Tải bản đầy đủ

BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TẠI công ty cổ phần chứng khoán Vndirect

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ

Sinh viên:
Mã sinh viên:
Ngày tháng năm sinh:
Lớp:
Khóa:

Hà Nội – Tháng ….Năm ..


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1

MỤC LỤC

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC


Page 2


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1

LỜI MỞ ĐẦU

Các công ty chứng khoán nói chung và công ty chứng khoán Vndirect nói riêng là một
trong những nơi mà sinh viên khoa tài chính ngân hàng mong muốn được thực tập và làm việc
sau khi ra trường. Đây là chiếc nôi đào tạo ra những nhà phân tích tài chính giỏi,những chuyên
viên tư vấn,môi giới chứng khoán và cũng là nơi mà các bạn sinh viên trẻ mới ra trường có thể
học hỏi và trau dồi thêm những kinh nghiệm thực tế, phát huy đúng chuyên ngành của mình.
Chính vì vậy mà ngày 16/12/2014 vừa qua khoa Tài chính Ngân hàng- trường ĐH Kinh Tế
-ĐHQGHN đã tổ chức cho sinh viên các lớp TCNH được tham dự buổi nói chuyện với các anh
chị nhân viên bên Công ty cổ phần chứng khoán Vndirect – một trong 3 công ty lớn nhất ngành
chứng khoán Việt Nam.Buổi nói chuyện có sự tham gia của TS.Trần Thị Thanh Tú-Phó chủ
nhiệm phụ trách khoa Tài chính ngân hàng và ThS Tô Lan Phương cùng với đông đủ sinh viên
các lớp K56.TCNH và K57.TCNH.CLC.
Tại đây chúng em đã được gặp gỡ và giao lưu với anh Tuấn Anh , chị Nga của công ty cổ
phần chứng khoán Vndirect và được các nghe anh chị chia sẻ những kinh nghiệm rất chân thành
của bản thân khi làm việc tại công ty như thế nào cũng như những điều cần tích lũy để có thể có
được cơ hội việc làm ở Vndirect. Qua những giờ phút trò chuyện tuy ngắn ngủi nhưng đã đem lại
cho em nói riêng và các bạn sinh viên khoa Tài chính ngân hàng nói chung những kiến thức rất
bổ ích về ngành chứng khoán cũng như về hoạt động của Công ty cổ phần chứng khoán
Vndirect.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 3


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1

Câu 1: Nhận xét về tổ chức hoạt động và danh mục dịch vụ của công ty chứng khoán

Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian ở thị trường chứng khoán, thực
hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi
giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư
vấn đầu tư và quản lý quỹ đầu tư. Công ty chứng khoán có thể tham gia quá trình trao đổi cổ
phiếu trong thị trường với vai trò trung gian
 Tổ chức hoạt động
 Theo mô hình tổ chức hoạt động thì công ty chứng khoán có thể chia thành nhiều loại: Công ty

cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn.
• Công ty hợp danh: Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên, thành viên
của công ty chứng khoán hợp danh bao gồm: Thành viên góp vốn và thành viên hợp
danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của
mình về nghĩa vụ thanh toán của công ty. Các thành viên góp vốn không tham gia điều
hành công ty, họ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với
những khoản nợ của công ty.Công ty hợp danh không được phép phát hành bất cứ một


loại chứng khoán nào.
Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công
ty là các cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần có



quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết
góp vào doanh nghiệp.Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phép phát hành cổ
phiếu.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 4


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
Do các ưu điểm của loại hình công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn so với
công ty hợp danh, vì vậy hiện nay chủ yếu các công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Hiện nay ở nước ta theo quyết định số 03/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13 tháng 10 năm 1998
của UBCK, CTCK là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt
Nam, được uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình
kinh doanh chứng khoán.
 Theo cách phân loại dựa vào các nghiệp vụ thực hiện của công ty chứng khoán thì công ty

chứng khoán có thể chia thành các loại như sau:
• Công ty môi giới chứng khoán: là công ty chỉ thực hiện việc trung gian, mua bán


chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: là công ty chứng khoán có lĩnh vực hoạt



động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá.
Công ty kinh doanh chứng khoán: là công ty chứng khoán chủ yếu thực hiện nghiệp




vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Công ty trái phiếu: là công ty chứng khoán chuyên mua bán các loại trái phiếu.
Công ty chứng khoán phi tập trung: là các công ty chứng khoán hoạt động chủ yếu
trên thị trường OTC và họ đóng vai trò là các nhà tạo lập thị trường bằng các dịch vụ
cung cấp.

Đối với các thị trường chứng khoán phát triển thì vai trò của các công ty này là rất
lớn.Còn đối với những thị trường mới phát triển như nước ta thì tiềm năng của các công ty này là
rất lớn.
 Danh mục dịch vụ
 Môi giới chứng khoán: Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán

chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng
tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC. Vì các quyết
định đầu tư do chính khách hàng đưa ra nên họ sẽ phải tự chịu trách nhiệm về kết quả.
Hiện nay, tất cả các công ty chứng khoán ở nước ta đều đang thực hiện nghiệp vụ này.Nhân
viên phòng môi giới của các công ty chứng khoán sẽ cung cấp thông tin về các công ty niêm yết,
các thông tin thị trường cho khách hàng bên cạnh đó họ sẽ đại diện cho khách hàng trong việc
thực hiện các giao dịch. Tuy nhiên đó mới chỉ là "môi giới giao dịch" khi thị trường phát triển thì
hoạt động môi giới phải đóng vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán và nhà đầu tư
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 5


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
mua chứng khoán, thông qua hoạt động môi giới nhà môi giới chứng khoán sẽ trở thành người
bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịp thời cho nhà đầu
tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo.
 Nghiệp vụ tự doanh: Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán là quá trình tự tiến hành các

giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình. Đây được coi là một khoản đầu tư của công ty
bởi vì hoạt động này được thực hiện nhằm mục đích thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua
hành vi mua bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp
vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính công
ty.
Hoạt động tự doanh được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGCK hoặc thị trường
OTC.Trên thị trường OTC hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông
qua hoạt động tạo lập thị trường.Lúc này, công ty chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị
trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số loại chứng khoán và thực hiện
mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá.
Đối với các công ty chứng khoán ở nước ta hiện nay thì chỉ có một số công ty thực hiện
hoạt động này bởi vì theo quy định của pháp luật thì muốn thực hiện nghiệp vụ này thì công ty
chứng khoán cần đáp ứng được một số yêu cầu mà đầu tiên là phải có vốn điều lệ 12 tỷ. Đây
cũng là một điều bất lợi đối với một số công ty chứng khoán khi không có đủ điều kiện về vốn
trong khi đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn và khả năng phân tích.
 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành: Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán là việc

thực hiện các đợt chào bán và phân phối chứng khoán cho các doanh nghiệp cổ phần hoá ra công
chúng và thực hiện bảo lãnh. Có thể nói nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là một trong những nghiệp
vụ phổ biến ở các công ty chứng khoán, nó giúp cho tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục
trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng
khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay thì mới chỉ có một số công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ
này, đó là những công ty có ngân hàng mẹ hỗ trợ rất nhiều về năng lực, vốn, các quan hệ sẵn có.
 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư: Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư là việc thực hiện quản

lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh
lợi cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn nguồn vốn cho khách hàng. Việc lập và
quản lý danh mục đầu tư đòi hỏi phải có đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn có kinh
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 6


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
nghiệm trong lĩnh vực đầu tư tài chính. Chính vì vậy để có thể hoạt động tốt tạo lòng tin cho
khách hàng đồng thời thu được nguồn lợi nhuận trong tương lai cho công ty thì cần phải nâng
cao hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ này.
 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán: Dựa trên hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên,

phân tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát
hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng.
Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức, đó chính là vốn chất xám mà họ
đã bỏ ra để kinh doanh nhằm đem lại hiệu quả cho cả công ty chứng khoán lẫn khách hàng. Nhà
tư vấn đòi hỏi phải hết sức thận trọng trong việc đưa ra các lời khuyên đối với khách hàng, vì với
lời khuyên đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá sản, còn người
tư vấn thu về cho mình khoản thu về dịch vụ tư vấn bất kể hoạt động đó thành công hay không.
Bên cạnh các hoạt động tư vấn về đầu tư chứng khoán các công ty chứng khoán còn thực
hiện một mảng tư vấn rất lớn đó là mảng tư vấn tài chính doanh nghiệp.
Trong mảng tư vấn về tài chính doanh nghiệp các công ty chứng khoán thực hiện các hoạt
động: Tư vấn cổ phần hoá, tư vấn niêm yết, tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp, chuyển đổi hình
thức sở hữu, tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, chia tách, sát nhập…Những mảng hoạt động
này đòi hỏi đội ngũ nhân viên tư vấn của công ty chứng khoán cần phải nghiên cứu tìm hiểu các
vấn đề tài chính doanh nghiệp một cách chuyên sâu.
Những năm gần đây thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước ta trong việc sắp xếp đổi
mới hình thức sở hữu của các doanh nghiệp, tất cả công ty chứng khoán đều đã thực hiện rất tốt
mảng hoạt động này.

Câu 2:Thực trạng quản trị công ty chứng khoán ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam những năm gần đây đang suy thoái và vẫn gặp nhiều khó khắn,
năm 2014 tình hình kinh kế có chút cải thiện tích cực nhưng rất chậm chạp vì vậy nó có ảnh
hưởng rất lớn đến thị trường chứng khoán nói chung. Các công ty chứng khoán vì thế cũng gặp
nhiều khó khăn không chỉ trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mà còn bởi các nhà
đầu tư trong nước vẫn còn đang khá rụt rè trong việc đầu tư trong một nền kinh tế vĩ mô chưa ổn
định như hiện nay.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 7


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
Theo cam kết WTO, năm 2012 sẽ mở cửa hoàn toàn với các dịch vụ chứng khoán Việt
Nam, sự cạnh tranh trên thị trường này chắc chắn sẽ khốc liệt hơn.
Thực trạng hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam cho thấy, hầuhết các định
chế trung gian này đều thực hiện chưa tốt 03 nguyên tắc:




Kiểm soát rủi ro
Tránh xung đột lợi ích
Thực hiện các quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
 Thứ nhất, mục tiêu của nguyên tắc về kiểm soát rủi ro là nhằm đảm bảo công ty chứng
khoán hoạt động lành mạnh, giá trị cổ đông tăng trưởng liên tục. Kiểm soát rủi ro hiện nay
đang là vấn đề đáng lo ngại nhất của các công ty chứng khoán Việt Nam. Lạm dụng đòn bẩy
tài chính, cung cấp tín dụng cho nhà đầu tư mua chứng khoán một cách bất hợp pháp và vượt
quá ngưỡng kiểm soát rủi ro của công ty chứng khoán đã trở thành chuyện hàng ngày của thị
trường.
Trong hai năm gần đây, để cạnh tranh, nhiều công ty cho vay đầu tư chứng khoán với tỷ lệ
đòn bẩy tài chính từ 100% tới 300%, các dịch vụ cho vay khác như cho vay ứng trước ngay
sau khi có kết quả khớp lệnh, repo cổ phiếu chưa niêm yết, cho vay bảo chứng, cho vay
100% thời gian T+1, T+2, thậm chí ñến T+7, hợp tác với các ngân hàng thương mại để cung
cấp dịch vụ cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán...
Thông qua công tác giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán cho thấy, không
ít công ty chứng khoán cho nhà đầu tư “VIP” vay để giao dịch với số tiền lên tới 30-40 tỷ
ñồng. Giai đoạn thị trường tăng trưởng nóng khiến các công ty chứng khoán đã lãng quên các
nguyên tắc về quản trị rủi ro, nhằm chạy theo việc cạnh tranh và thu hút khách hàng. Gần đây
nhất, dư luận thị trường xôn xao vì thông tin một số nhà đầu tư VIP đã sử dụng đòn bẩy tài
chính để lừa các công ty chứng khoán.
Nhóm nhà đầu tư này đã ñược công ty chứng khoán hỗ trợ tài chính ñể liên tục mua vào vài
chục tỷ đồng cổ phiếu AAA, đẩy giá cổ phiếu này lên mức cao ngất ngưởng rồi chính nhóm
này lại mở tài khoản mới tại các công ty chứng khoán khác, sử dụng đòn bẩy tài chính lên
ñến 70% giá trị giao dịch để mua lại số cổ phiếu này. Như vậy, với chiêu bài dùng tiền của
chính công ty chứng khoán để mua vào tay này, bán ra tay kia, nhóm nhà đầu tư này đã thu
về vài chục tỷ đồng rồi “biến mất”, để lại “nạn nhân” là một số công ty chứng khoán ôm
đống cổ phiếu AAA mà giá trị thị trường liên tục đi xuống. Thông tin chi tiết về sự kiện này

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 8


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
tuy chưa được cơ quan quản lý chứng khoán xác nhận cụ thể nhưng có thể coi đây là bài học
quý báu về kiểm soát rủi ro cho các công ty chứng khoán.
Bên cạnh đó, tình trạng thua lỗ của hầu hết các công ty chứng khoán trong năm 2010 cũng
phần nào phản ánh việc quản trị kinh doanh và quản trị rủi ro chưa tốt của các doanh nghiệp
này. Báo cáo tài chính quý 3-2010 cho thấy, tại 25 CTCK đang niêm yết trên sàn có đến 9
công ty thông báo lỗ quý 3 (đều ở sàn HNX). Lỗ nặng nhất là CTCK Kim Long (KLS), tới
193 tỷ đồng (lũy kế 9 tháng KLS lỗ 203 tỷ đồng), CTCK Bảo Việt (BVS) thông báo lỗ 83,6
tỷ đồng; lũy kế 9 tháng lỗ của BVS là 74,6 tỷ đồng. CTCK Rồng Việt (VDS) quý 3 cũng lâm
vào tình trạng thua lỗ gần 25,5 tỷ đồng. Chứng khoán Hải Phòng- HPC lỗ nặng quý 3 với
42,9 tỷ đồng; CTCK Công Thương lỗ 26,96 tỷ ñồng. điều này ñặt ra nhiều dấu hỏi về tình
hình quản trị của các công ty chứng khoán.
 Thứ hai, một trong những nguyên tắc quan trọng trong quản trị công ty chứng khoán là tránh

xung đột lợi ích. Với tư cách là tổ chức cung cấp dịch vụ, tránh xung đột lợi ích là nhằm đảm
bảo rằng công ty chứng khoán tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, cung cấp
tốt dịch vụ, duy trì cũng như phát triển được cơ sở khách hàng bền vững. Tuy nhiên, các công
ty chứng khoán Việt Nam cũng chưa thực hiện triệt để nguyên tắc này. Tránh xung đột lợi ích
thể hiện ở hai lĩnh vực chủ yếu:


Tách biệt tài sản của công ty chứng khoán và tài sản khách hàng, tách biệt tài sản của các
khách hàng với nhau.



Thực hiện đúng các nguyên tắc ưu tiên trong thực hiện lệnh của khách hàng. Thực hiện
nguyên tắc này, trong những năm gần đây, UBCKNN đã rất vất vả trong việc yêu cầu các
công ty chứng khoán thực hiện tách biệt tiền của khách hàng và tiền của công ty. Mặc dù
quy định được UBCKNN ban hành từ năm 2007, nhưng cơ quan này mới chỉ thực sự
thúc giục các công ty chứng khoán thực hiện quy định tách biệt tài sản trong 2 năm 2008
và 2009. Kết quả là có khoảng 20/105 công ty thực hiện. Tuy nhiên, đến năm 2010, do
tính chất phức tạp của việc yêu cầu nhà đầu tư mở tài khoản tại ngân hàng thương mại và
kết nối tài khoản này với các giao dịch chứng khoán, hầu hết các công ty chứng khoán lại
quay lại phương thức sử dụng một tài khoản tổng cho tất cả các nhà đầu tư tại ngân hàng.
Với phương thức này, sự tách biệt tài sản của nhà đầu tư là không tồn tại, vì thế nếu có
tình trạng công ty chứng khoán lạm dụng tiền của nhà đầu tư này để cho nhà đầu tư khác
vay mua chứng khoán thì cơ quan quản lý chứng khoán cũng khó lòng giám sát được.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 9


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
Bên cạnh đó, việc tôn trọng và thực hiện đúng các nguyên tắc về ưu tiên lệnh của khách
hàng cũng chưa được các công ty chứng khoán thực hiện triệt để.
Năm 2010 là một năm báo chí và công luận ghi nhận các giao dịch thao túng thị trường
xảy ra nhiều nhất từ trước tới nay. Những cổ phiếu của doanh nghiệp có hoạt đông bình thường
hoặc thua lỗ đột nhiên tăng giá chóng mặt chỉ trong thời gian ngắn như AMV, MKV, HTV, HHC
và nhiều mã cổ phiếu khác. Một số vụ thao túng giá chứng khoán mà cơ quan quản lý phát hiện
được đều cho thấy dấu hiệu đặt lệnh dồn dập đầu phiên, cuối phiên hoặc sát giờ khớp lệnh ñịnh
kỳ để tác động đến giá mở cửa hoặc giá tham chiếu. Dư luận thị trường cho rằng nếu thiếu sự
“giúp ñỡ” của nhân viên công ty chứng khoán, những nhà đầu tư thực hiện các hành vi thao túng
giá này khó lòng có thể đặt lệnh như vậy. Báo cáo giám sát của các Sở Giao dịch Chứng khoán
năm 2009 cho thấy, có tới 77% các vi phạm của công ty chứng khoán thành viên là vi phạm về
việc đặt, hủy và sửa lệnh sai quy ñịnh. Hiện tượng này một mặt làm tổn hại đến quyền và lợi ích
hợp pháp của cộng đồng đầu tư, một mặt giảm niềm tin của thị trường vào chính các công ty
chứng khoán.
 Thứ ba, thực hiện các quy tắc đạo đức nghề nghiệp (code of conduct) là một trong những

nguyên tắc về quản trị của công ty chứng khoán. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng công ty
chứng khoán cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất cho khách hàng và giảm thiểu rủi ro đạo
đức. Hầu hết các công ty chứng khoán đều xây dựng những quy chế quản trị nội bộ, cá biệt
có công ty xây dựng bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp áp dụng trong công ty. Tuy nhiên, việc
vi phạm các quy tắc đạo đức nghề nghiệp của nhân viên công ty chứng khoán vẫn còn phổ
biến trên thị trường. điển hình là vụ nhân 5 viên môi giới chứng khoán bắt cóc con gái, tống
tiền chính khách hàng của mình. Một số công ty chứng khoán như Thiên Việt, Công ty chứng
khoán Phố Wall đã bị khách hàng khiếu nại về việc lạm dụng tài khoản khách hàng. Có
không ít trường hợp dư luận dị nghị về công ty chứng khoán thổi phồng tình hình lợi nhuận
và kinh doanh để thu hút khách hàng; tiết lộ thông tin về tình hình hoạt ñộng kinh doanh của
công ty niêm yết cho người thân và bạn bè để trục lợi từ việc có trước thông tin; cạnh tranh
thiếu lành mạnh bằng cách tung tin thất thiệt về dối thủ; nhân viên công ty môi giới tham gia
vào việc tung tin đồn về việc “đánh lên” một số cổ phiếu nhất định hoặc chính bản thân các
công ty chứng khoán cũng tham gia vào các “đội lái” để làm giá trên thị trường chứng khoán;
hoặc nhân viên công ty chứng khoán sau khi chuyển sang công ty khác đã tiết lộ bí quyết
kinh doanh của công ty cũ cho công ty mới... Mặc dù cơ quan quản lý chứng khoán có rất ít
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 10


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
thông tin phản hồi về những vụ việc này, nhưng đây là những câu chuyện được bàn luận sôi
nổi của giới kinh doanh chứng khoán và những người tham gia hầu hết ñều cho rằng thị
trường chứng khoán cần một “quy tắc đạo đức nghề nghiệp”.

Câu 3: Phân tích các rủi ro thường gặp và các biện pháp quản trị rủi ro trong công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán là một trong những công ty đem lại mức thu nhập khá hấp dẫn tuy
nhiên những công ty chứng khoán cũng đối mặt với không ít những rủi ro
 Rủi ro hoạt động hay còn gọi là rủi ro tác nghiệp, rủi ro vận hành
• Đây là loại rủi ro có mặt trong hầu hết hoạt động của CTCK.
• Rủi ro này xuất phát từ các nhân tố như đội ngũ nhân viên, hệ thống công nghệ của công

ty, các tác động khách quan khác. Trong đó có một số trường hợp như nhân viên gian lận,
môi giới giả mạo chữ ký khách hàng hay của công ty để rút tiền, đặt nhầm lệnh, tự doanh
dùng tiền của công ty mua chứng khoán bên ngoài và bán lại cho công ty để ăn chênh
lệch, vi phạm hoặc không tuân thủ các quy định của pháp luật, quy định tại điều lệ công
ty, vi phạm các quy định nội bộ, quy trình nghiệp vụ, quy chế, kể cả các quy định về đạo
đức nghề nghiệp..
Nếu không quản trị tốt rủi ro này CTCK sẽ phải đối diện với tổn thất về uy tín và tài sản.
 Biện pháp quản trị:
• Thiết kế quy trình, bộ máy vận hành có sự kiểm tra chéo lẫn nhau giữa các cá nhân, bộ


phận. Tại Công ty, các quy trình nghiệp vụ và bộ máy hoạt động được thiết kế với mục
đích có sự kiểm tra chéo lẫn nhau để tăng cường kiểm tra, giám sát nội bộ, hạn chế sự
lạm quyền và sớm phát hiện các sai phạm có thể xảy ra;
• Nâng cao ý thức tuân thủ của nhân viên. Công tác đào tạo, tuyên truyền về tuân thủ
được chú trọng. Nhân viên mới được tuyển dụng đều được đào tạo, phổ biến về các
quy trình, quy chế chung và các quy định đặc biệt có liên quan đến công việc của mình.
Trong suốt thời gian làm việc tại SSI, nhân viên được đào tạo định kỳ để nắm rõ quy
trình làm việc và nâng cao ý thức tuân thủ;
• Thiết lập hệ thống kiểm tra, giám sát nội bộ;
• Áp dụng kỷ luật nghiêm khắc đối với các trường hợp vi phạm quy định của Công ty.

 Rủi ro tín dụng

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 11


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1


Rủi ro tín dụng là rủi ro mà CTCK có khả năng không thu được nợ hoặc khách hàng



không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Rủi ro này nảy sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ ký quỹ (margin) cho khách hàng,
nhiều công ty đã phải chấp nhận khoản lỗ lớn vì nắm giữ một lượng lớn cổ phiếu thị giá
thấp hơn giá gốc khi khách hàng chối bỏ trách nhiệm nộp thêm tiền vào tài khoản. Cũng
có ý kiến cho rằng nên kiện khách hàng ra tòa nhưng việc này thường tốn nhiều thời gian
và phát sinh chi phí lớn.Mặc dù giao dịch ký quỹ là một công cụ tốt để cạnh tranh và hỗ
trợ cho cuộc chạy đua giành thị phần nhưng cần quản trị rủi ro này tốt để đảm bảo tránh

được khoản lỗ lớn.
 Biện pháp quản trị
• Lập danh mục hỗ trợ thận trọng trên cơ sở tuân thủ các quy định của UBCKNN, đồng
thời chấm điểm các cổ phiếu trên các yếu tố thanh khoản, biến động giá và định giá cổ
phiếu dựa trên báo cáo phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Danh mục cổ phiếu
làm tài sản bảo đảm được đánh giá lại hàng tháng để kịp thời cập nhật tình hình biến
động của cổ phiếu, đồng thời các trường hợp cá biệt cũng được đánh giá ngay khi cổ


phiếu xuất hiện thông tin xấu;
Xây dựng hệ thống hạn mức đan chéo để kiểm soát tối đa: tổng hạn mức cho vay ký quỹ,
hạn mức tối đa trên 1 khách hàng, hạn mức tối đa trên 1 mã cổ phiếu, tỷ lệ cảnh báo



ngưỡng an toàn, tỷ lệ cảnh báo ngưỡng ép bán thu hồi nợ, ...
Giám sát tình hình dư nợ và tỷ lệ rủi ro hàng ngày để kịp thời phát hiện các dấu hiệu rủi
ro: ví dụ dư nợ có độ tập trung cao trên 1 khách hàng, trên 1 cổ phiếu, cổ phiếu có biến
động giá bất thường, cổ phiếu có thông tin bất thường, cổ phiếu có biến động giao dịch



bất thường và nghi vấn trong phiên giao dịch ...
Chấm điểm và đánh giá khách hàng sử dụng giao dịch ký quỹ phải đảm bảo các tiêu chí
theo các nguyên tắc do SSI quy định, ràng buộc trách nhiệm của Môi giới chăm sóc



khách hàng trong việc cảnh báo và thu hồi nợ vay...
Nói “không” với các hình thức đảo nợ, xoay vòng nợ...

 Rủi ro thanh toán
• Rủi ro thanh toán, đó là việc CTCK bị thiếu hụt số dư tiền hay chứng khoán trên tài


khoản để thanh toán cho các giao dịch trong ngày.
CTCK vấp phải rủi ro này do cho phép khách hàng sử dụng đòn bẩy tài chính cao mà
chưa đặt nặng yêu cầu quản trị rủi ro nên phải gánh chịu các khoản lỗ khi khách hàng mất
khả năng thanh toán; cũng có trường hợp công ty muốn gia tăng lợi nhuận trong khi

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 12


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
nguồn tài chính hạn hẹp bằng cách vay vốn ngân hàng phục vụ hoạt động cho vay ký
quỹ, trường hợp này rủi ro của CTCK sẽ lớn hơn do sử dụng đòn bẩy tài chính; hay dùng
tiền và chứng khoán trong tài khoản ít giao dịch để bù đắp giao dịch tạm thời, điều này
hết sức rủi ro khi khách hàng giao dịch trở lại hay rút tiền.
 Rủi ro thanh khoản của thị trường
• Rủi ro thanh khoản xảy ra khi CTCK mất khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán các

khoản nợ đến hạn.Khi thanh khoản biến động bất thường và đột ngột thì rủi ro cho CTCK
là rất lớn với nghiệp vụ tự doanh, cho vay ký quỹ hay trong tương lai là các hoạt động
vay mượn chứng khoán và sản phẩm quyền chọn..
 Biện pháp quản trị:
• Duy trì quy trình quản lý tiền mặt chặt chẽ
• Duy trì một tỷ lệ hợp lý và cân đối giữa tài sản và nợ, áp dụng nguyện tắc cơ bản của


quản tị rủi ro thanh khoản là đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản.
Ngoài ra CTCK có thể ây dựng hạn mức tín dụng, sử dụng các công cụ phái sinh như
mua bán lại trái phiếu, mua ban kỳ hạn, phát hành các giấy tờ có giá nhằm huy động vốn

trung và dài hạn.
 Rủi ro thị trường
• Rủi ro thị trường là rủi ro do sự không ổn định, biến động bất thường của thị trường như
sự thay đổi giá cả hàng hóa, sự biến động của lãi suất, sự không ổn định của tỷ giá, chính


sách…
Đây là rủi ro không thể loại bỏ được, CTCK cần phải có đội ngũ nhận định, phân tích, dự
báo thị trường nhằm đưa ra phương án phòng ngừa hiệu quả. Thông thường các nhà đầu
tư trên thế giới áp dụng phương án đa dạng hóa danh mục và vận dụng các sản phẩm phái
sinh.

Câu 4: Vận dụng các kiến thức và kỹ năng thực hiện đối với vị trí môi giới, tư vấn tài chính và đầu tư.
1. Nhân viên môi giới (Broker)
 Công việc:

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 13


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
Là nghề tư vấn cho khách hàng trong việc đầu tư, mua bán các loại cổ phiếu hoặc chứng từ
tài chính.Họ là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng thông qua việc tư vấn, thực
hiện hợp đồng mua bán.
 Yêu cầu:


TNĐH hệ chính qui thuộc các ngành Kinh tế, Ngoại thương, Tài chính, Kế toán,
Ngân hàng, Chứng khoán



Năng động, sáng tạo, có kinh nghiệm giao tiếp, chăm sóc khách hàng



Sử dụng thành thạo tin học văn phòng và Internet.



Ngoại ngữ: tiếng Anh giao tiếp.



Hiểu biết về tình hình thị trường tài chính,ngân hàng;



Có kiến thức xã hội; ngoại hình khá



Có khả năng chịu được áp lực công việc

2. Nhà môi giới chứng khoán
 Công việc:


Phát triển khách hàng; tìm kiếm khách hàng mới và duy trì quan hệ với khách hàng hiện
tại



Tư vấn cho khách hàng kinh doanh:mở tài khoản,tư vấn mua,bán



Hướng dẫn, tư vấn cho khách hàng, hỗ trợ khách hàng đặt lệnh và thực hiện các thủ tục
giao dịch liên quan.



Cập nhật quy định, kiến thức, thông tin chứng khoán và thường xuyên cập nhật các nhu
cầu của khách hàng.



Phối hợp với các bộ phận liên quan để thực hiện các yêu cầu của khách hàng.



Đóng góp ý kiến, đề xuất các biện pháp hoàn thiện và phương án đẩy mạnh hoạt động
môi giới.



Thực hiện các công việc khác theo yêu cầu của các cấp quản lý.

Do đó: Một nhà môi giới dành rất nhiều thời gian để thông báo cho khách hàng của mình sự
thay đổi trong giá cổ phiếu. Thông thường, một khách hàng quan tâm đến việc mua một
chứng khoán đặc biệt, nếu giá của nó đi dưới một mức giá nhất định; hoặc bán cổ phiếu của

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 14


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
một công ty nếu nó đi lên vượt một mức giá nhất định. Kết quả là, một nhà môi giới phải
theo dõi thị trường một cách rất sát sao để theo dõi những biến động này.
 Yêu cầu:

Nhà môi giới phải là người:






Có kiến thức chuyên sâu về chứng khoán,thị trường chứng khoán.
Kĩ năng làm việc nhóm,tinh thần tập thể cao.
Kĩ năng giao tiếp,thuyết trình tốt.
Có mạng lưới khách hàng và duy trì quan hệ với khách hàng tốt.
Có khả năng chịu áp lực và cường độ công việc cao.
Vâỵ nên đối tượng phù hợp với nghề Môi giới Chứng khoán: Do yêu cầu của ngành nghề
mới mẻ này đòi hỏi những người có chuyên môn cao và chịu được áp lực lớn, nó thích hợp
với những người đã có kinh nghiệm về đầu tư chứng khoán hoặc có kiến thức về tài chính.

3. Chuyên viên tư vấn tài chính
 Công việc:


Tiếp xúc, thu thập, phân tích thông tin và đưa ra các báo cáo tư vấn cho khách hàng về
các nghiệp vụ Cổ phần hóa, Định giá doanh nghiệp, Tư vấn phát hành, Tư vấn niêm yết



chứng khoán, Tư vấn tái cấu trúc vốn, Tư vấn bảo lãnh tài chính ...
Xúc tiến việc ký hết hợp đồng với khách hàng trong lĩnh vực tài chính.



hiện việc tìm kiếm, thẩm định, duy trì và phát triển quan hệ khách hàng cá nhân
Thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh được giao đối với lĩnh vực Khách hàng cá nhân gồm:

Trực tiếp thực

Tín dụng, Huy động vốn, Sản phẩm bảo hiểm, Dịch vụ tài khoản, Ngân hàng điện tử,...


và các chỉ tiêu bán chéo khác.
Xây dựng, đề xuất các giải pháp trọn gói phục vụ nhu cầu về dịch vụ tài chính ngân hàng



của Khách hàng Cá nhân.
Thực hiện các chức năng của Cán bộ Quan hệ Khách hàng Cá nhân tại Đơn vị;
- Quản lý và hỗ trợ nhóm làm việc được phân công.
- Theo dõi các nhu cầu phát sinh của khách hàng trong tương lai.

 Yêu cầu:

Ngoài bằng cấp chuyên môn trình độ Đại học trở lên về Tài chính, Kế toán, Kiểm toán,
Luật... và những kỹ năng của một tư vấn tài chính viên cần có không thể thiếu như :



Có khả năng phân tích tài chính
Khả năng toán học và phân tích tình huống nhạy bén và giải quyết tình huống hợp lí.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 15


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1







Am hiểu pháp luật về chứng khoán và doanh nghiệp
Có kiến thức kinh tế vĩ mô và ngành
Kỹ năng trình bày, giao tiếp và thuyết phục tốt
Có tinh thần làm việc nhóm
Chủ động hoàn thành công việc và đề xuất các giải pháp
Có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, kỹ năng vi tính tốt

 Triển vọng nghề nghiệp :

Đa số các chuyên viên, chuyên gia tư vấn tài chính làm việc độc lập, thu nhập được tính
trên hiệu quả làm việc. Nghề tư vấn tài chính có thể phát triển rất tốt trong hiện tại và tương
lai.Các nghề như Tư vấn bảo hiểm, tư vấn chứng khoán, tư vấn đầu tư... là các nghề có liên quan
đến tư vấn tài chính, có triển vọng nghề nghiệp rất cao dành cho những người có tố chất làm việc
tốt.
4. Chuyên viên tư vấn đầu tư
 Công việc:






Tìm kiếm nguồn khách hàng có nhu cầu qua telephone...
Chia sẻ và chăm sóc khách hàng quan tâm tới lĩnh vực đầu tư.
Hỗ trợ khách hàng trong quá trình giao dịch, đầu tư
Tham gia các hoạt động theo team (thị trường, từ thiện,...)
Thực hiện thẩm định công ty và ngành kinh doanh, xây dựng mô hình đánh giá tài chính,
làm việc với các cố vấn luật và tài chính trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến
việc đầu tư và đạt được các mục tiêu trong đàm phán giao dịch.



Nghiên cứu thị trường về lĩnh vực quản lý vốn, thị trường tài chính, thị trường chứng
khoán và các quy định, điều luật có liên quan.



Thu thập các thông tin về tài chính và đầu tư của các công ty, cổ phiếu, chứng khoán và
các thông tin đầu tư khác.



Xem xét và phân tích các thông tin đầu tư tài chính thu thập được.



Sàn lọc thông tin, định giá, đánh giá cổ phiếu; đánh giá, phân tích rủi ro.



Đánh giá các rủi ro và cơ hội đầu tư, xác định cơ hội đầu tư tốt nhất.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 16


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1


Chuẩn bị các kế hoạch đầu tư cần thiết và các tài liệu đàm phán liên quan.



Lập các hoạt động, hướng dẫn và thủ tục đầu tư cơ bản; đảm bảo các giao dịch được tiến
hành theo đúng các hướng dẫn và thủ tục của công ty.



Đảm bảo tuân thủ các hạn mức đầu tư, các thay đổi về quy định và chuẩn bị các báo cáo.



Chịu trách nhiệm xác định và theo dõi các vấn đề về đầu tư để hổ trợ các (công ty) khách
hàng.

 Yêu cầu:


Kỹ năng định lượng và phân tích, kỹ năng xây dựng mô hình định giá, thành tích học tập
tốt.



Kỹ năng phân tích và tư duy chiến lược tốt, bao gồm khả năng nhận dạng, phán đoán
nhanh các vấn đề có liên quan.



Có kiến thức tốt về Kế toán, Kiểm toán.



Có kiến thức về Thuế, Luật và quản trị kinh doanh.



Khả năng giao tiếp tốt; sử dụng thành thạo ngoại ngữ.



Tính độc lâp, chủ động, làm việc dưới áp lực cao.

Câu 5: Phân tích nguyên tắc và quy trình thẩm định dự án tại ngân hàng

Thẩm định dự án đầu tư là quá trình một cơ quan chức năng (Nhà nước hoặc tư nhân)
thẩm tra, xem xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện về các mặt pháp lý, các nội dung
cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả, tính khả thi, tính hiện thực của dự án, để quyết định đầu tư hoặc
cấp giấy phép về đầu tư hay quy định về đầu tư…

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 17


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện việc nhận tiền gửi và cho vay.
Trong quá trình cho vay, không phải bất cứ một doanh nghiệp nào cũng được ngân hàng đáp ứng,
ngân hàng chỉ cho vay khi đã biết chắc chắn vốn vay được sử dụng đúng mục đích, mang lại lợi
ích cho cả doanh nghiệp và ngân hàng. Muốn vậy, ngân hàng sẽ yêu cầu người xin vay lập và
nộp cho ngân hàng dựán đầu tư. Trên cơ sở đó, cùng với các nguồn thông tin khác ngân hàng sẽ
tiến hành tổng hợp và thẩm định dự án của chủ đầu tư một cách khách quan hơn. Việc thẩm định
dự án đầu tư còn là cơ sở để ngân hàng xác định số tiền vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp
lý, thời điểm bỏ vốn cho dự án và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả trong tương lai.Tóm lại, đối với ngân hàng, công tác thẩm định dự án đầu tư là rất quan
trọng, nó giúp cho ngân hàng ra quyết định có bỏ vốn đầu tư hay không? Nếu đầu tư thì đầu tư
như thế nào?Mức độ bỏ vốn là bao nhiêu? Điều này sẽ giúp ngân hàng đạt được những chỉ tiêu
về an toàn và hiệu quả trong sử dụng vốn, giảm thiểu nợ quá hạn và nợ khó đòi, hạn chế những
rủi ro có thể xảy đến với ngân hàng.
Sau đây là một số nguyên tắc chính trong thẩm định dự án đầu tư mà ngân hàng quan
tâm:
Tất cả các dự án đầu tư thuộc mọi nguồn vốn và mọi thành phần kinh tế đã được đưa ra
quyết định và cấp giấy phép đầu tư đều phải qua khâu thẩm định vè hiệu quả kinh tế xã hội, về
quy hoạch xây dựng, các phương án kiến trúc công nghệ mở rộng đất đai, tài nguyên. Nguyên tắc
này đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cho các dự án đầu tư. Tránh thực hiện những dự án chỉ đơn
thuần có lợi ích về hiệu quả lợi nhuận mà có thể ảnh hưởng tới môi trường hoặc người tiêu dùng.
Các cơ quan nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý Nhà nước các dự án đầu tư trước hết phải
đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế xã hội và lợi ích của các chủ đầu tư. Đặc biệt đối với
những dự án không sử dụng vốn nhà nước, khi các chủ đầu tư quan tâm đặc biệt đến hiệu quả tài
chính mà ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội thì Nhà nước cần quan tâm đến phương diện
kinh tế xã hội.
Quy trình thẩm định dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động xem xét, phân tích,đánh
giá các nội dung của dự án. Thông thường, quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư của ngân
hàng được tiến hành theo trình tự như sau:





Tiếp nhận hồ sơ vay vốn (bao gồm cả hồ sơ dự án) của khách hàng
Thực hiện công việc thẩm định.
Lập báo cáo kết quả thẩm định dự án đầu tư.
Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 18


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
 Trong đó quy trình thực hiện công việc thẩm định diễn ra như sau:
• Xem xét, đánh giá sơ bộ các nội dung chính của dự án
• Phân tích thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án
• Đánh giá khả năng cung cấp nguyên liệu và các yếu tố đầu vào của dự án
• Đánh giá, nhận xét các nội dung về phương diện kỹ thuật
• Thẩm định tổng vốn đầu tư và tính khả thi của phương án vay vốn
• Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính của dự án

Có nhiều khía cạnh có liên quan, tương hỗ khác nhau cùng tạo nên một dự án tổng thể.
Nhìn chung, chúng thuộc loại hình kỹ thuật, kinh tế, tài chính và pháp luật, nhưng quan hệ của
chúng làm rõ tới mức toàn bộ chúng cần phải được cân nhắc, xem xét trước khi ra Quyết định
đầu tư.


Thẩm định các điều kiện pháp lý và mục tiêu của dự án:
Thẩm định với tư cách pháp nhân của chủ đầu tư (Quyết định thành lập, giấy phép kinh

doanh, văn bản bổ nhiệm giám đốc, kế toán trưởng). Xem xét các hồ sơ trình duyệt có đủ theo
quy định của nhà nước và pháp luật có đúng, hợp lệ hay không
Thẩm định mục tiêu dự án để xem xét xem: mục tiêu của dự án có phù hợp với chương
trình phát triển kinh tế xã hội của cả nước, vùng hay địa phương, ngành hay không. Ngành nghề
trong dự án có thuộc nhóm ngành nghề nhà nước cho phép hoạt động hay không. Có thuộc nhóm
ngành nghề ưu tiên hay không.


Thẩm định về thị trường của dự án:
Khía cạnh này cho phép thấy được đầu ra của dự án có thực hiện được không khi dự án

được tiến hành. Vì vậy nội dung của thẩm định là kiểm tra, xem xét sản phẩm của dự án được sử
dụng để đáp ứng nhu cầu trong nước hay bán trên thị trường quốc tế. Dự án có những ưu thế và
bất lợi gì so với các đối thủ cạnh tranh. Lưu ý đến xu hướng sản phẩm xét theo trình độ phát triển
công nghệ và chu kỳ sản phẩm.
Xem xét thị trường là cơ sở cho việc lựa chọn quy mô của dự án, lựa chọn thiết bị, công
suất và dự kiến khả năng tiêu thụ.Phân tích và dự đoán đúng về thị trường là một công việc khó
khăn, song độ chính xác của phân tích thị trường sẽ ảnh hưởng tới thành công của dự án.


Thẩm định khía cạnh kỹ thuật của dự án:
Mục tiêu thẩm định ở đây là để kiểm tra việc xác định cấu hình kỹ thuật cũng như những

phương diênj cốt yếu khác định hình trên dự án. Câu hỏi đặt ra ở đây cần trả lời là liệu dự án có
thực hiện về mặt kỹ thuật hay không. Thông tin vè đời công nghệ hữu dụng của dự án.Thường

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 19


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
thì khía cạnh này được quan tâm ngay từ khi lập dự án, vì các chủ đầu tư phải ta được Quyết
định việc lựa chọn trang thiết bị, máy móc, quy trình công nghệ.
Nhưng các nhà thẩm định độc lập sẽ kiểm tra công cụ sử dụng trong tính toán.trong đó
lưu ý đặc biệt đến các định mức kinh tế kỹ thuật. Đối với định mức kinh tế - kỹ thuật phải rà soát
cho phù hợp với điều kiện cụ thể của dự án như:
- Kiểm tra những sai sót trong tính toán: tính toán không đúng, không đủ, không phù hợp.
- Kiểm tra tính phù hợp của công nghệ thiết bị đối với dự án, cũng như tác động của chúng đến
môi trường.


Thẩm định khía cạnh nhân lực và tổ chức quản lí.
Việc thẩm định dự án để cho được hiệu quả thì không thể chỉ hạn chế trong việc đánh giá

về tài chính và kinh tế các chi phí và lợi ích với giả thiết rằng dự án sẽ được xây dựng và hoạt
động đúng kỳ hạn. Điều này giả thiết là phải có sự hỗ trợ về mặt hành chính để thực hiện dự án,
điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển, mà ở nhiều nước việc đó lại hoàn
toàn không có. Rất nhiều dự án đã thất bại vì chúng đã được thực hiện trong điều kiện không có
sự hiểu biết về quản lí hành chính cần thiết cho việc triển khai dự án theo đúng yêu cầu quy định.
Triển vọng các lợi ích về mặt kinh tế tài chính có đạt được hay không là tuỳ thuộc vào năng lực
quản lí hành chính của cơ quan có trách nhiệm thi hành dự án.
Bên cạnh đó thị trường lao động cần phải được nghiên cứu kỹ nhằm đảm bảo rằng các
tính toán về các mức tiền lương phải trả là chính xác, cũng như nguồn cung cấp nhân lực dự trù
là hợp lí trong điều kiện cụ thể của thị trường lao động đảm bảo được chất lượng công việc trong
dự án.


Thẩm định khía cạnh tài chính của dự án.
Quá trình phân tích tài chính là khâu tổng hợp đầu tiên các biến số tài chính với các biến

số kỹ thuật đã được tính toán trong các phần nêu trước đây và là dữ liệu đầu vào cho các khâu
thẩm định kinh tế - xã hội về sau.
Thẩm định tài chính là khâu hết sức quan trọng để các nhà đầu tư cũng như các nhà tài
trợ hay các nhà quản lí có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn (Bởi vì chỉ rõ lợi ích kinh tế
cụ thể đối với họ).


Thẩm định về kinh tế - xã hội.
Nếu như mục đích của thẩm định tài chính dự án là nhằm đánh giá dự án từ quan điểm

của các chủ dự án thì mục đích của công việc thẩm định trong khâu này là đánh giá dự án từ
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 20


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
quan điểm của toàn bộ nền kinh tế để xem xét việc thực hiện dự án có cải thiện được phúc lợi
kinh tế quốc gia hay không.
Dự án có thể giúp đạt được những mục tiêu xã hội nào đó của chính quyền (dự án có tạo
thêm công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống...)
Một điều lưu ý khi thẩm định là phân tích kinh tế có tác động môi trường của dự án đầu
tư. Đã đến lúc người ta quan tâm đến sự “phát triển bền vững, phát triển lâu bền”.Vấn đề không
phải là chúng ta buộc phải lựa chọn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, mà phải là tìm
cách phát triển một cách phù hợp, hài hoà để đảm bảo được phát triển lâu bền. Vì vậy, việc đánh
giá tác động đến môi trường của các dự án trở thành một nhu cầu bức thiết và bắt buộc với các
dự án đầu tư.
Toàn bộ quá trình thẩm định thường là rất phức tạp, có tính liên ngành, đòi hỏi sự liên
kết, hợp tác của nhiều chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: kinh tế, kĩ thuật, môi trường
mới có thể tiến hành thực hiện có hiệu quả.
Do quá trình thẩm định gồm nhiều giai đoạn nên việc thẩm định các khía cạnh trên sẽ
được tiến hành ở bất kỳ giai đoạn nào. nếu là giai đoạn soạn thảo thì do các nhà lập dự án thẩm
định. Song một dự án hình thành xong, phân tích các khía cạnh nêu trên phải được tiến hành một
cách nghiêm túc và khách quan, để trên cơ sở đó ra quyết định chứ không phải ngược lại chỉ là
hình và nhằm chứng minh cho một quyết định đã có. Chính vì vậy mà các cơ quan tư vấn hoặc
chuyên gia được giao trách nhiệm thực hiện công việc thẩm định, người thực hiện công việc
không thể là người của dự án.
 Thẩm định dự án cần phải được tiến hành ở tất cả các khía cạnh nêu trên. Nó nằm tăng cường

mức độ chính xác của việc tính toán các biến cố chủ yếu mà chủ dự án đã lập. Việc đưa ra các
kết luận đánh giá trên các khía cạnh sẽ cho phép đưa ra các Quyết định đầu tư hay Quyết định tài
trợ đúng đắn và là cơ sở cho khả năng dự án sẽ đứng vững trong vòng đời hữu dụng của nó.
Trên cơ sở đó, tùy theo từng dự án cụ thể với những đặc điểm khác nhau mà nhân viên
thẩm định có thể phân tích, đánh giá và đưa ra các điều kiện đi kèm với việc cho vay, hạn chế rủi
ro, đảm bảo khả năng an toàn vốn vay. Trên cơ sở đó, lãnh đạo ngân hàng có thể xem xét khả
năng tham gia cho vay đối với từng dự án.
Như vậy, thông qua việc quá trình thẩm định, ngân hàng mới có cái nhìn toàn diện về dự
án; đánh giá về như cầu tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn và tình hình sử dụng nguồn vốn, hiệu
quả tài chính mà dự án mang lại cũng như khả năng trả nợ của dự án.
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 21


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1

Câu 6: So sánh những điểm khác biệt về thẩm định dự án đầu tư trên hai góc độ: Ngân hàng và doanh
nghiệp.
 Điểm giống

 Mục đích thẩm định dự án:
Quá trình xem xét đánh giá dự án là để người thẩm định có thể đưa ra các kết kuận sau:
• Dự án phù hợp như thế nào với mục tiêu,chiến lươc,qui hoạch phát triển của đất
nước,của vùng,của ngành.Các kế hoạch,qui hoạch ảnh hưởng như thế nào tới dự án
và dự án sẽ nhận được những ưu đãi gì trong từng điều kiện cụ thể,thời gian xác



định.
Dự án có tính hệ thống và hợp lý không,nếu có thì ở nức độ nào.
Các tài sản tài chính hình thnàh nên vốn đầu tư có hợp pháp hay không,các biện háp
xử lí trong trường hợp xảy ra rủi ro có tuân theo các qui định của nhà nước hay



không va lợi ích của các đối tượng liên quan sẽ ảnh hưởng như thế nào.
Hiệu quả tài chính va kinh tế xã hội có đáng để bỏ ra các chi phí hay không,các lợi
ích của chủ đầu tư,xã hội và các đơn vị tài trợ có đáng để họ tham gia vào dự án



haykhông.
Tuy nhiên, đối với một dự án đầu tư phát triển thì mục đích thẩm định khác nhau

đối với các chủ thê thực hiện thẩm định.
 Quan điểm thẩm định dự án đầu tư:
• Một dự án, qua thẩm định, dược chấp nhận và cấp giấy phép đầu tư, phải được xem xét và
đánh giá trên góc độ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh


tế quốc gia và đáp ứng các lợi ích kinh tế – xã hội của đất nước.
Thẩm định dự án đầu tư nhằm thực hiện sự điều tiết của Nhà nước trong đầu tư, bảo đảm sự



cân đối giữa lợi ích kinh tế – xã hội của quốc gia và lợi ích của chủ đầu tư.
Thẩm định dự án đầu tư được thực hiện theo chế độ thẩm định của Nhà nước đối với các dự
án có hoặc không có vốn đầu tư của đất nước; phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ

quốc tế.
 Phương pháp và tiêu chuẩn thẩm định
Trên cơ sở các thông tin đễ thu thập được thì việc lựa chọn phương pháp thẩm định cũng rất
quan trọng. Đó là việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá, cách thức xử lý thông tin một cách khoa học,
tiên tiến, phù hợp với từng dự án cụ thể giúp cho cán bộ thẩm định phân tích, tính toán hiệu quả tài
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 22


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
chính dự án nhanh chóng, chính xác, dự báo các khả năng có thể xảy ra trong tương lai để tránh được
các rủi ro.


Phương pháp thẩm định: việc thẩm định dự án có thể tiến hành theo nhiều phương pháp
khác nhau tùy thuộc vào nội dung của dự án xem xét. Việc lụ chọn phương pháp thẩm định
phù hợp đối với từng dự án là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng thẩm định. Các
phương pháp thẩm định thường được sử dụng đó là phương pháp so sánh, phương pháp
thẩm định theo trình tự, phương pháp phân tích độ nhạy của dự án. Tuy nhiên phương pháp
chung để thẩm định là so sánh đối chiếu nội dung của dự án với các chuẩn mực đã được quy
định bởi pháp luật và các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật thích hợp hoặc thông lệ quốc tế cũng



như trong nước và các kinh nghiệm thực tế.
Tiêu chuẩn thẩm định: để thẩm định dự án, vấn đề quan trọng và cần thiết là việc sử dụng
các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật, mặc dù trong thẩm định dự án cũng có những vấn đề được phân
tích lựa chọn trên cơ sở định tính. Việc sử dụng các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật cần thiết phải
giải quyết hai vấn đề là định lượng và xây dựng tiêu chuẩn để đánh giá các chỉ tiêu đó. Để
có cơ sở đánh giá dự án thì việc nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu hoặc các chỉ tiêu hướng
dẫn là rất cần thiết, trước hết là các chỉ tiêu về tài chính và tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả dự
án như: tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho từng loại dự án, thời gian hoàn vốn tiêu chuẩn, hệ số
đảm bảo trả nợ, suất đầu tư hoặc suất chi phí cho mỗi loại công trình, hạng mục công
trình…Đây là những điểm phải được đặc biệt chú ý đối với các cơ quan quản lý đầu tư tổng

hợp như các bộ và từng địa phương.
 Điểm khác:
Về phía ngân hàng
 Sự cần thiết của việc thẩm định – ý nghĩa của thẩm định dự án đầu tư
Việc cho vay trải qua ba giai đoạn:
• Xem xét trước khi cho vay
• Thực hiện cho vay
• Thu gốc thu lãi
Ba giai đoạn này là một quá trình gắn bó chặt chẽ, mỗi giai đoạn có một ý nghĩa nhất định
ảnh hưởng đến chất lượng của một khoản vay.
Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư, Ngân hàng phải thẩm định trên nhiều phương diện
khác nhau để làm sao có cái nhìn khách quan trước khi quyết định cho vay. NHTM với tư cách là
người cho vay, tài trợ cho dự án đầu tư đạc biệt quan tâm đến khía cạnh thẩm định tài chính dự án, nó
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 23


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
có ý nghĩa quyết định trong các nội dung thẩm định. Hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng nhất
của ngân hàng thương mại, các khoản cho vay thường chiếm 59% tích sản của ngân hàng và 65 70% lợi tức ngân hàng sinh ra từ các hoạt động cho vay. Thành công của một ngân hàng tuỳ thuộc
chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công tín dụng, xuất phát từ chính sách cho vay
của ngân hàng. Trong các hoạt động cho vay của ngân hàng thì cho vay theo dự án được ngân hàng
đạc biệt quan tâm vì nó đòi hỏi vốn lớn, thời hạn kéo dài và rủi ro cao nhưng lợi nhuận cao. Vô số các
rủi ro khác nhau khi cho vay nói chung và cho vay theo dự án nói riêng, xuất phát từ nhiều yếu tố và
có thể dẫn đến việc không chi trả được nợ khi đến hạn. Do đó để quyết định có chấp nhận cho vay
hay không, ngân hàng cần phải coi trọng phân tích tín dụng nói chung và thẩm định tài chính dự án
nói riêng. Thông qua việc thẩm định này, ngân hàng có cái nhìn toàn diện về dự án đánh giá về như
cầu tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguôn vốn và tình hình sử dụng nguồn vốn, hiệu quả tài chính mà dự án
mang lại cũng như khả năng trả nợ của dự án.
Với mục tiêu hoạt động là an toàn và sinh lời, do đó Ngân hàng chỉ cho vay đối với các dự
án có hiệu quả tài chính tức là dự án mang lại lợi nhuần và khả năng trả nợ thì ngân hàng mới có thể
thu hồi được gốc và lãi, khoản cho vay mới đảm bảo, Ngân hàng mới có được khoản vay có chất
lượng.
 Nội dung của thẩm định dự án:
• Điều kiện pháp lý của dự án:
Là việc xem xét những vấn đề chịu sự quản lý ,chi phối của pháp luật hiên hành.Chủ thể
thẩm định sẽ xem xét đầy đủ hợp lệ của hồ sơ trình duyệt,tư cách pháp nhân và năng lực của chủ đầu
tư,muc tiêu và sự cân thiết thưc hiện đầu tư,hình thức đầu tư va thời han đâu tư.
Tính đầy đủ của hồ sơ trình duyệt thể hiện ở giấy phép đăng kí kinh doanh(nếu chủ đầu tư la
doanh nghiệp),giấy phép đầu tư,giấy phép nhập khẩu nguyên liệu,máy moc thiết bị(nếu phải nhập
khẩu)các loại giấy tờ liên quan đến vấn đề sử dụng đất,giấy phép xây dựng(nếu dự án có xây dựng)
…Năng lực của chủ đầu tư thể hiên ở năng lưc kinh doanh(sở trường,uy tín trên thương trường, kinh
nghiệm,các tầng lớp cán bộ kế cận…)và năng lực tài chính(khả năng nguồn vốn tự có,tài sản thế chấp
khi vay vốn,dòng thu, dòng chi ở thời điểm hiện tại và kì vọng trong thời gian tới). Để dánh giá được
năng lực của chủ đầu tư có thể sử dụng các tài liêu như:báo cáo tài chính tại điểm gần nhất gồm có
bảng cân đối kế toán,báo cáo hoạt động sảnn xuất kinh doanh,báo cáo chi tiết bổ sung nếu có;báo cáo
tồn kho,báo cáo kiểm toán…và có thể thu nhập thêm các thông tin khác về thị phần,uy tín cua doanh
nghiệp trên thị trường.
Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 24


BÁO CÁO THỰC TẬP THỰC TẾ 1
Có thể nói việc xem xét điều kiện pháp lý của dự án là bước khởi đầu quan trọng để
thâmđịnh các yếu tố khác.


Sản phẩm thị trường của dự án:
Đây là yếu tố quyết định đến mục tiêu cũng như quy mô của dự án và nó còn tác động đến

dự án trong suốt quá trình hoạt động sau này. Phải xem xét đặc điểm của sản phẩm mà dự án sẽ cung
cấp: sản phẩm mới hay đã có trên thị trường, có luân chuyển được hay không, tính năng của nó là
gì(đối với các dự án sản xuất phải cạnh tranh với sản phẩm đã có trên thị trường thì phải đặc biệt quan
tâm tới các tính năng mới hoặc mẫu mã chất lượng). Cần phải xem xét các vấn đề sau:nhu cầu về sản
phẩm ở hiện tại, tương lai,các nguồn cung cấp trong hiện tại, tương lai,khả năng nhập khẩu…ngoài ra
còn có yếu tố giá,thu nhập,thị hiếu.Chủ thể đầu tư cũng quan tâm tới các vấn đề tiếp thị,khuyến
thị,khả năng cạnh tranh của sản phẩm.Từ đó có thể thấy mức độ tham gia của dự án vào thị trường Nếu các dự án có khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường thì việc đầu tư cho các dự án là nên
làm,nếu thấy khó khăn thì phải hết sức thận trọng trước các quyết định đầu tư.
Khi xem xét khía cạnh sản phẩm,thị trường quan trọng nhất là độ trung thực,chính xác của
thông tin được cung cấp. Để kiểm tra điều nay người thẩm định dự án cần có các thông tin khác đẻ so
sánh kiểm tra.


Kĩ thuật công nghệ

Đây là yếu tố rất quan trọng quyết định đến hiệu quả va kết quả đầu tư.Nhưng để phân tích đánh giá
được nó thì không phải ai cũng làm được.Tuy nhiên với các dự án phức tap về công nghệ, khó đánh
giá về mặt kĩ thuâtk thi nên thuê chuyên gia có trình độ về lĩnh vực này để tư vấn thẩm định.Nội dung
xem xét trên 3 khía cạnh:






Địa điểm thực hiện dự án
Công nghệ thiết bị của dự án
Ảnh hưởng của dự án đến môi trường
Ảnh hưởng của dự án đến xã hội
Thẩm định về tổ chức thưc hiện:

Có thể nói một dự án dù được chuẩn bị tốt đến đâu ma người thực hiện không có năng lực hoặc quản
lý không tốt dẫn đến mất mát,chất lương không đảm bảo thực hiện thi cuối cùng hiệu quả của dự án
cũng la thua lỗ hoăc lãi không đáng với công bỏ ra.Do đó phải xem xét tư cách pháp nhân,năng lực
tài chính,năng lực kĩ thuật của các cá nhân và đơn vị tham gia dự án.


Thẩm định về mặt tài chính

Đỗ Thùy Linh – K57TCNH.CLC

Page 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×