị, vừa lãnh
đạo nhiệm vụ, vừa mang tính chuyên ngành vừa mang tính đa lĩnh vực. Thái độ
nghiêm túc và tác phong cần mẫn trong công việc của người lãnh đạo sẽ đôn đốc
cấp dưới thi hành nhiệm vụ được giao.
Từ những khái niệm trên, Hoạt động lãnh đạo được coi là hoạt động của
người lãnh đạo mang tính định hướng, gây ảnh hưởng, tạo dựng niềm tin, thuyết
phục người khác để họ đồng thuận với người lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ
trương hướng tới mục tiêu nào đó. Lãnh đạo tạo hiệu ứng điều khiển, dẫn dắt
người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềm tin, tiêu chuẩn đạo đức, lý tưởng…
mà không mang tính cưỡng bức đối với người khác.


2.Nhận thức về công tác quản lý
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, quản lý thực chất là một
hành vi, đã là hành vi bao giờ cũng tồn tại sự tương tác giữa người gây ra và
người chịu tác động. Tiếp đó cần có mục đích của hành vi, đặt câu hỏi tại sao làm
như vậy? Do đó, để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể
quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản
lý ai, quản lý cái gì? Cuối cùng là cần xác định mục đích của quản lý: quản lý để
đạt đến cái gì và như thế nào. Các vấn đề này chính là những điều kiện cơ bản để
hình thành nên hoạt động quản lý. Nhưng phải chú ý rằng, bất cứ hoạt động quản
lý nào cũng khong phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong một
môi trường, điều kiện nhất định nào đó.
Quản lý là quá trình làm việc cùng với và thông qua những người khác cũng
như các nguồn lực khác nhằm để hoàn thành mục đích của tổ chức; là quá trình
hiện thực hóa các chủ trương, chiến lược thông qua việc thực hiện các chức năng
quản lý phù hợp với yêu cầu và điều kiện của đơn vị; Người quản lý là người
hoạt động dưới danh nghĩa và bởi một chức vụ được cấp trên chính thức bổ
nhiệm cùng với những quyền hạn tương ứng nhất định được trao và đượct hừa
nhận của cấp dưới; nhà quản lý cần phải có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh
vực quản lý.
3. Phân biệt lãnh đạo và quản lý
Lãnh đạo và quản lý (hay quản trị) là hai khái niệm đôi khi dễ gây nhầm lẫn.
Khi chưa hiểu bản chất của mỗi khái niệm này, chúng có thể cho rằng chúng gần
nghĩa với nhau, đều muốn nói đến công việc, hay vai trò của người đứng đầu.
Khi một người nắm giữ một chức vụ trong một tổ chức hay trong một nhóm,
chúng ta nói họ là nhà quản lý và cũng là nhà lãnh đạo, nhưng trong thực tế thì
không hẳn như vậy. Chúng ta có thể làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm này
như sau:
Trước hết, lãnh đạo chú trọng đến kết quả đạt được còn quản lý chú trọng
đến hoàn thành công việc theo khuôn khổ. Các nhà lãnh đạo truyền cảm hứng và
phát triển những người khác, thách thức hiện trạng, luôn đặt ra câu hỏi cái gì và
tại sao, và có tầm nhìn xa. Còn các nhà quản lý thì quản lý công viêc, kiểm soát
ngân sách và chi phí, duy trì hiện trạng. Lãnh đạo liên quan đến sự đổi mới, trong
khi đó quản trị liên quan đến duy trì tình trạng hiện tại. Trong khi các nhà quản lý
tập trung vào tuân thủ các quy trình hiện có thì các nhà lãnh đạo lùi một bước và
thậm chí đặt ra câu hỏi tại sao hệ thống lại tồn tại, cần phải thay đổi thế nào để tổ
chức sẽ vận hành tốt hơn. Nhà lãnh đạo thành công có thể hướng hành vi cấp
dưới đến với tầm nhìn mới này. Và để điều khiển tổ chức đến đạt được tầm nhìn
mới đòi hỏi những sự nỗ lực rất lớn. Lúc này cần có sự kết hợp cả hai kỹ năng
lãnh đạo và quản lý thì mới thực hiện thành công bất kỳ nỗ lực thay đổi nào của
tổ chức. Một trong những nguyên nhân thất bại của những người đứng đầu là
phải cố gắng rất nhiều mới có được kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng quản lý hoặc cả
hai kỹ năng trên.
Chúng ta có thể làm rõ sự khác biệt giữa hai khái niệm này qua bảng sau:
Lãnh đạo

Quản lý


Là làm đúng việc

Là làm việc đúng cách

Nhà lãnh đạo đổi mới

Nhà quản lý thực thi

Nhà lãnh đạo phát triển

Nhà quản lý duy trì

Nhà lãnh đạo truyền cảm hứng

Nhà quản lý kiểm soát

Nhà lãnh đạo có cái nhìn dài hạn

Nhà quản lý có cái nhìn ngắn hạn

Nhà quản lý hỏi Cái gì và Tại

Nhà quản lý hỏi Như thế nào và Khi

sao?

nào?
Nhà lãnh đạo sáng tạo

Nhà quản lý mô phỏng

Nhà lãnh đạo thách thức

Nhà quản lý chấp nhận nguyên trang

4. Mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý.
Có thể nói lãnh đạo và quản lý là hai khái niệm khác nhau, tuy nhiên nó có
sự gắn kết chật chẽ với nhau. Nói về chức năng công việc thì lãnh đạo và quản lý
chủ yếu tập trung vào các nội dung sau:
Lãnh đạo

Quản lý

Phân tích tình hình, xác định
mục tiêu, định hướng, vạch chiến
lược;

Thực hiện các quyết định của người
lãnh đạo

Đưa ra các quyết định quan
trọng

Xử lý các công việc hàng ngày

Làm điểm tựa về uy tín cho tổ
chức, đối với cả người bên và bên
ngoài

Duy trì và đảm bảo cho bộ máy hoạt
động trơn tru
Quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ
quan tổ chức.

Tuy chức năng, công việc của lãnh đạo và nhà quản lý khác nhau nhưng lại
hỗ trợ tiếp nối công việc của nhau. Nếu lãnh đạo ban hành ra các chủ trương,
chính sách, kế hoạch đó thì chủ trương, chính sách đó chỉ để ở trên giấy không
được thực hiện trong thực tế, tổ chức không thể hoạt động. Nếu quản lý và lãnh
đạo đều đưa ra các quyết định quan trọng thì sẽ có quá nhiều quyết định quản lý,
sẽ chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ.
Vì vậy công việc lãnh đạo và quản lý không thể tách rời nhau về vị trí, vai
trò, chức năng. Ở các tổ chức nhỏ, việc lãnh đạo và quản lý hay được quy định
cho một người cùng đảm nhiệm. Tuy nhiên, đối với các tổ chức lớn thì sự phân
biệt giữa các lãnh đạo và quản lý là tương đối rõ ràng, và sự giao thoa về chức
năng nhiệm vụ công việc càng lớn.
Kỹ năng đối với lãnh đạo và quản lý cùng khác nhau, cụ thể:


Đối với lãnh đạo cần có uy tín cá nhân, có kiến thức và hiểu biết rộng, tầm
nhìn xa, trông rộng; biết phối hợp hài hóa giữa các cá nhân và các bộ phận trong
đơn vị
Đối với quản lý cần hiểu được và triển khai các quyết định của lãnh đạo có
hiệu quả, có tính kỷ luật, cẩn thận, tỷ mỉ, nắm sát, chắc các chi tiết về hoạt động
của đơn vị trong phạm vi quản lý.
Lãnh đạo phải có trình độ cao hơn người quản lý, người quản lý thì phải có
tính chuyên môn cao, tuy nhiên tất cả đều vì uy tín, vì công việc, vì sự phát triển
của tổ chức. Lãnh đạo và quản lý gồm một nhóm người cùng tiến hành một hoạt
động chung, cùng thống nhất về mặt lợi ích.
5. Phong cách lãnh đạo:
Nhận thức về phong cách lãnh đạo:
Phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động đặc thù của người lãnh đạo được
hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố
tam lý chủ quan của người lãnh đạo và yếu tố môi trường xã hội trong hệ thống
quản lý.
Những dấu hiệu cần chú ý khi xem xét phong cách lãnh đạo:
- Phong cách lãnh đạo phải thể hiện được quan niệm của người lãnh đạo về
haoatj động quản lý.
- Phong cách lãnh đạo phải bao hàm nhiều phương pháp, lề lối làm việc
được lập ở người lãnh đạo
- Phong cách lãnh đạo được thể hiện qua hệ thống hành vi của ngươif lãnh
đạo, công việc sử dụng nhứng quyền hạn, quyền lực, trí thức và trách nhiệm của
mình để thực hiện vai trò của bản thân.
- Phong cách lãnh đạo chịu sự chi phối của yếu tố môi trường, cho nên giữa
yếu tố môi trường và các đặc điểm cá nhân của người lãnh đạo có sự tương tác
nhất định để hình thành phong cách hoạt động của người lãnh đạo.
- Phong cách lãnh đạo luôn gắn liền với lịch sử, tính giai cấp, gắn liền với hệ
tư tưởng, đạo đức, thể hiện chính trị cũng như tâm lý xã hội và truyền thống dân
tộc.
5.1. Phong cách lãnh đạo quyền uy
Phong cách lãnh đạo quyền uy được đặc trưng bằng việc tập trung mọi
quyền lực vào tay một mình nghười quản lý, người lãnh đạo-người quản lý bằng
ý chí của mình, trấn át ý trí và sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể. Phong
cách lãnh đạo này xuất hiện khi các nhà lãnh đạo nói với nhân viên chính xác
những gì họ muốn nhân viên làm và làm ra sao mà không kèm theo bất kỳ lời
khuyên hay hướng dẫn nào cả. Có đặc điểm:
- Nhân viên ít thích lãnh đạo
- Không khí thân thiện, định hướng nhóm, định hướng nhiệm vụ
- Năng suất cao, kể cả không có mặt của lãnh đạo
5.2. Phong cách lãnh đạo dân chủ


Phong cách lãnh đạo dân chủ được đặc trưng bằng việc người quản lý biết
phân chia quyền lực quản lý của mình, tranh thủ ý kiến cấp dưới, đưa họ tham gia
vào việc khởi thảo các quyết định.
Phong cách lãnh đạo dân chủ còn tạo ra những điều kiện thuận lợi để cho
những người cấp dưới được phát huy sáng kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch
và thực hiện kế hoạch, đồng thời tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong quá
trình quản lý.
Đặc điểm của lãnh đạo có phong cách lãnh đạo dân chủ:
- Cho phép nhân viên tham gia đóng góp ý kiến & triển khai công việc theo
theo năng lực của mỗi người.
- Luôn tham khảo ý kiến của nhân viên đối với các công việc có liên quan
đến chuyên môn của nhân viên.
- Xây dựng cơ chế để nhân viên có quyền hạn nhất định, có thể chủ động
trong việc quyết định các công việc do mình phụ trách.
- Người có phong cách lãnh đạo dân chủ thường là người hiền hòa, ít cáu
giận, luôn tìm hiểu nguyên nhân sâu xa rồi giải quyết một cách thấu đáo.
- Một môi trường làm việc thoải mái, năng động, chủ động thường là nơi có
những người lãnh đạo dân chủ.
Ưu điểm mà phong cách lãnh đạo dân chủ mang lại:
- Nhân viên làm việc hiệu quả hơn: do nhân viên được chủ động trong việc
quyết định các công việc do mình phụ trách nên công việc được xử lý một cách
nhanh chóng hơn, chính xác & hiệu quả hơn.
- Không khí thân thiện, định hướng nhóm, định hướng nhiệm vụ: mọi người
tập trung vào việc xử lý công việc, phối hợp thực hiện công việc thay vì ganh
ghét, đố kỵ nhau.
- Hiệu quả công việc liên tục được nâng cao do người lãnh đạo dân chủ
có được những quyết định đúng đắn, bám sát với thực tế.
- Môi trường làm việc thoải mái, thân th thiện và có triển vọng nên nhân
viên gắn bó làm việc lâu dài, toàn tâm, toàn ý lo cho công việc của công ty.
- Công ty có nhiều ưu thế cạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh bởi phát huy
được sức mạnh tập thể.
Tầm nhìn về phong cách lãnh đạo dân chủ:
- Phong cách lãnh đạo là xu thế tất yếu của phong cách lãnh đạo hiện đại.
Phong cách lãnh đạo cũng là trình độ lãnh đạo, tầm nhìn cả người lãnh đạo. Công
việc điều hành doanh nghiệp vốn nhiều khó khăn.
- Nếu sử dụng phong cách lãnh đạo dân chủ, bạn sẽ tập hợp được nhân sự tài
năng, toàn tâm, toàn ý cùng bạn đưa doanh nghiệp phát triển.
5.3. Phong cách lãnh đạo ủy quyền.
Phong cách lãnh đạo ủy quyền được sử dụng khi các nhân viên có khả năng
phân tích tình huống và xác định những gì cần và làm như thế nào.


Ủy quyền là việc cán bộ quản lý cấp trên cho phép cán bộ cấp dưới có
quyền ra quyết định về những vấn đề thuộc quyền hạn của mình, trong khi người
cho phép vẫn đứng ra chịu trách nhiệm. Ủy quyền là một phạm trù quan trọng, là
một công cụ quản trị sắc bén, là phong cách lãnh đạo dân chủ khá phổ biến ở
nhiều doanh nghiệp trên thế giới. Sự ủy quyền có thể thể hiện dưới hai hình thức:
- Ủy quyền chính thức: Qua sơ đồ cấu tạo bộ máy (mỗi bộ phận có những
chức năng và quyền hạn rõ ràng).
- Ủy quyền không chính thức: Qua sự tín nhiệm cá nhân (Giám đốc ký quyết
định uỷ quyền cho cấp dưới được quyền hạn và trách nhiệm nào đó).
Khi ủy quyền cho cấp dưới, chủ doanh nghiệp có điều kiện giải phóng bớt
cho công việc cụ thể để tập trung vào những vấn đề đặc biệt quan trọng và bao
quát của doanh nghiệp. Mặt khác tạo ra được môi trường rèn luyện cán bộ để từ
đó chọn lọc đề bạt người xứng đáng vào vị trí quản trị cần thiết.
Đặc điểm của phong cách lãnh đạo ủy quyền:
- Nhân viên ít thích lãnh đạo
- Không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng vui chơi
- Năng suất thấp, người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên.
6. Yêu cầu đối với nhà lãnh đạo trong cơ quan hành chính nhà nước.
Người lãnh đạo thường được mô tả như là con người lý tưởng trên tất cả các
mặt. Điều đó không còn phù hợp với thực tế. Ở người lãnh đạo vẫn có những
phẩm chất chưa hoàn hảo; với nhứng khiếm khuyết ấy họ vẫn làm công tác lãnh
đạo được. Những phẩm chất mà họ còn thiếu họ có thể tìm thấy ở người trợ lý
của mình. Tuy vậy, cũng có những phẩm chất mà người lãnh đạo không thể thiếu
được, đặc biệt là đối với những những nhà lãnh đạo trong cơ quan hành chính
nhà nước, có thể xếp thành 03 nhóm sau đây:
6.1. Yêu cầu về phẩm chất chính trị
Người lãnh đạo không phải là đại diện cho ý trí riêng của bản thân mình mà
là đại diện của Dảng, của tổ chức đã đặt họ lên chức vụ lãnh đạo đó. Những yêu
cầu về phẩm chất chính trị của người lãnh đạo biểu hiện tập trung nhiều nhất ở
chỗ người đó phải có năng lực, tính trước mọi hậu quả của nhứng quyết định và
hành động của mình đối với quần chúng. Vì thế, nếu chỉ dùng phương pháp mệnh
lệnh hành chính đơn thuần, người lãnh đạo thường không thấy hết được những
hậu quả của các biện pháp, quyết định và hành động của mình. Phương pháp này
ít cho phép người lãnh đạo thực hiện tốt các những chủ trương chính sách.
Những người cán bộ thường dùng các biện pháp hành chính đơn thuần chưa phải
là người lãnh đạo thực thụ của Đảng và Nhà nước. Nhiệm vụ đặt ra càng phức
tạp bao nhiêu, đời sống của cán bộ, nhân dân càng khó khăn bao nhiêu thì người
lãnh đạo càng phải tính toán kỹ lưỡng bấy nhiêu về hậu quả giáo dục chính trị
của tất cả các quyết định đã đưa ra. Vì vậy, yêu cầu quan trọng nhất đặt ra cho
người lãnh đạo là phải tính đến hậu quả giáo dục chính trị của tất cả các quyết
định mà mình đưa ra; đối với nhà lãnh đạo phải nắm thật vững đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, nhất là những ngưởi lãnh đạo là đảng viên; tham
gia tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và luôn đặt ra nhiệm vụ bồi


dưỡng trình độ chính trị. Trước hết mình là người đại diện của Đảng, sau đó mới
là người lãnh đạo.
6.2. Yêu cầu về khả năng chuyên môn:
Yêu cầu về khả năng chuyên môn đối với người lãnh đạo là phải không
ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, không ngừng tiếp thu những cái
mới, không ngừng vận dụng lý luận vào thực tiễn và không ngừng khái quát thực
tiễn để bổ sung làm giàu kho tàng lý luận.
Một yêu cầu đặt ra đối với năng năng lực chuyên môn của người lãnh đạo là
phải hiểu tường tận tình hình của đơn vị mình phụ trách . Vì người lãnh đạo nắm
quyền hành trong tay và có quyền đưa ra những quyết định để gải quyết công
việc một cách kịp thời và sáng suốt.
6.3. Yêu cầu về năng lực tổ chức.
Yêu cầu quan trọng đầu tiên đối với người lãnh đạo với tư cách là người tổ
chức là phải biết nhìn về mọi mặt bằng con mắt của người ngoài, bởi vì mỗi
người lãnh đạo bằng uy tín, hành động và tư cách của mình có thể ảnh hưởng rất
lớn đối với nhân viên dưới quyền. Điều đó là rất cần thiết, nhưng chỉ cần thiết khi
sự tự nhìn nhận đó không vì lợi ích cá nhân, mà là để hiểu rõ hơn nữa vai trò thủ
trưởng của mình, là để tạo ra bầu không khí hiểu biết lẫn nhau giữa nhân viên và
thủ trưởng. người lãnh đạo phải có được sự tín nhiệm của quần chúng, uy tín về
chuyên môn hết sức cần thiết với người lãnh đạo, nó góp phần nâng cao hiệu quả
quản lý, nó làm cho các quyết định mà họ đưa ra được quần chúng tin tưởng và
cùng nhau thực hiện tốt; phải có khả năng tư duy. Muốn vậy, trước hết phải tạo ra
bầu không khí thuận lợi trân trọng, giữ gìn tâm trạng vui vẻ với mọi người. Vì
vậy, yêu cầu về khả năng biết giao tiếp về mặt tâm lý học, biết dẫn dắt vấn đề
theo ý mình là một ván đề hết sức quan trọng mà người lãnh đạo cần phải có;
Trong giao tiếp trao đổi thông tin giữa người nói với người nghe là một trong các
phương pháp cơ bản nhất và diễn ra thường xuyên với tất cả mọi người và đặc
biệt quan trọng là đối với những người làm công tác lãnh đạo, quản lý. Người
lãnh đạo cần phải noi khi truyền đạt nhiệm vụ mới, khi công việc gặp khó khăn,
trở ngại, khi cần thuyết phục cho mọi người cùng hiểu, cùng đồng tâm chung sức
làm việc. Để nghiên cứu đánh giá nhân viên của mình, điều trước tiên là phải chú
ý đến những phẩm chất của người đó liên quan đến hiệu quả công việc. Khi
nghiên cứu về một con người, lãnh đạo cần phải biết dựa vào những sự hiểu biết
của những người kahcs về con người đó. Không thể có những con người hoàn
hảo về mọi phương diện, vì vậy,khi đánh giá nhân viên của mình, lãnh đạo cần
phải xác định những mặt tốt và những mặt còn tồn tại của một cá nhân đó, biết
tác động một cách có hiệu quả tới người dưới quyền, biết khuyến khích họ hoàn
thành nhiệm vụ chung, biết đoàn kết mọi người, biết tạo lập một thể thống nhất,
một tổ chức có năng lực làm việc hiệu quả, biết ngăn ngừa và giải quyết những
mâu thuẫn, xung đột xảy ra trong tập thể; người lãnh đạo cần có tư duy linh hoạt
trong cách xử thế, phải hết sức nhạy bén để nắm bắt cho được tình thế để có thể
xử lý công việc một cách linh hoạt mà chắc chắn nắm vững thành công.
Trong quản lý sử dụng con người, người lãnh đạo cần phải có con mắt tinh
tường thông hiểu công việc sắp xếp mỗi người vào từng công việc cụ thể, phù
hợp để họ phát huy khả năng của mình, đồng thời khai thác được tiềm năng con


người. Tren cơ sở đó, có thể một mặt dễ dàng tiếp cận với mọi người, động viên
mọi người thực hiện nhiệm vụ chung, mặt khác thực hiện nhiệm vụ là điều kiện
giáo dục mọi người, tạo cho mọi người một tâm hồn, đạo dức trong sáng.
PHẦN II: KỸ NĂNG VẬN DỤNG
1. Sơ lược về quá trình phát triển, nhiệm vụ, chức năng của Chi cục
Thuế huyện Đầm Hà.
* Quá trình thành lập, phát triển: Chi cục Thuế Đầm Hà được thành lập
theo quyết định số 238/TCT/TCCB ngày 10/6/1990 của Bộ Tài chính về việc
thành lập Chi cục thuế Đầm Hà. Sau 25 năm thành lập Chi cục Thuế huyện Đầm
Hà đã từng bước trưởng thành.Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn tranh thủ
sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương và Cục thuế, số thu năm
nay luôn cao hơn năm trước, hàng năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
* Chức năng, nhiệm vụ:
- Chức năng: Chi cục Thuế huyện Đầm Hà là tổ chức trực thuộc Cục Thuế
tỉnh Quảng Ninh, có chức năng thực hiện công tác quản lý, phí, thuế, lệ phí và
các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế) trên địa bàn
của Đầm Hà theo quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ:
+ Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật về
thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;
+ Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân
tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa
phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công
tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị
liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;
+ Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính sách
thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ nộp
thuế theo đúng quy định của pháp luật.
+ Kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa đổi,
bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy trình chuyên môn
nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đề vượt quá thẩm quyền
giải quyết của Chi cục Thuế.
+ Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc
phạm vi quản lý của Chi cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ
khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền
phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo
qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của
ngành; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào
ngân sách nhà nước.
+ Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin
về người nộp thuế trên địa bàn;


+ Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm
thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối với
người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân cấp và
thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;
+ Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm, hoàn
thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu tiền thuế,
xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật;
+ Được quyền yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức,
cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho công
tác quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá nhân
không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực hiện
nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước;
+ Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp
thuế;
+ Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế do lỗi của cơ quan thuế, theo quy
định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc thực
hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;
+ Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế;
lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ
đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ
quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục
Thuế.
+ Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu
nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế
thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của
pháp luật.
+ Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm
quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của
Luật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.
+ Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất
lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế
và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho người nộp thuế thực hiện
chính sách, pháp luật về thuế.
+ Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Thuế.
+ Quản lý bộ máy, biên chế, lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
công chức, viên chức của Chi cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của
ngành thuế.


+ Quản lý kinh phí, tài sản được giao, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế
theo quy định của pháp luật và của ngành.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
2. Thực trạng công tác lãnh đạo, quản lý tại Chi cục Thuế huyện Đầm
Hà.
- Cơ cấu tổ chức:
Chi cục Thuế huyện Đầm Hà gồm có: Chi Cục trưởng, 02 Phó Chi cục
trưởng và 7 Đội thuế
Về biên chế cán bộ tổng số 36 công chức trong biên chế và 04 hợp đồng
theo Nghị định 68.
Để hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao hàng năm, nhất là năm 2016,
nền kinh tế huyện gặp nhiều khó khăn, sức mua hàng hóa giảm dẫn đến tình hình
sản xuất kinh doanh, dịch vụ của doanh nghiệp và hộ kinh doanh tiêu thụ chậm,
ảnh hưởng đến nguồn thu trên địa bàn, nợ đọng tiền thuế ở một số doanh nghiệp
và người nộp thuế kéo dài…Trước tình hình đó, ngay từ đầu, lãnh đạo Chi cục đã
xác định nhiệm vụ của công tác lãnh đạo, quản lý cần tập trung vào một số nhiệm
vụ chủ yếu sau:


Thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2016, phấn đấu hoàn
thành dự toán của tỉnh giao cho cơ quan thuế là 16,6 tỷ đồng, dự táo của
HĐND huyện giao là 22 tỷ đồng.



Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tháo gỡ khó khăn, khắc phục
những hạn chế, rào cản làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của doanh
nghiệp, từ đó có phần cải thiện môi trường kinh doanh và tăng cường thu
hút đầu tư, tạo đà kích thích tăng trưởng kinh tế.



Triển khai thực hiện tốt các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành
trong năm 2014, để đưa ra các chính sách vào cuộc sống, đặc biệt là Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều Luật về thuế, Luật Thuế TTĐB, các Nghị
định, Thông tư hướng dẫn về cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó
khăn cho doanh nghiệp.



Tăng cường kỷ luật, kỷ cương nội ngành, thực hiện tốt các chương trình
phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ
quan thuế.



Tuy nhiên, trong quá trình chỉ đạo thực hiện công tác quản lý thuế trên địa
bàn còn bộc lộ nhiều hạn chế như:

+ Lãnh đạo chưa bao quát hết công việc của các đội thuế theo lĩnh vực mình
được phân công, phụ trách; công tác kiểm soát, kiểm tra đối với cán bộ chưa
được thường xuyên.
+ Tổ chức công tác thu ở một số địa bàn, khoản thu còn lúng túng, thiếu chặt
chẽ dẫn đến kết quả thu ngân sách nhà nước ở một số xã, thị trấn đạt thấp so với
tiến độ đề ra.


+ Lãnh đạo chưa phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu trong việc tổ
chức thực hiện công việc, chưa phát huy hết sở trường, năng lực công tác, khó
khăn còn ỷ lại, thiếu quyết tâm.
Nguyên nhân của hạn chế:


Bản thân các đồng chí lãnh đạo chưa thực sự chủ động, sáng tạo, chưa sâu
sát với cơ sở. Các thành viên trong đội thuế làm việc nhóm hiệu quả chưa
cao, lãnh đạo chưa thực sự là chỉ huy trong công việc, chưa đánh giá đúng
kết quả công việc được giao của cán bộ tổ chức.



Sự phối kết hợp giữa Lãnh đạo Chi cục với Hội đồng tư vấn thuế các xã,
thị trấn chưa có nội dung cụ thể, một số vướng mắc khó khăn ở cơ sở
chưa được giải quyết kịp thời.



Trình độ năng lực lãnh đạo ở một số đồng chí còn hạn chế do chưa thường
xuyên nghiên cứu tài liệu, chính sách pháp luật về thuế, điều hành giải
quyết các công việc còn nặng về kinh nghiệm, nể nang. Kỹ năng lập kế
hoạch công tác cho lĩnh vực được phân công phụ trách còn nhiều hạn chế.
PHẦN III:
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ

1. Các giải pháp:


Thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của Cục thuế của Tỉnh, huyện ủy,
HĐND, UBND huyện về các giải pháp quản lý thu ngân sách nhà nước.
Phối hợp với các xã, thị trấn tăng cường công tác thu ngân sách nhà nước,
coi nhiệm vụ thu là nhiệm vụ chính trị từ huyện đến xã, gắn với chỉ tiêu
thu ngân sách nhà nước với công tác thi đua, khen thưởng, đánh giá kết
quả công tác. Kết hợp với các ngành có liên quan rà soát lại các nguồn thu
các khoản nợ kéo dài, các khoản thu phát sinh.



Chỉ đạo các đội thuế xây dựng chương trình công tác năm, kế hoạch công
tác hàng quý, tháng, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ. Hưởng
ứng tích cực các phong trào thi đua lập nhiều thành tích thu ngân sách nhà
nước, phát huy sáng kiến trong quản lý thuế.



Xây dựng quy chế làm việc của Ban lãnh đạo Chi cục, trong đóphân công
theo lĩnh vực công tác gắn với chức năng, nhiệm vụ của đội thuế, cụ thể:

+ Đồng chí Chi cục trưởng- Bí thư chi bộ, chịu trách nhiệm mọi mặt về công
tác quản lý, điều hành thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Đầm Hà phù
hợp với chức năng, nhiệm vụ củ Chi cục. Chỉ đạo công tác kiểm tra, lập dự toán
thu, chi ngân sách, công tác quản lý cán bộ tại Chi cục. Trực tiếp phụ trách đội
kiểm tra, đội hành chính nhân sự, tài vụ, ấn chỉ.
+ Đồng chí Phó Chi cục trưởng-Phó BT chi bộ, có nhiệm vụ giúp việc cho
Chi cục trưởng, trực tiếp chỉ đạo công tác quản lý thuế ngoài quốc doanh, công
tác thu phí, lệ phí, các khoản thu về đất. Trực tiếp phụ trách đội thuế liên xã, thị
trận, đội trưởng đội trước bạ, thu khác.


+ Đồng chí phó Chi cục trưởng- Chi ủy viên, có nhiệm vụ giúp việc cho Chi
cục trưởng, trực tiếp chỉ đạo công tác kê khai kế toán thuế, tin học, tổng hợp dự
toán; công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, trực tiếp phụ trách đội Kê khai
kế toán thuế, Đội Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế.


Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng cho công chức, viên chức tại Chi
cục thuế. Đẩy mạnh việc kiểm tra, đánh giá cán bộ công chức trong thực
thi công vụ, kiên kiết xử lý nghiêm minh sai phạm, đảm bảo kỷ cương, kỷ
luật nội ngành.

2. Kiến nghị:


Đề nghị Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế thường xuyên bồi dưỡng, cập nhật
những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm mới về khoa học lãnh đạo, quản
lý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp Phòng, Chi cục.



Tăng cường công tác bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm lãnh đạo cấp Phòng,
Chi cục đối với cán bộ trẻ được đào tạo có năng lực.



Thực hiện công tác luân phiên, luân chuyển, điều động lãnh đạo giữa các
phòng và các chi cục nhằm đánh giá đúng năng lực của cán bộ, đồng thời
giúp cho cán bộ lãnh đạo cấp phòng được tiếp cận với nhiều công việc
khác nhau.
KẾT LUẬN

Qua phân tích ở trên, có thể thấy rằng, sử dụng kỹ năng lãnh đạo, quản lý
cấp phòng trong công tác quản lý thuế tại Chi cục có vai trì hết sức quan trọng,
nó có tác động trực tiếp đến kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của cả đơn vị,
mặt khác, sử dụng kỹ năng lãnh đạo tốt sẽ tạo ra môi trường thân thiện trong hoạt
động thực thi công vụ, tạo ra mối quan hệ tin cậy đối với cấp trên và các đơn vị
có liên quan thúc đẩy, hỗ trợ công tác thu ngân sách nhà nước. Xuất phát từ yêu
cầu đó, đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng
tạo để tìm ra phong cách lãnh đạo thích hợp tùy vào những điều kiện, tình huống
cụ thể của tổ chức. Người lãnh đạo phải có tính quyết đoán thể hiện qua các
phẩm chất dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không tự ti, ra được những
quyết định kịp thời trong những tình huống khó khăn. Bên cạnh đó, người lnhx
đạo còn tạo ra được nhiều những điều kiện thuận nhất để cấp dưới phát huy hết
năng lưc, trí lực, óc sáng tạo, lòng nhiệt tình vào công việc, có chế độ đãi ngộ,
khen thưởng, kỷ luật kịp thời, nhằm tạo điều kiện và động viên cho người lao
động phát huy mọi tiềm năng, ổn định tinh thần và đảm bảo được cuộc sống.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tìm hiểu hành chính Nhà nước, PGS. Nguyễn Hữu Khiển, năm 1999.
2. Lãnh đạo và quản lý một nghệ thuật, NXBLĐ-XH, năm 2002.
3. Để trở thành nhà quản lý giỏi, NXBVH-TT, năm 2004.
4. Tập bài giảng tâm lý, NXB KHKT, năm 2008.


5. Tài liệu Đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo quản lý cấp phòng, Trường BDCB
Tài chính – Bộ Tài chính, năm 2015.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×