Tải bản đầy đủ

DE CUONG BAO CAO THUC TAP SV DAO THI THA

Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

Đề tài: Lý luận chung đối với pháp luật về kinh doanh Thương mại điện tử và định
hướng hoàn thiện

ĐỀ CƯƠNG
Phần mở đầu:
Bill Gate từng nói “Từ 5 đến 10 năm nữa, nếu bạn không kinh doanh thông qua
internet thì tốt hơn hết bạn đừng nên kinh doanh nữa ” Vì sao vị tỷ phú người Mỹ lại
nói như vậy? Và thực chất kinh doanh trên Internet là gì? Tại sao nó lại có ảnh hưởng
to lớn đến hoạt động kinh doanh?
Chúng ta đều có thể thấy mô hình kinh doanh trên toàn cầu đã và đang có thay đổi
đáng kể trước sự ra đời của thương mại điện tử(TMĐT). Nước Anh có chợ thương
mại điện tử lớn nhất toàn cầu khi đo bằng chỉ số chi tiêu bình quân đầu người, con số
này cao hơn cả Mỹ. Kinh tế Internet ở Anh có thể tăng 10% từ năm 2010 đến năm
2015. Trong số các nền kinh tế mới nổi, thương mại điện tử ở Trung Quốc tiếp tục
được mở rộng. Với 384 triệu người sử dụng Internet, doanh số bán lẻ của các cửa
hàng trực tuyến ở Trung Quốc đã tăng 36,6 tỉ USD năm 2009. Thương mại điện tử
cũng được mở rộng trên khắp Trung Đông. Với sự ghi nhận là khu vực có tăng

trưởng nhanh nhất thế giới trong việc sử dụng Internet từ năm 2000 đến năm 2009,
hiện thời khu vực có hơn 60 triệu người sử dụng Internet; bán lẻ, du lịch và
chơi game là những lĩnh vực được thương mại điện tử hóa mạnh nhất ở khu vực này.
Ở Việt Nam, Internet bắt đầu xâm nhập và phát triển mạnh từ cuối thế kỷ XX đầu thế
kỳ XXI, số lượng người sử dụng Internet tăng lên từng ngày từng giờ với tốc độ
chóng mắt. Hiện nay đang có hơn 40% dân số thế giới sử truy cập Internet và đến
năm 2017 con số này đã tăng lên hơn 50% . Đây là một lợi thế cho thương mại điện
tử phát triển. Bởi lẽ thương mại điện tử phát triển dựa trên cơ sở nền tảng công nghệ
thông tin và mạng Internet. Ở Việt Nam kinh doanh thương mại điện tử được ví
như “ Tên Khổng Lồ Đang Ngủ Say”. Tuy nhiên, để đánh thức “Tên Khổng Lồ”
này, Việt Nam cần có sự chuẩn bị tốt về mọi mặt từ công nghệ, kinh tế, văn hóa,
chính trị… Trong khi đó thực tiễn pháp luật Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa thực
sự tạo điều kiện để các doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước mạnh dạn đầu tư
trong lĩnh vực tiềm năng này.
Chương I: Những quy định của pháp luật về kinh doanh Thương mại điện tử và
tổ chức kinh doanh Thương mại điện tử.
I.

Khái quát chung về thương mại điện tử

Theo nghĩa hẹp, TMĐT (e-commerce, e-comm hay EC) là hình thức buôn bán các
sản phẩm hoặc dịch vụ thông qua mạng Internet và các phương tiện điện tử khác.

1


Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

Theo cục Thống kê Hoa Kỳ năm 2000: TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao
dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian, bao gồm các việc chuyển
giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ.
Diễn đàn Đối thoại xuyên Đại Tây Dương năm 1997 thì cho rằng: TMĐT là các giao
dịch thương mại về hàng hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua các phương tiện
điện tử.
EITO – Tổ chức viễn thông quốc tế thuộc Liên Hợp quốc,1997: Thương mại điện tử
là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển giao giá trị thông
qua các mạng viễn thông.
Theo nghĩa rộng, TMĐT có thể hiểu là việc tiến hành các giao dịch tài chính và
thương mại bằng các phương tiện điện tử và công nghệ sử lý thông tin số hóa.
Một số quan điểm cũng được hiểu theo nghĩa rộng:
UNCTAD – Hội nghị Liên Hợp quốc về Thương mại và Phát triển, 1998: TMĐT bao
gồm việc sản xuất, phân phối, marketing, bán hay giao hàng hóa và dịch vụ bằng các
phương tiện điện tử.
WTO: TMĐT bao gồm việc quảng cáo, sản xuất, bán hàng, phân phối sản phẩm được
giao dịch và thanh toán trên mạng Internet, nhưng việc giao nhận có thể hữu hình và
giao nhận qua Internet dưới dạng số hóa.
UCITRAL – Luật mẫu TMĐT, 1996: TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại
thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất kỳ công đoạn nào
của toàn bộ quá trình giao dịch
Tóm lại: TMĐT được định nghĩa một cách đầy đủ và ngắn gọn nhất là việc thực hiện
các hoạt động thương mại về hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử
và các ứng dụng của chúng, phổ biến nhất là Internet.
Lợi ích lớn nhất mà TMĐT đem lại chính là sự tiết kiệm chi phí và tạo thuận lợi cho các bên
giao dịch. Giao dịch bằng phương tiện điện tử nhanh hơn so với giao dịch truyền thống, ví dụ
gửi fax hay thư điện tử thì nội dung thông tin đến tay người nhận nhanh hơn gửi thư. Các giao
dịch qua Internet có chi phí rất rẻ, một doanh nghiệp có thể gửi thư tiếp thị, chào hàng đến
hàng loạt khách hàng chỉ với chi phí giống như gửi cho một khách hàng.
- Với TMĐT, các bên có thể tiến hành giao dịch khi ở cách xa nhau, giữa thành phố với nông
thôn, từ nước này sang nước kia, hay nói cách khác là không bị giới hạn bởi không gian địa lý.
Điều này cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian gặp mặt trong khi mua
bán.
- Với người tiêu dùng, họ có thể ngồi tại nhà để đặt hàng, mua sắm nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ thật nhanh chóng

II.
Các quy định của pháp luật về Thương mại điện tử
1. Pháp luật thế giới
2


Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

Nhằm tạo khung pháp lý cho phát triển thương mại điện tử, tháng 12 năm 1996, tại
phiên họp thứ 29 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc, Ủy ban Luật Thương mại quốc
tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu về thương mại điện
tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của các thông điệp
dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho những tổ chức, cá nhân mong muốn tham
gia thương mại điện tử. Luật mẫu có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo
cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật về thương mại điện tử của mình.
Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được thừa
nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng
cường khả năng thi hành những giao dịch bằng phương tiện điện tử. Luật mẫu được
soạn thảo dựa trên sáu nguyên tắc cơ bản, gồm:
-

-

-

Tương đương thuộc tính: tài liệu điện tử có thể được coi có giá trị pháp lý như
tài liệu ở dạng văn bản nếu thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;
Tự do thỏa thuận hợp đồng;
Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;
Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về
hình thức hợp đồng: những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và
khả năng được thi hành phải được tôn trọng;
Áp dụng về hình thức hơn là quan tâm đến nội dung: luật chỉ áp dụng đối với
hình thức hợp đông, mà không đề cập đến nội dung, trên cơ sở phải thỏa mãn
những đòi hỏi pháp lý nhất định;
Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước. Nhiều quốc gia đã thể hiện
các nguyên tắc và nội dung của Luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật
quốc gia của mình.

Hoa Kỳ là nước đi đầu trong lĩnh vực thương mại điện tử, đã ấn định các nguyên tắc
cơ bản cho thương mại điện tử của riêng mình, đồng thời kiến nghị cho nền thương
mại điện tử toàn cầu. Tháng 7/1999, Hiệp hội các thanh tra viên về pháp luật các tiểu
bang Hoa Kỳ đã thông qua Luật mẫu về các giao dịch điện tử và gửi cho các cơ quan
lập pháp ở từng bang để thông qua và ban hành.
Canada cũng được coi là một cường quốc trong việc nghiên cứu và ứng dụng thương
mại điện tử. Để tạo một môi trường pháp lý hoàn chỉnh cho các giao dịch thương mại
điện tử, Chính phủ Canada đã tiến hành rà soát, sửa đổi các văn bản hiện hành đồng
thời ban hành các văn bản mới liên quan đến thương mại điện tử như luật về chữ ký
điện tử, chứng cứ điện tử.
Các nước EU đang ngày càng khẳng định vị trí trên thế giới nhờ sự phát triển của
thương mại điện tử và nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc ban hành các văn
bản pháp luật và dưới luật để điều chỉnh hoạt động thương mại mới mẻ này.

3


Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

Ở Áo, kinh doanh thương mại điện tử được điều chỉnh trước tiên bằng Luật Thương
mại điện tử (E-Commerce-Gesetz ECG) , Luật bán hàng từ xa (Fernabsatzgesetz),
Luật chữ ký (Signaturgesetz), Luật kiểm soát nhập hàng (Zugangskontrollgesetz)
cũng như bằng Luật tiền điện tử (E-Geld-Gesetz), mà trong đó các quy định pháp
luật về hợp đồng và bồi thường của bộ Luật Dân sự Áo (Allgemeine bürgerliche
Gesetzbuch - ABGB), nếu như không được thay đổi bằng những quy định đặc biệt
trên, vẫn có giá trị.
Nước Đức: các quy dịnh này nằm trong các điều 312b và sau đó của bộ Luật dân sự
(Bürgerliche Gesetzbuch – BGB) (trước đây là Luật bán hàng từ xa) là các quy định
đặc biệt về những cái gọi là các hợp đồng bán hàng từ xa. Ngoài những việc khác là
quy định về trách nhiệm thông tin cho người bán và quyền bãi bỏ hợp đồng
cho người tiêu dùng. Cũng trong quan hệ này, Luật dịch vụ từ xa (Teledienstgesetz)
ấn định bên cạnh nguyên tắc nước xuất xứ (điều 4) là toàn bộ các thông tin mà những
người điều hành các trang web có tính chất hành nghề, mặc dầu chỉ là doanh
nghiệp nhỏ, có nhiệm vụ phải cung cấp (điều 6) và điều chỉnh các trách nhiệm này
trong doanh nghiệp đó (điều 8 đến điều 11).
Ở những hợp đồng được ký kết trực tuyến thường hay không rõ ràng là luật nào được
sử dụng. Ví dụ như ở một hợp đồng mua được ký kết điện tử có thể là luật của nước
mà người mua đang cư ngụ, của nước mà người bán đặt trụ sở hay là nước mà máy
chủ được đặt. Luật pháp của kinh doanh điện tử vì thế còn được gọi là "luật cắt
ngang". Thế nhưng những điều không rõ ràng về luật pháp này hoàn toàn không có
nghĩa là lãnh vực kinh doanh điện tử là một vùng không có luật pháp. Hơn thế nữa,
các quy định của Luật dân sự quốc tế (tiếng Anh: private international law) được áp
dụng tại đây.
Tại nước Đức các quy định luật lệ châu Âu về thương mại được tích hợp trong bộ
Luật dân sự, trong phần đại cương và trong các quy định về bảo vệ người tiêu dùng.
Mặt kỹ thuật của thương mại điện tử được điều chỉnh trong Hiệp định quốc gia về
dịch vụ trong các phương tiện truyền thông của các tiểu bang và trong Luật dịch vụ
từ xa của liên bang mà thật ra về nội dung thì hai bộ luật này không khác biệt nhau
nhiều.

2. Pháp luật Việt Nam
2.1 Tổng quan cơ sở pháp lý về Thương mại điện tử
Tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giao dịch điện tử. Tháng 6 năm
2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2006/NĐ-CP về thương mại điện tử.
Đầu năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 27/2007/NĐ-CP ngày
23/02/2007 "Về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính", số 26/2007/NĐ-CP
ngày 15/02/2007 "Quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và
dịch vụ chứng thực chữ ký số", số 35/2007/NĐ-CP ngày 08/03/2007 "Về giao dịch
điện tử trong hoạt động ngân hàng".
4


Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

Nội dung chủ yếu của Nghị định về thương mại điện tử năm 2006 là thừa nhận giá trị
pháp lý của chứng từ điện tử trong hoạt động thương mại, ngoài ra có một số quy
định cụ thể khác. Cho tới cuối năm 2012 thương mại điện tử ở Việt Nam phát triển
nhanh và đa dạng, đồng thời cũng xuất hiện những mô hình mang danh nghĩa thương
mại điện tử thu hút rất đông người tham gia nhưng gây tác động xấu tới xã hội.
Ngày 16 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về
thương mại điện tử thay thế cho Nghị định năm 2006. Nghị định mới đã quy định
những hành vi bị cấm trong thương mại điện tử, quy định chặt chẽ trách nhiệm của
các thương nhân cung cấp các dịch vụ bán hàng trực tuyến, trách nhiệm của cơ quan
quản lý nhà nước về thương mại điện tử. Một trong những mục tiêu quan trọng của
Nghị định mới là tạo môi trường thuận lợi hơn cho thương mại điện tử, nâng cao lòng
tin của người tiêu dùng khi tham gia mua sắm trực tuyến.

2.2 Ưu điểm và nhược điểm của các văn bản pháp luật trên
3. So sánh các quy định về Thương mại điện tử của pháp luật Việt Nam với
pháp luật của một số nước trong khu vực.
Tiểu kết chương I
Chương 2: Thực tế hoạt động và hướng phát triển của các công ty Thương mại
điện tử hiện nay.
I.

Quá trình hình thành ngành kinh doanh thương mại điện tử

Về nguồn gốc, thương mại điện tử được xem như là điều kiện thuận lợi của các giao
dịch thương mại điện tử, sử dụng công nghệ như EDI (Trao đổi dữ liệu điện tử
(EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử
khác bằng phương tiện điện tử, có sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để
cấu trúc thông tin) và EFT(Electronic funds transfer là lệnh chuyển tiền điện tử từ một tài
khoản ngân hàng này đến tài khoản khác bên trong một tổ chức tài chính hoặc giữa nhiều tổ
chức thông qua hệ thống máy tính [2] và không có sự can thiệp trực tiếp của con người) . Cả hai

công nghệ này đều được giới thiệu thập niên 70, cho phép các doanh nghiệp gửi
các hợp đồng điện tử như đơn đặt hàng hay hóa đơn điện tử. Sự phát triển và chấp
nhận của thẻ tín dụng, máy rút tiền tự động (ATM) và ngân hàng điện thoại vào thập
niên 80 cũng đã hình thành nên thương mại điện tử. Một dạng thương mại điện tử
khác là hệ thống đặt vé máy bay bởi Sabre ở Mỹ và Travicom ở Anh.
Vào thập niên 90, thương mại điện tử bao gồm các hệ thống hoạch định tài nguyên
doanh nghiệp (ERP), khai thác dữ liệu và kho dữ liệu.
Năm 1990, Tim Berners-Lee phát minh ra WorldWideWeb trình duyệt web và
chuyển mạng thông tin liên lạc giáo dục thành mạng toàn cầu được gọi
là Internet (www). Các công ty thương mại trên Internet bị cấm bởi NSF cho đến
năm 1995. Mặc dù Internet trở nên phổ biến khắp thế giới vào khoảng năm 1994 với
sự đề nghị của trình duyệt web Mosaic, nhưng phải mất tới 5 năm để giới thiệu các
5


Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

giao thức bảo mật (mã hóa SSL trên trình duyệt Netscape vào cuối năm 1994)
và DSL cho phép kết nối Internet liên tục. Vào cuối năm 2000, nhiều công ty kinh
doanh ở Mỹ và Châu Âu đã thiết lập các dịch vụ thông qua World Wide Web. Từ đó
con người bắt đầu có mối liên hệ với từ "ecommerce" với quyền trao đổi các loại
hàng hóa khác nhau thông qua Internet dùng các giao thức bảo mật và dịch vụ thanh
toán điện tử.
Các mốc thời gian về sự phát triển của thương mại điện tử như sau:


1979: Michael Aldrich phát minh mua sắm trực tuyến.



1982: Minitel được giới thiệu tại Pháp thông qua France Telecom và sử dụng
để đặt hàng trực tuyến.



1984: Gateshead SIS/Tescolà trang mua bán trực tuyến dạng B2C đầu tiên và
bà Snowball, 72 tuổi, là khách hàng mua hàng trực tuyến đầu tiên.



1984: Tháng 4 năm 1984, CompuServe ra mắt Trung tâm Mua sắm Điện tử
ở Mỹ và Canada. Đây là dịch vụ thương mại điện tử đầu tiên toàn diện.



1990: Tim Berners-Lee xây dựng trình duyệt đầu tiên, WorldWideWeb, sử
máy máy NeXT.



1992: Terry Brownell ra mắt hệ thống bảng Bulletin cửa hàng trực tuyến
dùng RoboBOARD/FX.



1994: Netscape tung trình duyệt Navigator vào tháng 10 với tên
là Mozilla. Pizza Hut đặt hàng trên trang web này. Ngân hàng trực tuyến đầu tiên
được mở. Một số nỗ lực nhằm cung cấp giao hoa tươi và đăng ký tạp chí trực
tuyến. Các dụng cụ "người lớn" cũng có sẵn như xe hơi và xe đạp. Netscape 1.0
được giới thiệu vào cuối năm 1994, giao thức mã hóa SSL làm cho các giao dịch
bảo mật hơn.



1995: Thứ 5, ngày 27 tháng 4 năm 1995, việc mua sách của ông Paul
Stanfield, Giám đốc sản xuất của công ty CompuServe tại Anh, từ của hàng WH
Smith trong trung tâm mua sắm CompuServe là dịch vụ mau hàng trực tuyến đầu
tiên ở Anh mang tính bảo mật. Dịch vụ mua sắm trực tuyến bắt đầu từ WH Smith,
Tesco, Virgin/Our Price, Great Universal Store/GUS, Interflora, Dixons Retail,
Past Times, PC Word (retailer) và Innovations.



1995: Jeff Bezos ra mắt Amazon.com và thương mại miễn phí 24h, đài phát
thanh trên Internet, Radio HK và chương trình phát sóng ngôi
sao NetRadio. Dell và Cisco bắt đầu tích cực sử dụng Internet cho các giao dịch
thương mại. eBay được thành lập bởi máy tính lập trình viên Pierre Omidyar như
là dạng AuctionWeb.



1998: Tem điện tử được mua bán và tải trực tuyến từ Web.
6


Báo cáo thực tập
1998: Alibaba Group được hình thành ở Trung Quốc.




SV: Đào Thị Thanh Dịu

1999: Business.com bán khoảng 7.5 triệu USD cho eCompanies, được mua
vào năm 1997 với giá 149,000 USD. Phần mềm chia sẻ tập tin ngang
hàng Napster ra mắt. ATG Stores ra mắt các sản phẩm trang trí tại nhà trực tuyến.



2000: bùng nổ dot-com.



2001: Alibaba.com đạt lợi nhuận trong tháng 12 năm 2001.



2002: eBay mua lại PayPal với 1.5 tỉ USD.



2003: Amazon.com đăng tải bài viết lợi nhuận hàng năm.



2004: DHgate.com, công ty B2C giao dịch trực tuyến đầu tiên ở Trung
Quốc được thành lập, buộc các trang web khác B2B bỏ mô hình "trang vàng".



2005: Yuval Tal sáng lập giải pháp phân phối thanh toán trực tuyến bảo mật.



2007: Business.com mua lại bởi R.H. Donnelley với 345 triệu USD.



2009: Zappos.com mua lại bởi Amazon.com với 928 triệu USD.



2010: Groupon ra báo cáo từ chối một lời đề nghị mua lại trị giá 6 tỷ USD
từ Google. Thay vào đó, Groupon có kế hoạch đi trước với IPO vào giữa năm
2011.



2011: Quidsi.com, công ty cha của Diapers.com, được mua lại
bởi Amazon.com với 500 triệu USD tiền mặt cộng với 45 triệu nợ và các nghĩa
vụ khác.[13] GSI Commerce, công ty chuyên tạo ra, phát triển và thực thi trang
web mua sắm trực tuyến cho dịch vụ gạch và vữa trong kinh doanh, được mua lại
bởi eBay với 2.4 tỉ USD.



2012: Thương mại điện tử và Doanh số bán lẻ trực tuyến của Mỹ dự kiến đạt
226 tỷ USD, tăng 12%so với năm 2011.

II.

Tiềm năng phát triển của ngành kinh doanh thương mại điện tử

Tại Việt Nam xu hướng ứng dụng Thương Mại Điện Tử đã bắt đầu. Thị trường
TMĐT tại Việt Nam được đáng giá là phát triển khá tốt và sẽ tiếp tục phát triển trong
những năm tới. Rất nhiều các công ty nước ngoài đã đổ vốn đầu tư vào Việt Nam bởi
họ nhận thấy đây chính là miếng bánh béo bở trong tương lai không xa. Nghành nghề

7


Báo cáo thực tập

SV: Đào Thị Thanh Dịu

này hiện nay phát triển mạnh trên nhiều lĩnh vực như thương mại di động, thương
mại xã hội…
Tiểu kết chương II
Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật về kinh doanh Thương mại điện tử
I.
II.

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật kinh về doanh thương mại điện
tử
Phương hướng hoàn thiện

Tiểu kết chương 3
Tổng kết

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×