Tải bản đầy đủ

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ THEO THỦ TỤC PHÚC THẨM

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG
KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ, VIỆC DÂN SỰ THEO THỦ TỤC PHÚC
THẨM
A. Những vẫn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng dân sự
1. Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự
Hiến pháp năm 2013, BLTTDS đã khẳng định VKSND là cơ quan chịu
trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự. Các hoạt động
tố tụng dân sự của những người tiến hành tố tụng dân sự và những người tham
gia tố tụng dân sự là đối tượng kiểm sát của VKSND. Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng dân sự là giám sát, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn
cứ đối với hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, đối với văn bản
áp dụng pháp luật giải quyết vụ việc dân sự của chủ thể tiến hành tố tụng và đó là
hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, một trong những hoạt động thực hiện
chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND. Mục đích của hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là nhằm bảo đảm cho các
hành vi xử sự của các chủ thể tiến hành, tham gia tố tụng và văn bản áp dụng
pháp luật giải quyết vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Nội dung hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự là việc
VKSND sử dụng các biện pháp, quyền năng pháp lý do BLTTDS quy định để kịp

thời phát hiện và loại bỏ vi phạm, tiêu cực của cơ quan, người tiến hành tố tụng
và những người tham gia tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự. Để có thể sử dụng được các biện pháp, quyền
năng pháp lý quy định trong BLTTDS, Nhà nước trao cho VKSND những nhiệm
vụ, quyền hạn nhất định.
Trong khoa học pháp lý, "thẩm quyền", "nhiệm vụ" và "nghĩa vụ" là các
khái niệm khác nhau. Thẩm quyền là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động,
quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc bộ máy nhà nước do pháp luật quy
định. Khái niệm "thẩm quyền" bao hàm hai nội dung chính là quyền hành động
và quyền quyết định của cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước. Quyền hành
động là quyền được làm những công việc nhất định, còn quyền quyết định là
quyền hạn giải quyết công việc đó trong phạm vi pháp luật cho phép (thẩm quyền
1


hành động). Nghĩa vụ là việc mà theo đó một chủ thể (cá nhân, cơ quan, tổ chức)
phải thực hiện hoặc không thực hiện khi tham gia vào một quan hệ pháp luật.
Thuật ngữ "nhiệm vụ", theo Đại Từ điển tiếng Việt được hiểu là "công việc phải
làm, gách vác" hay "công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian
nhất định". Theo cách giải thích này thì nhiệm vụ nói chung là công việc mang
tính chất bắt buộc đối với chủ thể phải thực hiện. Nhiệm vụ của một chủ thể xuất
phát từ tư cách chủ thể trong quan hệ xã hội mà chủ thể đó tham gia và được pháp
luật quy định. Cùng một chủ thể, nhưng mỗi quan hệ xã hội khác nhau thì quy
định pháp luật xác định nhiệm vụ khác nhau. Do đó, có thể hiểu nhiệm vụ của cơ
quan VKSND là những hoạt động cụ thể của VKSND trong một thời gian nhất
định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành mình để cùng thực hiện
nhiệm vụ của bộ máy nhà nước trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng dân sự là những yêu cầu cụ thể do Nhà nước
đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLTTDS và các
văn bản pháp luật khác mà VKSND phải thực hiện bằng những hình thức, biện
pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, cụ thể là: - Bảo đảm
việc giải quyết các vụ án dân sự ở Tòa án các cấp nhanh chóng, khách quan, toàn
diện, đầy đủ và kịp thời.
- Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của Tòa án có căn cứ và đúng
pháp luật. - Bảo đảm mọi bản án, quyết định dân sự của của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật, kịp thời. Như vậy, nhiệm vụ của
VKSND trong tố tụng dân sự là những công việc cụ thể do pháp luật quy định đối
với VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng các vụ việc dân
sự (từ khi Tòa án thụ lý, chuẩn bị xét xử đến phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự)
nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố
tụng. Còn về khái niệm "quyền hạn" được hiểu là quyền theo cương vị, chức vụ
cho phép. Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí
công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo quy định của pháp
luật. Quyền hạn thường gắn chủ thể với một cương vị, tư cách cụ thể. Trong khoa
học pháp lý, quyền hạn được gắn liền với cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà
nước hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó. Quyền hạn của cơ
quan, tổ chức là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền
của cơ quan, tổ chức. Quyền hạn của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức
là quyền quyết định giải quyết công việc trong phạm vi thẩm quyền của cơ quan,
2


tổ chức đó. Đối với quyền của chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự
xuất phát từ sự thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Quyền hạn và nhiệm vụ là
hai khái niệm khác nhau, song lại có mối liên hệ chặt chẽ. Nhiệm vụ của VKS là
việc phải thực hiện các chức năng tố tụng mà BLTTDS quy định, nếu không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ thì tùy theo tính chất và mức độ giải
quyết vụ việc dân sự sẽ không chính xác. Nhiệm vụ của VKS trong tố tụng dân sự
được xác định bắt buộc trong những trường hợp quy định tại Điều 21 BLTTDS.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình pháp luật cần trao cho VKS những quyền hạn
đầy đủ. Tuy nhiên, khái niệm quyền hạn và nhiệm vụ đặt trong một điều kiện với
một chủ thể xác định thì quyền hạn và nhiệm vụ là tương đối thống nhất. Pháp
luật quy định nhiệm vụ của VKS phải thực hiện những công việc gì, đồng nghĩa
là pháp luật trao cho VKS những quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó. Nhiệm vụ,
quyền hạn của VKS nói chung được quy định trong Luật tổ chức VKS. Còn trong
tố tụng dân sự, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS được quy định cụ thể trong các văn
bản pháp luật tố tụng dân sự. Như vậy, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng
dân sự là quyền quyết định thực hiện các hoạt động tố tụng (từ khi Tòa án thụ lý,
chuẩn bị xét xử đến phiên tòa giải quyết vụ việc dân sự) nhằm kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng.
2. Đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, nhiệm vụ quyền hạn của VKS do pháp luật quy định, VKS không
thực hiện những hoạt động ngoài nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Đây chính là nội dung trong nguyên tắc pháp chế - nguyên tắc quan trọng trong tổ
chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội, của những
người có chức vụ, quyền hạn và của công dân. Đây là nguyên tắc hiến định được
hiểu là việc thường xuyên, nhất quán tuân thủ và chấp hành các quy định của
Hiến pháp, của các đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác của tất cả
các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội, của những người có chức vụ, quyền
hạn, của công dân. Trong hoạt động của VKS, nguyên tắc bảo đảm pháp chế hay
đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của VKS do pháp luật quy định, không
thực hiện những hoạt động ngoài nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định
được cụ thể hóa trong việc xác lập tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự. Nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động của VKS phải được
luật điều chỉnh chặt chẽ, cụ thể và các quy định của pháp luật phải được tuân thủ
một cách nghiêm chỉnh, thống nhất. Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật,
VKS có trách nhiệm phải áp dụng biện pháp để khắc phục vi phạm đó. Để đảm
3


bảo việc kiểm sát các vụ việc dân sự khách quan, công bằng, đúng pháp luật thì
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình VKS, Viện trưởng VKS và các kiểm
sát viên phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là vấn đề có ý nghĩa rất lớn
đối với việc giải quyết vụ việc dân sự nên việc chỉ thực hiện những nhiệm vụ,
quyền hạn do pháp luật quy định. Theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành,
VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. Với chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND thực hiện quyền lực
nhà nước, trực tiếp tham gia giám sát các hoạt động tư pháp góp phần bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của
nhân dân; bảo đảm trật tự xã hội. Khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân
(TAND), VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát thông báo, quyết định và các
văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; kiểm sát việc
chuyển giao các loại văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự của
Tòa án; kiểm sát việc chuyển giao các loại văn bản trên của Tòa án có đúng quy
định của BLTTDS hay không... Thứ hai, nhiệm vụ, quyền hạn bảo đảm cho VKS
thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những
người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, góp phần bảo
đảm tính đúng đắn, khách quan của bản án, quyết định của Tòa án. VKSND là
chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, có những quyền và nghĩa vụ tố tụng
nhất định (quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị) với vị trí pháp lý hoàn toàn
khác với vị trí của các chủ thể tham gia tố tụng để thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ quá trình tố tụng dân sự. Là cơ quan tiến
hành tố tụng, song khác với TAND - chủ thể chính trong quan hệ pháp luật tố
tụng dân sự, sự tham gia của VKSND không mang tính chất bắt buộc thường
xuyên liên tục. Về mặt pháp lý, VKSND tham gia kiểm sát việc thụ lý, trả lại đơn
khởi kiện, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kiểm sát bản án... Khi tham gia
phiên tòa, phiên họp kiểm sát viên đại diện cho VKSND thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của VKSND được pháp luật tố tụng dân sự quy định. Đó là kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của Tòa án, người tham gia tố tụng. Vấn đề này được thể
hiện rõ nét nhất tại phiên tòa mà chủ thể tiến hành là kiểm sát viên. Trong tố tụng
dân sự, VKS là chủ thể đặc biệt. Khi thực hiện chức năng giám sát hoạt động giải
quyết vụ việc dân sự tại phiên tòa, phiên họp trong phạm vi quyền hạn của mình,
kiểm sát viên phải tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Bên
cạnh đó, VKSND còn kiểm sát hoạt động tố tụng của các đương sự và cơ quan
tiến hành tố tụng. Hoạt động kiểm sát của VKSND góp phần bảo đảm cho việc
4


giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án được đúng đắn, khách quan. Bộ luật Tố
tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật đã khẳng định rõ về vị trí, chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND. Theo đó, VKSND vẫn là cơ quan tiến
hành tố tụng dân sự, đại diện VKSND là người tiến hành tố tụng. Được coi là cơ
quan tiến hành tố tụng, song các quyền và nghĩa vụ của VKSND chủ yếu để thực
hiên chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ
việc dân sự tại Tòa án, nhằm đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ trong hoạt động
xét xử của Tòa án. Mặc dù, đều là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng khác với Tòa
án, VKS không ra bản án, quyết định giải quyết nội dung vụ việc dân sự. Mục
đích tham gia tố tụng chủ yếu của VKSND là nhằm thực hiện chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng.
Như vậy, sự tham gia tố tụng của VKSND trong tố tụng dân sự là việc
VKSND tham gia với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có chức năng kiểm sát
việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm
chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án. Thứ ba,
nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được thực hiện thông qua hoạt động của kiểm
sát viên và Viện trưởng VKS. Đứng đầu VKS là Viện trưởng VKS. Trong quá
trình giải quyết các vụ việc dân sự, Viện trưởng VKS có nhiều nhiệm vụ, quyền
hạn như: tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tố tụng dân sự; quyết định phân công kiểm sát viên thực hiện
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng, tham gia phiên tòa xét
xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này;
kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng của kiểm sát
viên; quyết định thay đổi kiểm sát viên; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm, bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định. Kiểm sát viên là một trong những
người tiến hành tố tụng tham gia bảo đảm tuân thủ pháp luật trong quá trình giải
quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS. Trong tố tụng dân sự, kiểm sát
viên khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn như: kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Tòa án.
Đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự tân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về
thủ tục, cũng như nội dung; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người
tham gia tố tụng như: nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng, người phiên dịch...
5


3. Cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong
tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự, để xác định được nhiệm vụ, quyền hạn của VKS cần
dựa vào những yếu tố như: vị trí, vai trò của VKS; tính chất của vụ việc dân sự;
việc thực quyền tự định đoạt của đương sự và việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của
đương sự; thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án.
3.1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà
nước.
Trên thế giới, ở các nước khác nhau, theo hệ thống pháp luật khác nhau thì
vị trí, vai trò của VKS trong bộ máy nhà nước cũng khác nhau. Trong mô hình
của các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ (hệ thống common law), hệ thống cơ
quan công tố được tổ chức rất gọn nhẹ, chủ yếu tham gia vào các lĩnh vực hình
sự. Các công tố viên có thể được tuyển chọn theo từng vụ việc cụ thể. Mặc dù
hiện nay tình hình đã có nhiều thay đổi nhưng ở các nước này vẫn tồn tại một
quan niệm: "Càng ít có sự can thiệp của Nhà nước, càng ít có sự can thiệp của
pháp luật thì xã hội càng vận hành có hiệu quả". Theo pháp luật của những nước
này (ví dụ Đan Mạch, Thụy Điển...) thì Viện công tố không có vai trò gì trong vụ
án dân sự. Trong quá trình tố tụng, các công tố viên không tham gia trong quá
trình lập hồ sơ, xét xử, không có quyền kháng nghị... Đối với các nước theo hệ
thống luật lục địa (civil law) như Pháp, Việt Nam... thì Nhà nước hình thành một
hệ thống cơ quan công tố mạnh, có vai trò lớn trong lĩnh vực kiểm sát việc tuân
theo pháp luật và thẩm quyền kháng nghị trong các thủ tục tố tụng. Từ đó, mà
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố (hay VKS) cũng lớn hơn. Tại Pháp, trong
lĩnh vực tố tụng dân sự, Viện công tố có hai vai trò chính: thực hiện quyền khởi
kiện như một bên đương sự; thực hiện quyền yêu cầu áp dụng pháp luật, với tư
cách như một cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, Viện công tố còn có một hình
thức can thiệp thứ ba với vai trò là người đại diện cho các cơ quan nhà nước. Tại
Việt Nam, qua các thời kỳ khác nhau, mà VKS cũng có những vai trò khác nhau.
Trước năm 2004, vai trò của VKSND trong lĩnh vực dân sự được mở rộng. Theo
đó mà Kiểm sát viên phải tham gia tất cả các giai đoạn tố tụng giúp quá trình
kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự được sâu rộng. Đến năm 2004, vai trò tham
gia tố tụng của VKSND bị hạn chế đồng thời bỏ đi quyền khởi tố vụ án dân sự
của VKSND. Trước yêu cầu của thực tiễn, từ các tranh chấp dân sự ngày càng gia
tăng và phức tạp trong khi việc xét xử của Tòa án còn nhiều sai sót cần có cơ chế
giám sát, kiểm tra, từ năm 2012 đến nay, vai trò của VKS trong tố tụng dân sự ở
6


nước ta lại có những thay đổi theo hướng tăng cường. Từ đó, nhiệm vụ và quyền
hạn của VKS cũng được bổ sung nhất định theo hướng VKS tham gia phiên tòa
sơ thẩm trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật, đối với các phiên
họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm thì VKS phải tham gia toàn bộ. Như vậy, nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS trong tố tụng dân sự phụ thuộc vào vị trí, vai trò của VKS hay Viện Công tố
trong tổ chức bộ máy nhà nước. Ở Việt Nam nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong
tố tụng dân sự phụ thuộc vào vị trí, vai trò của VKS trong tổ chức bộ máy nhà
nước ở các giai đoạn lịch sử khác nhau. Do đó, khi xây dựng các quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự hiện nay cần căn cứ vào chức
năng của VKS trong Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND.
3.2. Xuất phát từ việc hài hòa nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân
dân với quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự
Khác với pháp luật tố tụng hình sự giải quyết quan hệ giữa một bên là Nhà
nước, đại diện cho lợi ích công và một bên là người phạm tội do đó, trong đó,
VKS với vai trò đại diện Nhà nước ra cáo trạng buộc tội đối với bị cáo. Pháp luật
tố tụng dân sự giải quyết những tranh chấp các lợi ích tư giữa các đương sự. Mục
đích trực tiếp của pháp luật tố tụng dân sự là bảo vệ lợi ích tư của các đương sự
nên một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự là trao
quyền tự quyết cho đương sự - chủ thể của các lợi ích. Các chủ thể tiến hành tố
tụng chỉ thực hiện các nhiệm vụ làm sáng tỏ vụ việc để giải quyết trên cơ sở pháp
luật chứ không thay mặt cho đương sự quyết định những lợi ích của chính họ. Do
đó, trong tố tụng dân sự quyền tự định đoạt của đương sự luôn được tôn trọng và
bảo đảm thực hiện. Việc tham gia tố tụng của VKS nhằm bảo đảm việc giải quyết
vụ việc dân sự của Tòa án được chính xác, khách quan, góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự nhưng không được hạn chế quyền tự định đoạt của
đương sự. Mọi cá nhân có quyền tự mình lựa chọn những phương thức giải quyết
tranh chấp dân sự miễn sao không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Những biện
pháp giải quyết tranh chấp thay thế như hòa giải, thương lượng, trọng tài đều
được khuyến khích. Trong trường hợp không thỏa mãn với những giải pháp đó,
các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự để
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong suốt quá trình tố tụng kể từ khi
khởi kiện đến trước khi kết thúc phiên tòa, các đương sự có quyền thay đổi, bổ
sung, rút yêu cầu của mình. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tranh tụng, việc thực
hiện nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ nhất định. Đó là trường hợp đương
7


sự không được thay đổi, bổ sung yêu cầu nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu đó
diễn ra tại phiên tòa mà vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Trong tố tụng dân
sự, do quan hệ pháp luật dân sự đa dạng về nội dung, hình thức và chủ thể tham
gia. Khi tham gia các quan hệ dân sự, các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ
theo đúng những nội dung đã cam kết và quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi
một trong các bên không tuân thủ các quy định pháp luật hoặc không tuân thủ
thỏa thuận đã cam kết, xâm phạm đến lợi ích của bên kia thì bên bị vi phạm có
quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ. Do đó,
khi xây dựng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự như
quyền khởi tố, kháng nghị, kiến nghị... phải xem xét đến quyền tự định đoạt của
đương sự.
3.3. Việc dân sự mà ngành Tòa án thụ lý giải quyết ngày càng tăng
Trong 3 năm 2011- 2013, số vụ việc dân sự mà toàn ngành thụ lý tăng từ
88.758 vụ việc lên 111.873 vụ việc, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa vẫn
còn nhiều (năm 2013 đối với các vụ việc dân sự: Tòa án cấp phúc thẩm sửa 2.164
vụ án do cấp sơ thẩm sai; 864 vụ án do có tình tiết mới; hủy 1.424 vụ án do cấp
sơ thẩm sai, 226 vụ án do có tình tiết mới; ở giai đoạn giám đốc thẩm đã hủy 805
bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới. Điều đó cho thấy sai lầm trong việc giải
quyết các vụ án dân sự vẫn còn tồn tại. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng còn
có những bản án, quyết định của Tòa án có sai sót nhưng không bị phát hiện ra.
Do đó, đòi hỏi phải có cơ chế kiểm tra, giám sát bản án, quyết định của Tòa án
một cách có hiệu quả. Trong khi đó hiệu quả giám sát từ phía các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội còn hạn chế, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân chưa
cao (đặc biệt là một bộ phận người dân như người chưa thành niên, người có
nhược điểm về thể chất, tâm thần... luôn bị thua thiệt khi tham gia tố tụng) nên sự
tham gia vào quá trình tố tụng dân sự của VKS vẫn cần thiết trong giai đoạn hiện
nay. Hơn nữa, về nguyên tắc nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng dân sự là thuộc
về các đương sự nhưng trong điều kiện thực tiễn Việt Nam, khi mà trình độ dân
trí còn hạn chế, người dân còn gặp nhiều khó khăn để tự chứng minh bảo vệ
quyền lợi của mình trước Tòa án thì họ phải yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ.
Do đó, để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động xét xử, đại diện VKS cần
tham gia phiên tòa để kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử của Tòa án.
B. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết
các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
8


2.1. Khái niệm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo
thủ tục phúc thẩm
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001),
VKSND có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định “Viện kiểm sát nhân dân tối cao
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm
cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Hiến pháp năm 2013
tiếp tục ghi nhận Viện kiểm sát có các chức năng thực hành quyền công tố, kiểm
sát hoạt động tư pháp. Như vậy, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một
chức năng Hiến định của hệ thống VKSND, đã được các Hiến pháp ghi nhận từ
khá lâu. Tuy nhiên, khái niệm “Kiểm sát hoạt động tư pháp” chỉ mới được cơ bản
làm rõ khi Luật tổ chức VKSND năm 2014 được ban hành. Theo quy định tại
Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014, “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi,
quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực
hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ
án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư
pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”.
Theo nội dung khái niệm kiểm sát hoạt động tư pháp nêu trên, chủ thể thực
hiện kiểm sát hoạt động tư pháp là VKSND, đối tượng của kiểm sát hoạt động tư
pháp là hành vi, quyết định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư
pháp và phạm vi kiểm sát hoạt động tư pháp được xác định là các hành vi, quyết
định của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong suốt quá trình quá trình giải quyết
các vụ án hình sự, dân sự, hành chính và các hoạt động tư pháp khác theo quy
định của pháp luật. Nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp là tính hợp pháp của các
hành vi, các quyết định thuộc đối tượng kiểm sát, tính hợp pháp thể hiện ở việc
các hành vi, quyết định này phải được thực hiện, ban hành theo đúng thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, thời hạn, bảo đảm có đầy đủ căn cứ theo quy định của pháp luật
về tố tụng tư pháp và các quy định của pháp luật có liên quan.
Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm của
VKSND là hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát trong một
giai đoạn cụ thể trong tố tụng dân sự. Chủ thể tiến hành hoạt động kiểm sát là
Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền. Đối tượng của hoạt động kiểm
9


sát là toàn bộ các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng, bản án của Tòa án và các
hành vi tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình trong quá trình
giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Về phạm vi hoạt động kiểm sát, theo quy
định của Bộ luật TTDS năm 2004 trước đây cũng như Bộ luật TTDS năm 2015
hiện nay, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự theo trình tự phúc thẩm phát sinh từ
việc thực hiện quyền kháng cáo của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của
họ, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp sơ thẩm, của
VKS cấp trên trực tiếp đối với bản án, quyết định giải quyết vụ án của Tòa án cấp
sơ thẩm. Kháng cáo, kháng nghị là những hoạt động tố tụng khởi đầu của quá
trình giải quyết vụ án dân sự, hành chính theo trình tự phúc thẩm. Sau khi tiếp
nhận, nếu kháng cáo, kháng nghị đáp ứng các điều kiện quy định về quyền kháng
cáo, thẩm quyền kháng nghị, về trình tự, thủ tục, thời hạn kháng cáo, kháng nghị
…thì Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên, Tòa án
có quyền trả lại đơn kháng cáo theo quy định mới của Bộ luật TTDS năm 2015
(khoản 4 Điều 274). Việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm chấm
dứt khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và gửi bản
án, quyết định phúc thẩm theo quy định. Như vậy, phạm vi kiểm sát việc giải
quyết các vụ án dân sự, theo thủ tục phúc thẩm có phạm vi bao gồm toàn bộ các
hoạt động tố tụng của Tòa án, các hành vi tố tụng của những người tham gia tố
tụng và các quyết định, bản án của Tòa án được ban hành kể từ khi Tòa án tiếp
nhận đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị đến khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản
án, quyết định giải quyết vụ án và gửi các văn bản này theo quy định của pháp
luật TTDS.
Về mục đích, nhiệm vụ, cũng như kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS nói
chung, hoạt động kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính theo thủ
tục phúc thẩm bảo đảm cho các hành vi tố tụng, bản án, các quyết định tố tụng
được thực hiện, ban hành trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp
luật, đúng thẩm quyền, bảo đảm căn cứ, đúng trình tự, thủ tục nhằm bảo vệ Hiến
pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Từ nội dung phân tích nêu trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm “Kiểm sát
việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính theo trình tự phúc thẩm” như sau:
“Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hành chính theo trình tự phúc thẩm là
hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi
10


tố tụng của Tòa án, của những người tham gia tố tụng, tính hợp pháp của bản án,
quyết định do Tòa án ban hành trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hành
chính kể từ khi tiếp nhận đơn kháng cáo của đương sự hoặc người đại diện hợp
pháp của đương sự, quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án,
quyết định dân sự, hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật đến khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và gửi
các văn bản này cho các chủ thể có quyền được nhận, nhằm bảo vệ Hiến pháp,
bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong các
vụ án dân sự, hành chính, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất”.
2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết
các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân
sự, nói chung, kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự theo trình tự phúc thẩm
nói riêng được quy định trong Luật tổ chức VKSND và pháp luật tố tụng dân sự.
Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 trước đây (Điều 21). Khi
kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh
tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân
dân có những nhiệm vụ và quyền hạn: Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu
cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm
giải quyết đúng đắn vụ án; Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật; Tham gia
các phiên Tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải
quyết vụ án; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án
nhân dân; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;
Kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân; Yêu cầu Tòa án nhân
dân áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật; Yêu
cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án dân sự,
hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy
định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị. Luật Tổ chức
VKSND năm 2014 (Điều 27) cơ bản thừa kế các nội dung quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn của VKSND theo quy định tại Điều 21 Luật Tổ chức VKSND năm
2002 như nêu trên, theo đó loại bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án của VKS, quy
định rõ quyền thu thập chứng cứ của VKS, đồng thời quy định rõ VKS có nhiệm
vụ kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện.

11


Trong pháp luật tố tụng dân sự nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi thực hiện
kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự được quy định cụ thể hơn theo hướng
xác định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của mỗi chức danh Viện trưởng VKSND, Kiểm
sát viên VKSND. Theo quy của Bộ luật TTDS năm 2004 (Điều 44), khi thực hiện
nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, Viện
trưởng Viện kiểm sát (hoặc Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ quyền) có
những quyền hạn, nhiệm vụ phục vụ cho công tác tổ chức, quản lý, chỉ đạo, điều
hành hoạt động kiểm sát của VKSND, cụ thể là: tổ chức và chỉ đạo thực hiện
công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự; Quyết
định phân công Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng; Kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động tố tụng của Kiểm sát viên; Quyết định thay đổi Kiểm sát viên; Giải
quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Bộ luật này. Viện trưởng Viện kiểm sát
(hoặc Phó Viện trưởng được Viện trưởng uỷ quyền) cũng được quy định những
quyền hạn, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động tố tụng quan trọng như: tham gia
phiên toà xét xử vụ án dân sự; Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án.
Bộ luật TTDS năm 2015 (Điều 57) kế thừa nội dung quy định về nhiệm vụ,
quyền hạn của Viện trưởng VKSND như nêu trên, trong đó quy định bổ sung cho
Viện trưởng VKSND quyền yêu cầu, kiến nghị. Đây là một trong những bổ sung
cần thiết bảo đảm đầy đủ cơ sở pháp lý cho việc ban hành những kiến nghị, yêu
cầu đến các cơ quan, tổ chức liên quan các vấn đề về khắc phục sơ hở trong công
tác quản lý, phòng ngừa và xử lý vi phạm phát hiện được thông qua công tác
kiểm sát. Theo quy của Bộ luật TTDS năm 2004 (Điều 45), khi thực hiện kiểm
sát việc giải quyết các vụ án dân sự, Kiểm sát có những n hiệm vụ, quyền hạn:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án của Toà án;
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; Tham gia
phiên toà xét xử vụ án và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ
án dân sự; Kiểm sát các bản án, quyết định của Toà án. Ngoài ra, KSV còn thực
hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc thẩm quyền của VKS theo sự phân
công của Viện trưởng Viện kiểm sát.
Theo những quy định nêu trên, khi thực hiện kiểm sát việc giải quyết các vụ
án dân sự theo thủ tục phúc thẩm, VKSND có quyền kháng nghị kháng nghị đối
với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có vi
phạm; có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ của Tòa án, của người tham gia đối với
12


các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết vụ án dân sự trong Bộ luật TTDS
năm 2004. Các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKS như sau:
Thứ nhất, thực hiện quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật có vi phạm
Kháng nghị là việc VKSND yêu cầu TAND cấp trên xét lại bản án, quyết định
của Tòa án cấp dưới khi thấy các bản án, quyết định này không đảm bảo tính có
căn cứ và tính hợp pháp. Kháng nghị là một quyền năng của VKSND được pháp
luật quy định. Đây là một biện pháp quan trọng của VKSND để thực hiện chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh thống nhất. Theo quy định trong BLTTDS thì VKSND có thẩm
quyền kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án. Một trong số đó là hoạt động kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật. Đây là
hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND trong
tố tụng dân sự. Việc VKSND phản đối bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp
luật của Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án theo
thủ tục phúc thẩm. Như vậy, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm: "Là hoạt động tố
tụng của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật trong việc phản đối bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đề nghị tòa án cấp
trên trực tiếp xét xử lại vụ án Theo quy định của Bộ luật TTDS năm 2004 (Điều
250), trước đây, Bộ luật TTDS năm 2015 (Điều 278), Viện trưởng VKSND cùng
cấp và cấp trên trực tiếp (hoặc Phó được ủy quyền) có quyền kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm những bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm. Quy định
cua pháp luật TTDS trong Bộ luật TTDS năm 2015 (Điều 278 - 281), kế thừa các
nội dung quy định của của Bộ luật TTDS năm 2004. Quyết định kháng nghị của
VKS phải đáp ứng các quy định về thẩm quyền, về hình thức, nội dung, về thời
hạn và phải được VKS ban hành kháng nghị đó thông báo cho các đương sự liên
quan đến nội dung kháng nghị.
Thứ hai, kiểm sát việc thu lý vụ án
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ thụ lý
vụ án khi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có kháng cáo hợp
pháp, thực hiện nghĩa vụ tạm ứng án phí theo quy định; khi có kháng nghị hợp
pháp của VKS. Nhiệm vụ kiểm sát tính hợp pháp của việc thụ lý vụ án Tòa án
bao gồm: kiểm sát tính hợp pháp của kháng cáo về chủ thể kháng cáo, hình thức,
13


nội dung của đơn kháng cáo, thời hạn thực hiện kháng cáo; kiểm sát tính hợp
pháp của kháng nghị về thẩm quyền kháng nghị, thời hạn thực hiện kháng nghị,
hình thức, nội dung quyết định kháng nghị được Tòa án chấp nhận, thụ lý giải
quyết, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo; việc thực hiện thông báo về việc
kháng cáo, kháng nghị, chuyển hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án
cấp phúc thẩm, việc thụ lý vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm. VKS còn có trách
nhiệm kiểm sát tính có căn cứ của việc trả lại kháng cáo của Tòa án (đây là quy
định được bổ sung tại Điều 274 Bộ luật TTDS năm 201).
Thứ ba, kiểm sát tính hợp pháp của các hoạt động tố tụng, quyết định tố
tụng và nghiên cứu hồ sơ trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án
Nhiệm vụ kiểm sát của VKS trong đối với các hoạt động tố tụng được thực hiện
trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án bao gồm: việc tuân thủ quy định của pháp
luật về thời hạn xét xử, tính hợp pháp của các quyết định tố tụng được ban hành
(như quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết
định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, quyết
định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ
án – nếu nguyên đơn trong vụ án dân sự, trước khi mở phiên tòa); việc chấp hành
quy định pháp luật về chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hoạt động
kiểm sát của VKS trong giai đoạn này cần tập trung vào tính có căn cứ của các
quyết định được ban hành, về tính hợp pháp của thành phần Hội đồng xét xử, sự
đầy đủ của diện những người tham gia tố tụng cần triệu tập đến phiên tòa và viên
phải kịp thời nghiên cứu kỹ hồ sơ. Việc nghiên cứu hồ sơ tập trung các nội dung:
xem xét quá trình tố tụng giải quyết vụ việc dân sự ở giai đoạn sơ thẩm đến khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định mở phiên họp (việc chấp hành pháp luật
về trình tự, thủ tục tố tụng); nắm vững nội dung, các tình tiết và chứng cứ của vụ
án, nhất là chứng cứ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, việc cung cấp và thu
thập chứng cứ đã đầy đủ hay không; xem xét lý do kháng cáo, kháng nghị, thủ tục
kháng cáo, kháng nghị; xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị, thủ tục
kháng cáo, kháng nghị; xem xét thay đổi, bổ sung rút kháng nghị; phân tích tổng
hợp chứng cứ, điều khoản của BLTTDS, BLDS và các văn bản pháp luật khác dự
kiến áp dụng để giải quyết vụ án… Trên cơ sở đó, chuẩn bị đề cương tham gia hỏi
(tại phiên tòa) và phát biểu tại phiên tòa, phiên họp.
Thứ tư, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng tại phiên tòa và phát biểu
quan điểm của VKS

14


Nhiệm vụ của hoạt động kiểm sát tại các phiên tòa xét xử phúc thẩm các vụ
án dân sự của VKS bao gồm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thủ tục chuẩn
bị khai mạc phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi, nghe lời trình bày
của đương sự, đối đáp, tranh luận tại phiên tòa, việc công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự tại phiên tòa (trong vụ án dân sự), về việc tạm ngừng phiên tòa ( đây
là nội dung quy định mới tại Điều 304 Bộ luật TTDS năm 2015 ); kiểm sát việc
tuân theo các quy định về phạm vi xét xử, về thẩm quyền của Hội đồng xét xử và
quy định về bản án phúc thẩm.
Về việc phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự, theo quy định tại Điều 273
Bộ luật TTDS năm 2004 (được sửa đổi theo khoản 44 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự) , Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và
những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu quan
điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án, quyết định sơ thẩm
hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, cụ thể là: phát
biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo (nếu có kháng cáo);
trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị, có quyền xuất trình
bổ sung hồ sơ, tài liệu, vật chứng (nếu có) làm cơ sở cho việc kháng nghị, phân
tích để làm rõ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định
sơ thẩm; phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của
những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình
giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát
về việc giải quyết đối với bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Bộ Luật TTDS năm 2015 (Điều 306) giữ
nguyên quy định về phát biểu quan điểm của VKS như quy định của Bộ Luật
TTDS năm 2004 như nêu trên. Theo đó, tại phiên tòa, phiên họp: kiểm sát việc
chấp hành thủ tục tố tụng của Hội đồng xét xử, thẩm phán và những người tham
gia tố tụng từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa, phiên họp; kiểm sát viên
đề nghị hoãn phiên tòa, phiên họp khi có căn cứ do BLTTDS quy định và kiểm sát
việc hoãn phiên tòa, phiên họp; trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ kháng
nghị bản án sơ thẩm; xuất trình, bổ sung chứng cứ những tài liệu để làm rõ kháng
nghị; xem xét việc rút kháng nghị; tham gia hỏi tại phiên tòa và phát biểu ý kiến tại
phiên tòa, phiên họp. Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và
đối đáp xong, kiểm sát viên phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm. Phát biểu của kiểm
15


sát viên tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm cần phân biệt 03 trường hợp: - Trường
hợp chỉ có kháng cáo của đương sự, thì kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính có
căn cứ và hợp pháp của kháng cáo; phát biểu về việc tuân theo pháp luật của những
người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết đối
với bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo.
- Trường hợp chỉ có kháng nghị của VKS, thì kiểm sát viên phát biểu trình bày nội
dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị; có quyền xuất trình bổ sung hồ sơ,
tài liệu, vật chứng (nếu có) làm cơ sở cho việc kháng nghị; phân tích để làm rõ
quan điểm kháng nghị của VKS đối với bản án, quyết định sơ thẩm; phát biểu về
việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham
gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm; phát biểu quan
điểm của VKS về việc giải quyết đối với bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bán
án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị. - Trường hợp vừa có kháng cáo của đương
sự, vừa có kháng nghị của VKS thì kiểm sát viên phát biểu về tính có căn cứ và
hợp pháp của kháng cáo; trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng
nghị; phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố
tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn
phúc thẩm; phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết đối với bản án, quyết
định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Khác với phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc
thẩm, VKS còn có quyền phát biểu quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ việc
dân sự cả về tố tụng và nội dung. Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên phải thể hiện
bằng văn bản, có chữ ký của kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp và phải
được gửi cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự. Phát biểu của kiểm sát viên
tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm phải thể hiện rõ thái độ, trách nhiệm của VKS
trước sự đúng-sai của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, giúp cho Hội
đồng xét xử, Hội đồng phúc thẩm ra bản án, quyết định có căn cứ và đúng pháp
luật. Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phiên
họp, kiểm sát viên trình bày ý kiến, phân tích làm rõ tính hợp pháp, tính có căn cứ
của kháng cáo, kháng nghị, đề nghị hướng giải quyết cụ thể đối với bản án, quyết
định bị kháng cáo, kháng nghị. Bản án, quyết định phúc thẩm phải được Tòa án
cấp phúc thẩm gửi cho VKS cùng cấp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án,
quyết định.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×