Tải bản đầy đủ

BAOSC ÁO TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

BÁO CÁO
NGÀNH DỆT MAY

Môn: Đầu tư tài chính
Lớp: D06
GVHD: ThS. Võ Văn Hảo


MỤC LỤC
1. TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM........................................................1
1.1. Giới thiệu chung......................................................................................................1
1.2. Yếu tố chính tác động đến ngành.............................................................................2
1.3. Tình hình hoạt động ngành dệt may từ 2010- quý I/2015........................................6
1.4. Triển vọng................................................................................................................8
1.5. Chu kì sống của ngành dệt may Việt Nam...............................................................9
2. MÔ HÌNH MICHEAL PORTER..............................................................................11


1. TỔNG QUAN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1.1. Giới thiệu chung
Ngành hàng dệt may là một trong những ngành chủ đạo của công nghiệp

sản xuất hàng tiêu dùng, liên quan đến việc sản xuất sợi, dệt nhuộm, vải, thiết kế
sản phẩm, hoàn tất hàng may mặc và cuối cùng là phân phối hàng may mặc đến
tay người tiêu dùng. Ngành dệt may góp phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng, cần
thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt; là một ngành đem lại thặng dư xuất
khẩu cho nền kinh tế; góp phần giải quyết việc làm; tăng phúc lợi xã hội.
Nhu cầu lao động trong ngành dệt may hàng năm là rất lớn .Mỗi năm ngành
dệt may tạo ra được khoảng 2,2 triệu việc làm các loại cho công nhân. Vì vậy tạo
một lượng lớn lao động cho xã hội , góp phần tạo ra thu nhập cho đời sống công
nhân. Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may trong những năm qua luôn đứng
thứ hai trong tổng số những ngành có sản phẩm xuất khẩu (đứng sau kim ngạch
xuất khẩu của dầu mỏ ) thu về nguồn ngoại tệ lớn , đóng góp phần không nhỏ vào
ngân sách của nhà nước
1.1.1. Những thông tin liên quan đến ngành
Sức hấp dẫn và tình hình xuất khẩu
Ngành dệt may Việt Nam sau hơn 20 năm liên tục phát triển với tỷ lệ tăng
trưởng bình quân 15%/năm, đến nay đã vươn lên trở thành ngành kinh tế hàng đầu
cả nước, với kim ngạch xuất khẩu đóng góp từ 10%-15% GDP hàng năm. Việt
Nam hiện là một trong 5 nhà xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới với thị phần
4%-5%. Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, EU và Nhật (chiếm
trên 75% kim ngạch xuất khẩu hàng năm) với các sản phẩm may mặc chủ yếu là
các sản phẩm từ bông và sợi tổng hợp cho phân khúc thị trường cấp trung và thấp.
Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào phần thứ 3 trong
chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là cắt và may, sản xuất theo phương thức gia
công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói, nên giá trị gia tăng còn thấp.
Ngành dệt may Việt Nam vẫn còn phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu
(khoảng 70%), chủ yếu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc. Bên cạnh
đó, phải kể đến sự đóng góp cao và ngày càng tăng của các doanh nghiệp FDI
trong giá trị xuất khẩu. Theo số liệu thống kê trong năm 2013 cũng như 2 tháng
đầu năm 2014 đều cho thấy tỷ trọng xuất khẩu nghiêng hẳn về phía các doanh
nghiệp FDI với hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Cùng với điện thoại và linh kiện, dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của
Việt Nam trong những năm qua. Năm 2013, sản phẩm dệt may Việt Nam xuất
khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ
USD; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP cả nước.
1/17


Tốc độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn 2008-2013 đạt 14,5%/năm đưa Việt
Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất
khẩu dệt may nhanh nhất thế giới.
Điều kiện thuận lợi
Ngành dệt may nước ta có những điều kiện thuận lợi cho phát triển như :
nguồn nhân lực trẻ , dồi dào , thị trường tiêu thụ trong nước lớn (hơn 80 triệu
dân) , ngoài ra còn thị trường tiêu thụ tiềm năng tương đối lớn ở nước ngoài. Khí
hậu nước ta rất phù hợp để phát triển nguồn nguyên liệu tự nhiên cho ngành dệt.
Với lợi thế ổn định chính trị-xã hội và nguồn lao động, Dệt may Việt Nam
đang có nhiều cơ hội để tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt khi các hiệp
định thương mại Đối tác xuyên Chấu Á - Thái Bình Dương (TTP), Hiệp đinh
thương mại tự do song phương Việt Nam - EU (FTA) được kí kết trong thời gian
tới. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng thị trường nội địa theo
Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt May đến năm 2020, tầm nhìn 2030
của Bộ Công Thương sẽ đạt khoảng 10%-12%/năm.
Khó khăn
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành dệt may vẫn phải đối mặt với
không ít khó khăn, thách thức khi hội nhập sâu với thị trường quốc tế: sự cạnh
tranh gay gắt giữa các nước xuất khẩu, các rào cản thương mại ngày càng tăng từ
các thị trường nhập khẩu lớn, nhất là từ Hoa Kỳ với các yêu cầu khắt khe về trách
nhiệm xã hội, nhãn mác sinh thái, bảo vệ môi trường…
1.2. Yếu tố chính tác động đến ngành
1.2.1. Tình hình kinh tế

2/17


Ngành dệt may là ngành nắm
giữ vị trí kim ngạch xuất khẩu hàng
đầu của cả nước. Hoạt động xuất
khẩu đóng vai trò quan trọng trong
ngành với kim ngạch xuất khẩu
chiếm, 80% tổng doanh thu toàn
ngành, tuy nhiên, nguyên phụ liệu
của ngành cũng phụ thuộc 70% vào
hàng nhập khẩu. Do đó, ngành dệt
may chịu tác động mạnh của tình
hình biến động kinh tế toàn cầu.
Đồng thời, tình hình lạm
phát, biến động lãi suất, tỷ giá hối
đoái cũng ảnh hưởng lớn đến giá cả
đầu vào (nhất là đối với một ngành
phụ thuộc nhập khẩu nguyên vật liệu
như dệt may) và đặc biệt việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

1.2.2. Nguyên liệu đầu vào
Hiện nay, Việt Nam chỉ có thể sản
xuất hơn 3.000 tấn bông/năm, đáp ứng
được 5% nhu cầu của ngành dệt trong
nước. Sợi tổng hợp phải nhập khẩu hoàn
toàn và sợi bông cho sản xuất hàng dệt
kim cũng phải nhập khẩu với số lượng
lớn hàng năm. Hơn nữa, dù ngành hoá
chất trong nước tương đối phát triển
nhưng 100% hoá chất nhuộm và hơn
80% hoá chất khác vẫn phải nhập khẩu.
Như vậy, vấn đề nguyên liệu chính là vấn
đề nan giải cho ngành dệt. Cho đến nay,
mặc dù cây bông Việt Nam có những
điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng cơ
chế và tổ chức thực hiện còn lúng túng.
Có tới 95% nguyên liệu chính (bông)
phải nhập khẩu với giá không ổn định.
Hiện tại các doanh nghiệp dệt vẫn phải chạy theo thị trường mua bông theo kiểu
mớ món, giá cả thất thường làm cho sản xuất kinh doanh ở thế bị động và bất lợi.
Đầu ra của dệt chính là đầu vào cho may hay nói cách khác là sản phẩm của
ngành dệt chính là nguyên liệu cho ngành may. Nhưng nguyên vật liệu ngành dệt
3/17


trong nước chưa đáp ứng được do chất lượng thấp, nên phải nhập do đó rất bị
động, thường không đồng bộ. Các sản phẩm dệt thường không đạt tiêu chuẩn về
chất lượng và có tính chất đơn điệu. Vải sợi sản xuất trong nước phần lớn được sử
dụng ở các doanh nghiệp địa phương để sản xuất quần áo cho nông thôn và vùng
xa, chỉ thoả mãn một số nhu cầu của thành thị. Điều này chính là nguyên nhân gây
khó khăn cho các nhà chế tạo may mặc và thời trang, cũng như các nhà thiết kế để
nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồn nguyên liệu trong nước.Trên 80% vải sẵn có
trong nước hiện nay đều phải nhập khẩu. Thậm chí các doanh nghiêp may thuộc
Tổng công ty Dệt may cũng không sử dụng vải do các công ty trong nước sản
xuất, có tới 90% nguyên vật liệu để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ
nước ngoài nên bị phụ thuộc vào nhà cung cấp bên ngoài. Vì vậy, giá trị xuất khẩu
của ngành may lớn nhưng nguyên liệu chính và phụ phần lớn đều phải nhập khẩu
nên hiệu quả thấp.
Tóm lại, chủ động nguồn nguyên liệu trong nước hiện nay có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa, đặc biệt là hàng
xuất khẩu vào những thị trường mà Việt Nam đã và sẽ kí kết các hiệp định thương
mại tự do, yếu tố nguyên liệu trong nước giúp thỏa mãn yêu cầu về các quy tắc
xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan.

1.2.3. Xu hướng tiêu dùng sản phẩm
Môi trường văn hoá xã hội kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập
càng cao thì con người càng chú trọng đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong
đó có quần áo. Thêm vào đó, xu hướng về thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng
đối với các sản phẩm may mặc cũng có sự biến đổi liên tục.Trong khi đó, ngành
dệt may hiện nay chỉ mới tập trung và phát triển ở khâu may, trong khi chuỗi sản
xuất của ngành là dệt - may - nhuộm. Nếu các doanh nghiệp may không chú trọng
đầu tư đúng mực cho công tác thiết kế sẽ nhanh chóng bị tụt hậu trong cuộc cạnh
tranh khốc kiệt này.
Trong khi mức sống của một bộ phận người dân ngày càng cao, chạy theo
xu hướng chuyển sang tiêu dùng hàng may mặc cao cấp nhập khẩu từ Hàn Quốc,
Đài Loan, Nhật Bản,…một bộ phận hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và
kiễu mẫu đa dạng cũng khá phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam đang dần
chiếm lĩnh thị trường may mặc nội địa. Tuy nhiên, người Việt vẫn có tâm lý “ăn
chắc mặc bền”, nên những sản phẩm chất lượng tốt của các doanh nghiệp trong
nước vẫn được nhiều khách hàng tin dùng như Việt Tiến, May 10, Thành Công,
Thăng Long,…. Đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp khi muốn chiếm lại thị
trường nội địa hiện đang bị hàng ngoại quốc tấn công và thống trị.

4/17


1.2.4. Thiết bị công nghệ
Công nghệ là yếu tố cơ bản đảm bảo cho quá trình sản xuất đạt hiệu quả
cao. Máy móc thiết bị làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản
xuất từ đó làm giảm giá thành sản phẩm…Nếu máy móc thiết bị hiện đại phù hợp
với trình độ của người sử dụng thì máy được sử dụng hết công suất, sản phẩm làm
ra vừa có chất lượng cao,vừa có mẫu mã phong phú sẽ dễ được thị trường chấp
nhận hơn.
Tuy nhiên, công nghệ lạc hậu, năng lực sản xuất kém là một trong những
hạn chế của ngành hiện nay. Hoạt động phần lớn là thực hiện gia công cho nước
ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, còn những sản phẩm đòi hỏi kỹ
thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng được . Vì thế, sự đầu tư
đúng mức, hợp lý về công nghệ để phát huy hết tiềm năng là điều cấp thiết trong
ngành.
1.2.5. Nguồn nhân lực
Dệt may hiện là ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động nhất. Lao động
của ngành dệt may chiếm hơn 20% lao động trong khu vực công nghiệp và gần
5% trong tổng lực lượng lao động toàn quốc. Nguồn nhân lực của ngành Dệt May
Việt Nam có những đặc thù sau:
 Gần 80% là lao động nữ, trình độ văn hoá của những lao động này chủ yếu
là đã tốt nghiệp THCS, THPT. Lao động trực tiếp của ngành đa số tuổi đời
còn rất trẻ, tỷ lệ chưa có gia đình cao sẽ là lợi thế cho việc đào tạo và nâng
cao năng suất lao động. Tuy nhiên, hiện nay đang có sự phàn nàn của người
công nhân về thời gian làm việc dài, thường xuyên phải tăng ca, tăng giờ,
phải làm việc muộn đến khuya và phải ngồi một chỗ trong thời gian dài,
kiệt sức và không còn thời gian cũng như sức lực để tụ tập vui chơi với bạn
bè, tìm bạn trai hoặc mở rộng quan hệ xã hội.
 Mức độ tập trung lao động dệt may trong các doanh nghiệp không cao, do
có hơn 70% các doanh nghiệp dệt may là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số
lao động dưới 300 người, số doanh nghiệp từ 1000 người trở lên chỉ có 6%.
Với độ phân tán như vậy, nếu không liên kết lại thì hoạt động đào tạo sẽ
khó triển khai hiệu quả. Lao động trong ngành hiện nay tăng nhanh và tập
trung chủ yếu trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, sau đó là doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài. Hai loại hình doanh nghiệp này hiện nay
đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành dệt may. Thường các doanh
nghiệp này hiện nay lại có khuynh hướng đầu tư cho việc thu hút lao động,
chứ không có khuynh hướng đầu tư mạnh cho hoạt động đào tạo.
 Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay đang phân bổ theo các cụm
công nghiệp dệt may. Hai vùng tập trung nhiều lao động ngành dệt may và
có sự tăng trưởng nhanh trong những năm qua là Vùng Đông Nam Bộ
5/17


(chiếm gần 62% lao động của toàn ngành) và Đồng bằng sông Hồng (hơn
22%). Các tỉnh thành tập trung nhiều lao động dệt may là thành phố Hồ
Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Tỉnh Đồng Nai, Hà Nội, Thái Bình, Nam
Định...Sự tập trung lao động vào các cụm dẫn đến tình trạng di dân, và kéo
theo là đời sống người lao động có tính chất tạm bợ, không ổn định, khó
khăn, dẫn đến những vấn đề gây mất ổn định xã hội. Dần dần làm sút giảm
sức hấp dẫn của việc di cư tìm việc làm trong ngành tại các cụm công
nghiệp dệt may. Và khi các địa phương đều phát triển ngành dệt may thì
xuất hiện tình trạng lao động di chuyển ngược từ các cụm công nghiệp này
về lại các địa phương mà từ đó họ đã ra đi.
Lao động có trình độ thạc sĩ và đại học của toàn ngành hầu hết cũng tập
trung ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Hai vùng này cũng tập
trung hầu hết các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cấp độ đại học, cao đẳng của
ngành.
Xét tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng trở lên trên tổng số lao động toàn ngành thì
đó là một con số quá khiêm tốn - hơn 4%. Tuy là ngành sử dụng nhiều công nhân, nhưng
một tỷ lệ như vậy vẫn bị các chuyên gia trong ngành đánh giá là quá thấp.
Nhận định chung về lực lượng cán bộ hiện nay của ngành dệt may đang có
xu hướng già đi, và chưa có lớp kế cận. Lý do là thu nhập bình quân của ngành
thấp hơn so với các ngành khác và điều kiện làm việc cũng như đãi ngộ cũng
không tốt, nên thiếu hấp dẫn trong việc thu hút lao động.
Cán bộ thiết kế mẫu mốt, cán bộ marketing trong các doanh nghiệp dệt may
đang rất thiếu và yếu, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng internet để tạo lợi thế tiếp
cận khách hàng ở các nước cũng như marketing cho công ty và sản phẩm.
Về năng suất lao động, cả kéo sợi, dệt thoi và may mặc của ta đều có năng suất lao
động còn thấp hơn so với khu vực. Cùng một ca làm việc - năng suất lao động bình quân
của một lao động ngành may Việt Nam chỉ đạt 12 áo sơ mi ngắn tay hoặc 10 quần thì một
lao động Hồng Kông năng suất lao động là 30 áo hoặc 15 - 20 quần.
Theo tính toán của Hiệp hội dệt may và Tổng công ty Dệt May, để đáp ứng nhu
cầu đầu tư cho ngành dệt may đảm bảo đáp ứng mục tiêu của toàn ngành đặt ra đòi hỏi
một lượng lao động đáng kể bổ sung, trong đó: nhu cầu cho lao động may là lớn nhất
157.500 người, tiếp đến là dệt, nhuộm cần mới 108.355 người, nguyên liệu cần 3.390
người.
Do yêu cầu về lao động của ngành Dệt May tăng rất nhanh nên khả năng
đáp ứng của cơ sở đào tạo không theo kịp. Dẫn đến tính trạng tranh giành lao động
giữa các doanh nghiệp trong ngành tăng lên đã đến mức báo động.
Khi tình trạng mất người xảy ra với xác xuất cao, các doanh nghiệp ngại đào tạo
người lao động vì khả năng họ rời bỏ công ty sau khi được đào tạo là quá lớn. Doanh
nghiệp không đào tạo, nhân viên cảm thấy không thỏa mãn nhu cầu được học tập của
mình lại muốn ra đi tìm nơi khác nhiều hơn.
6/17


Những bất cập về nguồn nhân lực, đặc biệt là về chất lượng nguồn nhân lực đã
làm giảm đáng kể khả năng cạnh tranh của toàn ngành. Mục tiêu hiện nay mà ngành dệt
may đặt ra cho mình là phấn đấu đứng trong top 10 nước và tiến tới là top 5 nước xuất
khẩu dệt may lớn của thế giới, và định hướng phát triển của ngành là theo hướng thời
trang – công nghệ - thương hiệu. Với hướng đi như vậy nguồn nhân lực của toàn ngành
dệt may phải hướng đến chất lượng cao, nguồn nhân lực cần là yếu tố quan tâm số một
trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh, đào tạo cần được coi là giải pháp cơ bản và quan
trọng nhất để nguồn nhân lực đạt đến chất lượng mong muốn.
1.2.6. Chính trị và pháp luật
Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn về xã hội, có
sức hấp dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bản thân Việt
Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận
thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện xu hướng tăng, mặc dù có
giảm mạnh trong năm 2008. Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu
rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận
thị trường tốt hơn cho hàng dệt may. Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO,
đồng thời cũng đã đang tham gia ký kết và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự
do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp định đối tác thương mại Việt Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung khổ của ASEAN như ACFTA,
AKFTA, v.v).Những cam kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế
đã tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, và mở ra những thị trường mới
cũng như các quan hệ hợp tác mới.
1.3. Tình hình hoạt động ngành dệt may từ 2010- quý I/2015
Trong năm 2010, kim ngạch xuất khẩu sang EU đạt 1,883 tỷ USD, tăng
17,5% và chiếm 16,8%; sang Nhật đạt 1,154 tỷ USD, tăng 21% và chiếm 10,3%.
Mặc dù năm 2011, kinh tế thế giới rất khó khăn nhưng kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt-may Việt Nam vẫn tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay đạt 13,8 tỷ USD, xuất khẩu xơ sợi các loại ước đạt 1,8 tỷ USD, tổng cộng đạt
15,6 tỷ USD, tăng gần 30% so với năm 2010, tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu xuất khẩu
của cả nước.
Năm 2012, hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
đã bị ảnh hưởng mạnh bởi tác động của khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là đối với
thị trường châu Âu- thị trường trọng điểm của ngành dệt may. Lượng đơn đặt hàng
của các thành viên trong hiệp hội quý IV/2012 ước giảm 10% so với cùng kỳ năm
2011.
Bên cạnh sự giảm sút về kim ngạch xuất khẩu, khủng hoảng khu vực EU
khiến đồng euro biến động và mất giá liên tục, hàng dệt may của Việt Nam xuất đi
EU giao dịch bằng euro nhưng đa số doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ
7/17


Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan... phải thanh toán bằng USD. Chính sự chênh
lệch từ phương thức thanh toán tỷ giá khiến không ít doanh nghiệp xuất khẩu dệt
may sụt giảm lợi nhuận. Năm 2012 là năm có nhiều biến động bất lợi nhưng về cơ
bản xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam sang các thị trường vẫn tăng
trưởng ổn định. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ đạt 7,5 tỷ USD,
tăng gần 9,2% so với cùng kỳ; Nhật Bản đạt 2 tỷ USD, tăng 19,3%; Hàn Quốc đạt
1,3 tỷ USD tăng 9%; Các thị trường khác như Liên Xô cũ, Châu Phi, Trung
Đông… đạt 3,7 tỷ USD, tăng 20% so với cùng kỳ; Duy chỉ có kim ngạch xuất
khẩu sang thị trường EU giảm từ 2,8 tỷ USD năm 2011 xuống 2,4 tỷ USD năm
2012.
Thị trường Hàn Quốc đang trở thành một thị trường tiềm năng của các
doanh nghiệp dệt may, bởi sức tiêu thụ ở thị trường này là khá lớn. Hiện thị trường
Hàn Quốc đứng thứ 4 trong số các nước nhập khẩu hàng dệt may của Việt nam chỉ
sau Mỹ, Nhật và EU. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này 11 tháng đầu năm
2012 đã tăng 20,9% so với cùng kỳ và đạt 994.159.014 USD.
Năm 2013, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ tăng gần 13%
trong khi nhập khẩu của Mỹ chỉ tăng gần3%, Nhật Bản nhập khẩu gần như không
tăng thì chúng ta xuất khẩu tăng khoảng 13% và Hàn Quốc duy trì được tốc độ
tăng trưởng xuất khẩu gần 30%.
Năm 2014, hàng dệt may Việt Nam tăng trưởng tốt ở nhiều thị trường chính
như Hoa Kỳ (chiếm 47% thị phần); EU (chiếm 16,2% thị phần); Hàn Quốc (hơn
10% thị phần) và giữ mức tăng trưởng ổn định tại thị trường Nhật Bản (12,5% thị
phần). Nếu tính tổng gộp cả XK dệt may và xơ sợi, vải không dệt và NPL dệt may
thì tổng KNXK dệt may toàn ngành năm 2014 đạt 24.692 tỷ USD, tăng 17,07% so
với 2013.
Việt Nam đã vươn lên là nhà cung cấp dệt may lớn thứ hai về lượng và trị
giá vào Nhật Bản. Trong Top 9 các nhà cung cấp hàng dệt may lớn vào Nhật Bản,
Việt Nam là nhà cung cấp đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất, với mức tăng
9,77% về trị giá so với cùng kỳ năm 2013, đạt trên 2,6 tỷ USD. So với các nhiệm
kỳ trước, ngành Dệt May Việt Nam có sự thay đổi mạnh mẽ về kết cấu sản phẩm,
sự tăng trưởng của Dệt May Việt Nam luôn đạt từ 18 – 20%/năm.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt và
may mặc ước đạt 6,55 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ.Từ đầu năm 2015 đến
nay, số lượng các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam vẫn
đang gia tăng, nhằm đón đầu các Hiệp định thương mại tự do như TPP, FTA Việt
Nam - EU, FTA Việt Nam - Hàn Quốc… mà ngành dệt may Việt Nam được nhận
định sẽ được hưởng lợi nhiều nhất do nhiều dòng thuế sẽ giảm về 0%.

8/17


1.4. Triển vọng
Ngành dệt may sẽ tiếp tục tăng trưởng về sản lượng, doanh thu và lợi nhuận
do kinh tế thế giới đang hồi phục. Trong giai đoạn 2011 – 2020 dự kiến tăng
trưởng 12 - 14% và đạt kim ngạch xuất khẩu 25 tỷ USD vào năm 2020. Đặc biệt
là ở các thị trường xuất khẩu chính như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đều có tốc
độ tăng trưởng doanh thu cao trong quý 1 năm 2015. Xu hướng đó xuất phát từ
những nguyên nhân sau:
 Các cơ hội đến từ Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), cùng
các hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc, EU và Liên minh Thuế quan Nga Belarus - Kazakhstan được ký kết góp phần làm giảm thuế nhập khẩu, làm tăng
sản lượng xuất khẩu vào các thị trường quan trọng này, tăng khả năng cạnh tranh
với các sản phẩm đến từ Trung Quốc vốn không được hưởng ưu đãi này.
 Các doanh nghiệp đang chuyển hướng sản xuất từ phương thức gia công CMT
sang FOB, ODM. Đây là những phương thức tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao hơn và
doanh nghiệp có sự chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó làm
gia tăng doanh thu, lợi nhuận.
 Bên cạnh đó, xu hướng giá duy trì ở mức thấp, ổn định của các nguyên vật liệu
đầu vào như sợi (sợi tổng hợp và sợi bông), vải có thể tiếp diễn, giúp cải thiện biên
lợi nhuận cho các doanh nghiệp dệt may. Lãi suất thấp và đang giảm góp phần
giảm chi phí tài chính, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất. Tuy nhiên,
chi phí lương tăng ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may do
đây là một ngành thâm dụng lao động.
 Ngành dệt may còn yếu về cơ sở hạ tầng và các ngành công nghiệp phụ trợ, giá trị
gia tăng không cao. Tuy nhiên, nắm bắt cơ hội từ TPP, nhiều tập đoàn dệt may
nước ngoài có kế hoạch đầu tư lớn vào ngành dệt may Việt Nam, đầu tư trực tiếp
nước ngoài tăng cao sẽ góp phần cải thiện công nghệ, cơ sở hạ tầng, tăng năng
suất lao động, cũng như tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp dệt may trong nước, góp phần cải thiện những yếu kém của ngành dệt may
trong nước. Tập đoàn Dệt may Yulun Giang Tô của Trung Quốc gần đây đã nhận
được giấy phép xây dựng nhà máy dệt may, nhuộm và sợi trong một khu công
nghiệp ở tỉnh Nam Định, dự định sẽ đi vào hoạt động vào giữa năm 2016 với công
suất 9.816 tấn sợi, 21,6 triệu mét vải và nhuộm 24 triệu mét cả sợi lẫn vải mỗi
năm. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Forever Glorious thuộc tập đoàn
Sheico của Đài Loan đã cam kết đầu tư 50 triệu USD để sản xuất quần áo và phụ
kiện thể thao nước. Dự kiến, nhà máy này cần 3.550 lao động. Công ty TNHH
Gain Lucky thuộc tập đoàn Thần Châu Quốc tế đặt trụ sở tại Trung Quốc, đơn vị
chuyên gia công hàng may mặc cho các hãng lớn như Nike, Adidas và Puma, cũng
9/17


đã công bố kế hoạch đầu tư 140 triệu USD vào thành phố Hồ Chí Minh nhằm xây
dựng một khu trung tâm rộng 45 ha dành riêng cho việc thiết kế và sản xuất các
sản phẩm cao cấp.
 Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu, phần lớn là từ Trung Quốc, Ấn Độ.
Tuy nhiên, hiện nay sản lượng bông trong nước đang ngày càng gia tăng, cũng như
sự mở rộng thị trường nhập khẩu bông từ châu Phi đã giúp giảm sự lệ thuộc vào
thị trường Trung Quốc. Trong đó, một số dự án sẽ bắt đầu hoạt động từ năm nay
như dự án của Yulun Giang Tô (Trung Quốc) hay Nam Phương Textile (Hồng
Kông). Các dự án này có thể góp phần gia tăng nguồn cung nguyên phụ liệu trong
nước, giúp các doanh nghiệp Việt Nam tăng tỷ lệ nội địa hóa. Đây là điều cần thiết
để các doanh nghiệp dệt may đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ của các hiệp định
thương mại và giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu (khoảng 70%).
1.5. Chu kì sống của ngành dệt may Việt Nam.
Trong những năm qua, mặc dù chịu nhiều tác động xấu của hai cuộc suy
thoái kinh tế toàn cầu (2008-2011), ngành dệt may Việt Nam vẫn có một tốc độ
phát triển nhanh và ổn định, trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực
của nước ta. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, sẩn phẩm dệt may của Việt Nam
đã được xuất khẩu sang 180 quốc gia và nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới.
Theo nghiên cứu mới nhất của Tổ chức Xúc tiến xuất khẩu từ các nước
đang phát triển sang EU (CBI) thuộc Bộ Ngoại giao Hà Lan, tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu hàng dệt may trong giai đoạn 2005 – 2011 của Việt Nam đạt mức cao
nhất thế giới với 32%, trong khi đó Trung Quốc đạt 15%, Ấn Độ 10%, các nước
Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia, Thái Lan đạt mức 7%.
Năm 2012, mặc dù ngành dệt may toàn cầu gặp nhiều khó khăn song xuất
khẩu dệt may Việt Nam tiếp tục giữ mức tăng trưởng trên 8%. Xuất khẩu dệt may
của Việt Nam sang các thị trường lớn vẫn tăng trưởng ổn định mặc dù nhập khẩu
dệt may nói chung vào các thị trường này đều tăng chậm, thậm chí giảm. Cụ thể
nhập khẩu dệt may vò thị trường Mỹ năm 2012 giảm 0,5% nhưng nhập khẩu từ
Việt Nam vẫn tăng 9,2%; nhập khẩu dệt may vào Nhật Bản tăng 8% nhưng nhập
khẩu từ Việt Nam tăng mạnh 19,3%; thậm chí tại thị trường Hàn Quốc khi nhập
khẩu dệt may vào thị trường này giảm 7% thì nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9%.
Điều này chứng tỏ các sản phẩm dệt may của Việt Nam ngày càng khẳng định
được uy tín trên thị trường thế giới.
Giai đoạn 2010-2014, trong điều kiện kinh tế còn nhiều bất ổn, dệt may
Việt Nam vẫn giữ mức tăng trưởng tốt. Năm 2014, kim ngạch xuất khẩu đạt 24,5
tỷ USD; tăng 19% so với năm 2013. Đặc biệt, trong tất cả các tháng năm 2014,
kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đều đạt trên 1 tỷ USD.

10/17


Nguồn: Tổng cục Hải quan.
Với đà tăng trưởng như năm 2014 cùng với sức hút từ các FTA sắp kí kết,
Vitas dự kiến ngành dệt may có kế hoạch xuất khẩu từ 28 đến 28,5 tỷ USD; tăng
15,9% trong năm 2015.
Kim ngạch xuất khẩu tăng cao và điều đáng mừng hơn là tỷ lệ FOB và
ODM trong xuất khẩu dệt may đã tăng lên, giảm tỷ lệ gia công, nâng cao giá trị
gia tăng của sản phẩm. Năm 2014, với 24,5 tỷ kim ngạch xuất khẩu, dệt may đã
mang lại thặng dư thương mại 12 tỷ USD.
Bên cạch thị trường xuất khẩu tiềm năng, ngành dệt may cũng đang chú
trọng tới thị trường trong nước. Ngành dệt may đã nỗ lực đầu tư cho sản xuất, tích
cực mở rộng kênh phân phối để chiếm lĩnh thị phần, đẩy lùi hàng nhập ngoại kém
chất lượng. Và sản phẩm may mặc nội ngày càng được nhiều người tiêu dùng ưa
chuộng. Những năm gần đây, hàng dệt may tiêu thụ nội địa tăng trung bình 10 –
15%/năm. Năm 2014, tiêu thụ nội địa hàng dệt may đạt 70 ngàn tỷ đồng, đáp ứng
tốt nhu cầu trong nước.
Như vậy, ngành dệt may Việt Nam đang trên đà tăng trưởng. Với những
điều kiện thuận lợi: (1) Sự tăng trưởng nhu cầu tiêu thụ dệt may nội địa và thế
giới, (2) Sự chuyển dịch chuỗi giá trị sản xuất – thương mại toàn cầu, (3) Cơ hội
đột phá từ các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, ngành dệt
may Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong tương lai.
2. MÔ HÌNH MICHEAL PORTER

Yếu tố

Mức độ
Trung
Thấp
bình

Cao

Nhận định
11/17


Lợi thế kinh
CÁC
tế từ quy mô
RÀO
CẢN GIA
NHẬP
NGÀNH
Khả năng
tiếp cận các
kênh phân
phối

x

x

Yêu cầu về
vốn

x

Chính sách
khuyến
khích của
chính phủ

Dị biệt hóa
sản phẩm

x

x

Khi tăng quy mô, chi phí cố định
giảm, bên cạnh đó chi phí lưu
động cũng giảm do mua được
nguyên liệu đầu vào với chi phí
thấp hơn ( đơn hàng lớn), chi phí
nhân công giảm.
Thị trường nội địa với gần 90
triệu dân là những khách hàng
mục tiêu và tiềm năng cho ngành
dệt may. Ngoài ra tham gia vào
TPP mở ra cơ hội cho ngành dệt
may tiếp cận với những thị
trường kinh tế hàng đầu thế giới
như Hoa Kì, Nhật Bản. Tuy nhiên
việc xây dựng hệ thống phân phối
và đáp ứng những yêu cầu về mặt
kĩ thuật là vô cùng quan trọng.
Công nghệ là yếu tố đảm bảo quá
trình sản xuất đạt hiệu quả cao.
Đối với ngành dệt may, máy móc
thiết bị đóng vai trò quan trọng
đến năng suất và chất lượng sản
phẩm tạo ra do đó yêu cầu đầu tư
vào tài sản cố định tương đối lớn.
Với định hướng xây dựng ngành
dệt may trở thành một trong
những ngành công nghiệp mũi
nhọn trong giai đoạn 2015 –
2020, chính phủ đang có nhiều
chính sách khuyến khích và hỗ
trợ các doanh nghiệp dệt may
phát triển, chuyển đổi cơ cấu sản
xuất và xây dựng thương hiệu
riêng, tận dụng những lợi thế mà
TPP mang lại.
Phần lớn các doanh nghiệp hiện
nay chủ yếu nhận gia công từ đơn
đặt hàng của nước ngoài do đó
khả năng tiếp cận và nắm bắt nhu
cầu thị trường là chưa cao, khả
năng tạo ra những sự khác biệt về
sản phẩm là tương đối thấp.
12/17


Kết luận: Nhìn chung các rào cản gia nhập ngành là không cao, yêu cầu về
vốn và công nghệ tương đối thấp. Ngành may mặc Việt Nam có tốc độ tăng
trưởng cao, quy mô các doanh nghiệp ngày càng tăng, số lướng các doanh
nghiệp lớn ( gần 6000 doanh nghiệp), kênh phân phối và khả năng tiếp cận
nguồn nguyên liệu đầu vào lớn
MỨC ĐỘ
CẠNH
TRANH
TRÊN
THỊ
TRƯỜNG

Rào cản
thoát khỏi
ngành
Mức độ tăng
trưởng của
ngành

X

x

Tốc độ tăng
trưởng của
ngành

X

Định phí và
chi phí lưu
kho

X

Công suất

X

Rào cản thoát khỏi ngành cao do
đặc thù riêng của máy móc, thiết
bị và chính sách đối với người lao
động.
Số lượng doanh nghiệp lớn tuy
nhiên sự khác biệt về quy mô
giữa các doanh nghiệp chưa cao,
một số doanh nghiệp dẫn đầu
ngành như: Tập đoàn Dệt may
Việt Nam ( VINATEX), Công ty
cổ phần Dệt may – Đầu tư –
Thương mại Thành Công (TCM).
Là một trong 5 nhà xuất khẩu dệt
may hàng đầu thế giới, với định
hướng đến năm 2020 đưa Dệt
may trở thành ngành công nghiệp
mũi nhọn của Việt Nam, kì vọng
trong tương lai tốc độ của ngành
sẽ tăng cao. Tuy nhiên cần chú ý
phát triển ngành công nghiệp phụ
trợ.
Tỷ trọng định phí trên tổng chi
phí của các doanh nghiệp trong
ngành lớn khi công nghệ sản xuất
lỗi thời cần được đổi mới. Sản
phẩm của doanh nghiệp trong
ngành chịu phí lưu kho khá thấp
( số ngày tồn kho năm 2014 là
14,06 ngày và vòng quay hàng
tồn kho là 25,07 vòng). Điều này
tạo nên cường độ cạnh tranh cao,
do sản phẩm được tung ra thị
trường liên tục, đòi hỏi luôn có
sản phẩm đa dạng trong suốt
năm.
Các doanh nghiệp chưa áp dụng
13/17


thông qua
đầu tư lớn

KHẢ
NĂNG
ÉP GIÁ
CỦA
KHÁCH
HÀNG

khoa học kĩ thuật nhiều, công
nghệ lỗi thời, phương pháp sản
xuất khá thô sơ, còn dựa nhiều
vào người lao động. Tốc độ tăng
trưởng sản xuất của ngành là khá
cao đạt từ 12 – 14% hằng năm.
Cường độ cạnh tranh chỉ ở mức
trung bình giữa các doanh nghiệp
do chưa có sự khác biệt nhiều
trong khâu sản xuất, dây chuyền
sản xuất tương đối giống nhau.
Mức độ
Tập đoàn Vinatex hiện nay đang
quyết tâm
X
dẫn đần toàn thị trường về thị
đạt thành
phần sản phẩm, có quyết tâm rất
công của các
lớn đưa ngành dệt may Việt Nam
doanh
ngang tầm với thế giới. Hiện nay,
nghiệp trong
Vinatex trở thành tập đoàn dệt
ngành
may lớn thứ 10 thế giới, đã có đợt
IPO đầu tiên cải cách tập đoàn
toàn diện, đang trong quá trình
xây dựng chuỗi cung ứng hiện
đại.Dựa theo đà thành công của
Vinatex, các doanh nghiệp trong
ngành luôn cố gắng hết sức thi
đểnâng tầm công ty.
Kết luận: Mặc dù nhu cầu của khách hàng là rất lớn nhưng sự cạnh tranh
trong ngành vẫn rất cao. Các doanh nghiệp không cạnh tranh nhau về khách
hàng mà về các yếu tố đầu vào và lao động.
Mức độ
Yếu tố
Nhận định
trung
thấp
cao
bình
Khách hàng
x
Các công ty dệt may chủ yếu
đang mua sản
là gia công, nhận các đơn
phẩm của
hàng từ nước ngoài là chủ
ngành
yếu.
Số lượng
x
Số lượng người mua có nhu
khách hàng
cầu đặt hàng tại Việt Nam
lớn, khách hàng chủ yếu là
muốn gia công sản phẩm mà
ở Việt Nam chi phí sử dụng
lao động rẻ nên giá thành
cũng sẽ rẻ theo.
Mức độ tập
x
Mức độ tập trung của các
14/17


trung của
khách hàng

Sản phẩm có
x
chiếm tỷ trọng
trong chi phí
của khách hàng

Sự khác biệt
hóa trong sản
phẩm

Phí chuyển đổi
khi khách hàng
không sử dụng
sản phẩm của
ngành

x

x

Lợi nhuận của
khách hàng khi
mua sản phẩm

x

Nguy cơ đe
dọa không tiêu
thụ sản phẩm
của ngành

x

Chất lượng sản

x

khách hàng trong ngành
chưa cao. Thường rải rác ở
nhiều thị trường khác nhau,
nhiều quốc gia khác nhau.
Thị trường lớn như là Mỹ và
EU…
Sản phẩm chiếm tỷ trọng
thấp trong chi phí của khách
hàng. Ngành may mặc ở Việt
Nam chủ yếu là làm gia
công, các nguyên vật liệu
đầu vào đều do khách hàng
cung cấp.
Sự khác biệt giữa các sản
phẩm là tương đối do các
nhà sản xuất có quy trình sản
xuất, sản phẩm tương đối
khác nhau, tùy thuộc vào khả
năng và kinh nghiệm của
công ty.
Khi khách hàng không muốn
sử dụng sản phẩm của ngành
có thể dễ dàng chuyển đổi vì
sản phẩm, dịch vụ chủ yếu là
gia công, sản phẩm quần áo
với mức giá thấp.
Do ngành may của Việt Nam
chưa thực sự phát triển, chưa
có bất kì thương hiệu nổi
tiếng nào, chi phí lao động,
nhà xưởng rẻ nên giá sản
phẩm, dịch vụ không cao.
Do hiệp định TPP được kí
kết nên các thị trường mà
ngành dệt may xuất khẩu
đều đang mở rộng cửa cho
các doanh nghiệp. Thị
trường trong nước cũng đang
rất sôi động khi người dân
ngày càng e ngại hàng Trung
Quốc, ưa chuộng sản phẩm
được làm ở Việt Nam.
Chất lượng sản phẩm thuộc
15/17


phẩm

loại tốt là nước đứng thứ 5
xuất khẩu dệt may toàn thế
giới. Tuy nhiên mẫu mã sản
phẩm có phần kém đa dạng.
Thông tin mà
x
Các doanh nghiệp dệt may
khách hàng có
lớn ở Việt Nam chủ yếu
được
thuộc tập đoàn Vinatex, hệ
thống thông tin về các doanh
nghiệp không chi tiết. Do đó,
thông tin khách hàng có
được về các doanh nghiệp
trong ngành không nhiều.
Áp lực của
X
Khách hàng thường có nhu
khách hàng tạo
cầu cao, hầu hết các doanh
ra cho ngành
nghiệp đều phải cho công
nhân tăng ca liên tục. Đặc
biệt vào quý 2 và quý 3
thường trong tình trạng làm
việc với công suất tối đa.
Kết luận: Với xu hướng ngày càng có lợi cho ngành dệt may Việt Nam như
giá nhân công Trung Quốc tăng, chuẩn bị kí kết Hiệp định TPP ngành dệt
may đang ngày càng nâng tầm vị thế của mình trên toàn cầu. Vì vậy, doanh
thu và lợi nhuận của ngành sẽ càng tăng cao, trong tương lai ngành dệt may
được kì vọng là mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam.
VỊ THẾ
THƯƠN
G
LƯỢNG
NHÀ
CUNG
CẤP

Yếu tố
Mức độ tập
trung các nhà
cung cấp

Sự khác biệt
của các nhà
cung cấp

Mức độ
Trung
Thấp
bình
×

×

Cao

Nhận định
Số lượng các nhà cung cấp
nguyên vật liêụ lớn, mức độ
tập trung không cao (nhập
khẩu bông từ Hoa Kỳ, Ấn Độ,
Úc, Brazil, Pakistan. Nhập
khẩu sợi từ Đài Loan, Trung
Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc.
Nhập khẩu sơ từ Đài Loan và
thái.
Nhập khẩu vải từ Trung Quốc,
Hàn Quốc, Đài Loan,...)
Sự khác biệt của các nhà cung
cấp không lớn (chủ yếu khác
biệt về giá vật liệu).
16/17


Ảnh hưởng các
yếu tố đầu vào
đối với chi phí
và sự khác biệt
hóa sản phẩm
Chi phí chuyển
đổi nhà cung
cấp

Chi phí nguyên vật liệu chiếm
khoảng 60%-70% giá vốn
hàng bán và nguyên vật liệu
ảnh hưởng lớn đến sự khác
biệt hóa sản phẩm.
×
Số lượng và thông tin nhà
cung cấp nhiều dẫn đến chi
phí chuyển đổi nhà cung cấp
thấp.
Sự tồn tại của
×
Số lượng các nhà cung cấp
các nhà cung
thay thế ở các quốc gia chính
cấp thay thế
như Trung Quốc, Đài Loan,
Hàn Quốc,...lớn, nhưng số
lượng các nhà cung cấp tại thị
trường Việt Nam không nhiều
do ngành công nghiệp phụ trợ
Việt Nam chưa phát triển
tương xứng.
Nguy cơ tăng
×
Do số lượng nhà cung cấp
cường sư hợp
tương đối lớn và mức độ độc
nhất của các
quyền thấp nên nguy cơ tăng
nhà cung cấp
cường sự hợp nhất các nhà
cung cấp không cao.
Kết luận: Số lượng nhà cung cấp lớn, sự khác biệt không quá cao, chi phí
chuyển đổi nhà cung cấp thấp dẫn đến vị thế thương lượng của nhà cung
cấp thấp. Hiện tại nhà cung cấp chủ yếu cho các doanh nghiệp dệt may Việt
Nam là các công ty tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan. Để có thể hưởng
các ưu đãi từ TPP và FTA EU-Việt Nam, Các nhà sản xuất phải chuyển
dịch nhà cung cấp về Việt Nam hoặc về các nước nội khối đây là thách thức
lớn do ngành công nghiệp phụ trợ ở những khu vực này chưa phát triển
tương xứng với nhu cầu.

MỨC ĐỘ
TÁC
ĐỘNG
CỦA

×

Yếu tố

Mức độ
Thấp

Trung
bình

Nhận định
Cao

17/17


SẢN
PHẨM
THAY
THẾ

Các chi phí
chuyển đổi
trong sử dụng
sản phẩm

X

Chi phí chuyển đổi thấp do
giá cả và chất lượng các sản
phẩm thay thế không quá
khác biệt.

Xu hướng sử
dụng hàng thay
thế của khách
hàng

X

Khách hàng có nhu cầu sử
dụng nhiều loại sản phẩm
khác nhau tùy thuộc vào giới
tính, tính cách, sở thích…
của khách hàng.

Tương quan
giữa giá cả chất
lượng của các
mặt hàng thay
thế

X

Giá cả đa dạng tương ứng
với các sản phẩm, tạo điều
kiện cho khách hàng lựa
chọn sản phẩm.

Kết luận: Như vậy sự đe dọa từ sản phẩm thay thế có vị thế lớn trong
ngành do chi phí chuyển đổi thấp và sự đa dang các sản phẩm cũng như giá
cả giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn và sử dụng.

18/17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×