Tải bản đầy đủ

Bao cao thc tp tt nghip

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bất cứ doanh nghiệp nào khi đi vào sản xuất kinh doanh đều phải chịu trách nhiệm trước
kết quả kinh doanh của mình, bảo toàn được vốn kinh doanh và quan trọng là kinh doanh
có lãi. Muốn như vậy doanh nghiệp phải nhận thức được vị trí của khâu tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa vì nó quyết định đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để
doanh nghiệp có thu nhập bù đắp chi phí bỏ ra, thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách nhà
nước.
Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là hướng tới lợi nhuận nên bên cạnh các biện pháp
quản lý chung, việc tổ chức hợp lý công tác kế toán bán hàng là rất cần thiết, giúp doanh
nghiệp có đầy đủ thông tin kịp thời và chính xác để đưa ra quyết định kinh doanh đúng
đắn.
Doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao là cơ sở doanh nghiệp có thể tồn tại và
phát triển ngày càng vững chắc trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh sôi động và quyết
liệt. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng, em đã chọn đề tài
“Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của công ty TNHH Dịch vụ Dầu
Khí Tiền Cảng tại Quý I/2017” để nghiên cứu và viết bài báo cáo thực tập tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Các doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị trường đóng vai trò như một cầu nối
trung gian đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Mục đích chính doanh nghiệp
là tiêu thụ hàng hóa. Song muốn có hàng hóa để kinh doanh thường xuyên thì doanh

nghiệp cần tổ chức và thu mua thật khoa học và hợp lý – đó chính là phương tiện để
doanh nghiệp đạt được mục đích của mình. Chính vì vậy, thông qua bài nghiên cứu này,
em mong muốn có thể hệ thống hóa lý luận cơ bản về việc vận dụng các chuẩn mực kế
toán, chế độ kế toán hiện hành để làm rõ quy trình kế toán bán hàng tại công ty Tiền
Cảng cũng như xác định tình trạng kinh doanh của công ty trong quý I /2017.


3. Phạm vi nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty
TNHH Dầu khí Tiền Cảng tại Quý I/2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành bài báo cáo này em sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
 Phương pháp thu thập số liệu
 Phương pháp xử lý số liệu
 Phương pháp phân tích
Cùng với các cơ sở kiến thức đã học tại nhà trường kết hợp với việc nghiên cứu thực tế
tại đơn vị từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho bản thân.
5. Kết cấu đề tài


CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ
KINH DOANH
I.1. Những vấn đề chung về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về Bán hàng
1.1.1.1. Khái niệm về Bán hàng
Các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo ra các loại sản phẩm và
cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường với mục tiêu là lợi nhuận. Để
thực hiện mục tiêu đó, doanh nghiệp phải thực hiện được giá trị sản phẩm, hàng hoá
thông qua hoạt động bán hàng. Bán hàng là khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh
trong các doanh nghiệp thương mại. Đây là quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa
giữa người mua và doanh nghiệp thu tiền về hoặc có quyền thu tiền.
Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hóa của doanh nghiệp được chuyển từ
hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền). Tùy thuộc vào hình thức bán hàng,
để chia ra thành thương mại bán buôn (bán sĩ) và bán lẻ.
Vì vậy, đẩy nhanh quá trình bán hàng đồng nghĩa với việc rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh
doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Quá trình bán hàng ở các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thương mại nói
riêng có những đặc điểm chính sau:


Có sự thay đổi thỏa thuận giữa người mua và người bán, người bán đồng ý bán,

người mua đồng ý mua và chấp nhận trả tiền.

Có sự thay đổi quyền sở hữu hàng hóa: Người bán mất quyền sở hữu, người mua
đã có quyền sở hữu hàng hoa đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh
nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hóa và nhận lại một khoản gọi là
doanh thu bán hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả kinh
doanh của mình.


1.1.1.2. Phương pháp bán hàng
Dưới góc độ kế toán, nghiên cứu các phương thức bán hàng để xác định trách nhiệm hàng
hóa và chi phí, thời điểm ghi chép doanh thu bán hàng vào sổ kế toán.
Đối với bán buôn (bán sỉ)
Có 2 phương thức bán hàng cơ bản:
-Bán hàng qua kho: Hàng hóa mua về được nhập vào kho sau đó mới xuất ra bán. Có 2
hình thức giao hàng:
+ Giao hàng tại kho: Theo hình thức này bên bán giao hàng tại kho bên bán, người đại
diện bên mua nhận hàng tại kho bên bán, ký vào hóa đơn bán hàng và nhận hàng cùng
với hóa đơn dành cho bên mua. Kể từ thời điểm này bên bán ghi nhận doanh thu bán
hàng và bên mua phải chịu trách nhiệm về hàng hóa, về chi phí phát sinh.
+ Chuyển hàng: Bên bán chuyển hàng từ kho của mình giao cho bên mua tại địa điểm do
bên mua quy định đã thỏa thận ghi trên hợp đồng. Bên bán xuất hàng gửi đi cho bên mua
hạch toán là hàng gửi đi bán, chưa ghi nhận doanh thu. Hàng đang đi trên đường, trách
nhiệm hàng hóa và chi phí thuộc về bên bán. Kế toán ghi nhận doanh thu bán hàng tại
thời điểm bên bán giao hàng cho bên mua theo số thực tế giao, bên mua chấp nhận mua
và ký trên hóa đơn bán hàng.
- Giao hàng vận chuyển thẳng (bán hàng giao tay ba): Xét theo tính chất vận chuyển hàng
hóa, hàng được mua đi bán lại ngay mà không phải nhập kho.
Đối với bán lẻ:
Có nhiều phương thức bán lẻ như bán hàng ở quầy, siêu thị, bán hàng qua điện thoại, qua
mạng internet, bán lẻ lưu động trên các xe tải nhỏ, quầy hàng lưu động... Nhưng về thanh
toán có 2 phương thức thu tiền như sau:


- Bán hàng thu tiền tập trung: Tổ chức quy mô bán lẻ lớn như siêu thị, quầy bách hóa
lớn... khách hàng tự do lựa chọn hàng hóa và thanh toán một lần tại quầy kế toán thu tiền,
cuối ngày kế toán lập báo cáo bán hàng ngày và đem tiền nộp vào phòng kế toán để ghi
sổ một lần.
- Bán hàng thu tiền không tập trung: Phù hợp với quy mô bán lẻ nhỏ, mỗi nhân viên bán
hàng thu tiền trực tiếp từ khách hàng như các cửa hàng bán lẻ, quầy bán hàng nhỏ,... cuối
ngày lập báo cáo bán hàng và đem tiền nộp cho phòng kế toán Công ty, tiền mặt vẫn phải
nộp hàng ngày hoặc định kỳ ngắn 1 lần (nếu cửa hàng ở xa).
Ở đơn vị bán lẻ, kế toán ghi nhận doanh thu bán lẻ thông qua “báo cáo bán hàng” hằng
ngày hoặc định kỳ (có kèm theo hóa đơn bán hàng làm chứng từ gốc).
1.1.1.3. Phương thức thanh toán
Thanh toán bằng tiền mặt:
Thanh toán bằng tiền mặt là hình thức thu tiền ngay, nghĩa là giao hàng cho người mua
thì người mua nộp tiền ngay cho thủ quỹ. Theo phương thức này khách hàng có thể được
nhận chiết khấu theo hóa đơn
 Thanh toán không dùng tiền mặt:
Thanh toán không dùng tiền mặt là thanh toán bằng cách:
- Chuyển khoản qua ngân hàng
- Séc
- Ngân phiếu.
1.1.2. Khái niệm về xác định kết quả kinh doanh
1.1.2.1. Khái niệm xác định kết quả kinh doanh


Xác định kết quả kinh doanh là hoạt động so sánh giữa chi phí đã bỏ ra và thu nhập kinh
doanh đã thu về trong kỳ thông qua báo cáo hoạt động kinh doanh.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng
quát tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (bao gồm kết quả hoạt
động kinh doanh thông thường và kết quả khác) trong một kỳ nhất định.
Nếu thu nhập lớn hơn chi phí thì kết quả bán hàng lãi, thu nhập nhỏ hơn chi phí thì kết
quả bán hàng là lỗ. Việc xác định kết quả kinh doanh thường được tiến hành vào cuối
thàng, cuối quý, cuối năm tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của
từng doanh nghiệp.
1.1.2.2.Cách xác định kết quả kinh doanh
Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên
quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí.
Mô hình dưới đây thể hiện sự vận động của doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh
doanh một cách tổng quát
Tiền

Hàng

Phải thu KH

Doanh thu thuần

v
Trừ (-)

Chi phí mua hàng

Chi phí bán hàng

Giá vốn hàng bán

Trừ (-)

Chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí hoạt động

Bằng (=)

Lợi nhuận kế toán hoạt động Kinh doanh


+ Thời điểm xác định kết quả kinh doanh phụ thuộc vào chu kỳ kế toán của từng loại
hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong từng ngành nghề. Thông thường các doanh
nghiệp hoạt động thương mại có thể tính kết quả kinh doanh vào cuối mỗi tháng hoặc
quý, cuối năm.
+ Kết quả kinh doanh là số lãi hoặc số lỗ do các hoạt độnh kinh doah của doanh nghiệp
mang lại trong một kỳ kế toán. Cuối mỗi kỳ, kế toán xác định kết quả kinh doanh trong
kỳ từ việc tổng hợp kết quả kinh doanh của hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và kết
quả kinh doanh của các hoạt động khác.
Lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập doanh nghiệp = Lợi nhuận từ thuần hoạt động kinh
doanh + Lợi nhuận khác.
- Có 3 trường hợp xảy ra:
Trường hợp 1: Lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập DN = 0: hòa vốn (ít xảy ra)
Trường hợp 2: Lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập DN<0: Lỗ
Trường hợp 3: Lợi nhuận kế toán trước thuế thu nhập DN>0: Lãi
Lưu ý: Lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp theo công thức trên là xác định theo
nguyên tắc kế toán (tổng hợp lợi nhuận kế toán), còn thu nhập chịu thuế thu nhập doanh
nghiệp thì kế toán phải xác định lại theo quy định của luật thuế thu nhập doanh nghiệp,
như vậy tổng lợi nhuận kế toán vè thu nhập chịu thuế thu nhập có thể không bằng nhau.
Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp = Thu nhập doanh nghiệp chịu thuế x thuế suất
thuế thu nhập doanh nghiệp
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp = lợi nhuận kế toán trước thuế - Chi phí Thuế
thu nhập doanh nghiệp.


+ Kết quả hoạt động kinh doanh bán hàng là số chênh lệch gữa doanh thu thuần về bán
hàng và doanh thu thuần hoạt động tài chính so với chi phí kinh doanh bao gồm: Giá vốn
hàng bán, chi phí tài chính, chi phí bán hàng và chi phụ quản lý doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần
Doanh
từ HĐ
thu bán
kinhhàng
doanh
thuần và cung cấp dịch vụ
phí quản lý DN
Chi phí bánChi
hàng
Giá vốn hàngChi
bánphí tài chính
Doanh thu tài chính
=
+
+
+
+

Kết quả hoạt động khác là số chênh lêch giữa thu nhập thuần của hoạt động khác so với
chi phí hoạt động khác.
Lợi nhuận hoạt động khác = Thu nhập khác – Chi phí khác.
* Việc xác định kết quả kinh doanh cần tôn trọng các nguyên tắc kế toán nhất là nguyên
tắc phù hợp và nguyên tắc nhất quán.
1.2. Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh
1.2.1. Kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
1.2.1.1. Chứng từ sử dụng
Chứng từ kế toán được sử dụng để kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bao
gồm:
- Hóa đơn GTGT (mẫu 01-GTKT-3LL)
- Hóa đơn bán hàng thông thường (mẫu 02 – GTTT-3LL)
- Bảng thanh toán hàng đại lí, kí gửi (mẫu 01-BH)
- Thẻ quầy hàng (mẫu 02-BH)


- Các chứng từ thanh toán (phiếu thu, séc chuyển khoản, séc thanh toán, ủy nhiệm thu,
giấy báo có NH, bảng sao kê của NH...)
- Chứng từ kế toán liên quan khác như phiếu nhập kho hàng trả lại...
1.2.1.2. Tài khoản sử dụng
Để kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, kế toán sử dụng :
-

TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
TK 3331 - Thuế GTGT phải nộp
TK 3387 - Doanh thu chưa thực hiện

và các TK liên quan khác(TK111,112,131...).
* TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
- Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của
doanh nghiệp trong một kỳ kế toán của hoạt động sản xuất, kinh doanh từ các giao dịch
và các nghiệp vụ sau:
a) Bán hàng hóa: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào và
bán bất động sản đầu tư;
b) Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một kỳ,
hoặc nhiều kỳ kế toán, như cung cấp dịch vụ vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo
phương thức cho thuê hoạt động....
c) Doanh thu khác.
- Qui định về hạch toán TK 511:
 Điều kiện ghi nhận doanh thu
a) Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các điều kiện
sau:


- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản
phẩm, hàng hóa cho người mua;
- Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hoặc
quyền kiểm soát hàng hóa;
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được
quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa, đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ
được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua
không được quyền trả lại sản phẩm, hàng hóa (trừ trường hợp khách hàng có quyền trả lại
hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa, dịch vụ khác);
- Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
- Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
b) Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu cung cấp dịch vụ khi đồng thời thỏa mãn các
điều kiện sau:
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người mua được
quyền trả lại dịch vụ đã mua theo những điều kiện cụ thể, doanh nghiệp chỉ được ghi
nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó không còn tồn tại và người mua không
được quyền trả lại dịch vụ đã cung cấp;
- Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó;
- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào thời điểm báo cáo;
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung
cấp dịch vụ đó.
 Trường hợp hợp đồng kinh tế bao gồm nhiều giao dịch, doanh nghiệp phải nhận
biết các giao dịch để ghi nhận doanh thu, ví dụ:


- Trường hợp hợp đồng kinh tế quy định việc bán hàng và cung cấp dịch vụ
sau bán hàng (ngoài điều khoản bảo hành thông thường), doanh nghiệp phải ghi nhận
riêng doanh thu bán hàng và doanh thu cung cấp dịch vụ;
- Trường hợp hợp đồng quy định bên bán hàng chịu trách nhiệm lắp đặt sản
phẩm, hàng hóa cho người mua thì doanh thu chỉ được ghi nhận sau khi việc lắp đặt được
thực hiện xong;
- Trường hợp doanh nghiệp có nghĩa vụ phải cung cấp cho người mua hàng
hóa, dịch vụ miễn phí hoặc chiết khấu, giảm giá, kế toán chỉ ghi nhận doanh thu đối với
hàng hóa, dịch vụ phải cung cấp miễn phí đó cho đến khi đã thực hiện nghĩa vụ với người
mua.
 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà doanh nghiệp thực hiện được
trong kỳ kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ghi nhận ban
đầu do các nguyên nhân: Doanh nghiệp chiết khấu thương mại, giảm giá hàng đã bán cho
khách hàng hoặc hàng đã bán bị trả lại (do không đảm bảo điều kiện về quy cách, phẩm
chất ghi trong hợp đồng kinh tế);
Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải
chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hoặc hàng bán bị trả lại được ghi giảm doanh
thu theo nguyên tắc:
- Nếu sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ từ các kỳ trước, đến kỳ sau phải giảm giá,
phải chiết khấu thương mại, bị trả lại nhưng phát sinh trước thời điểm phát hành báo cáo
tài chính, kế toán phải coi đây là một sự kiện phát sinh sau ngày lập BCTC và ghi giảm
doanh thu trên BCTC của kỳ lập báo cáo.
- Trường hợp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải giảm giá, phải chiết khấu thương mại, bị
trả lại sau thời điểm phát hành Báo cáo tài chính thì doanh nghiệp ghi giảm doanh thu của
kỳ phát sinh.
 Doanh thu trong một số trường hợp được xác định như sau:


a) Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ không bao gồm các khoản thuế gián thu phải
nộp, như thuế GTGT (kể cả trường hợp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp),
thuế TTĐB, thuế xuất khẩu, thuế bảo vệ môi trường.
Trường hợp không tách ngay được số thuế gián thu phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh
thu, kế toán được ghi nhận doanh thu bao gồm cả số thuế phải nộp và định kỳ phải ghi
giảm doanh thu đối với số thuế gián thu phải nộp. Khi lập báo cáo kết quả kinh doanh,
chỉ tiêu “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” và chỉ tiêu “Các khoản giảm trừ
doanh thu” đều không bao gồm số thuế gián thu phải nộp trong kỳ do về bản chất các
khoản thuế gián thu không được coi là một bộ phận của doanh thu.
b) Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng
nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua hàng, thì trị giá số hàng này không
được coi là đã bán trong kỳ và không được ghi vào tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng
và cung cấp dịch vụ” mà chỉ hạch toán vào bên Có tài khoản 131 “Phải thu của khách
hàng” về khoản tiền đã thu của khách hàng. Khi thực giao hàng cho người mua sẽ hạch
toán vào tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” về trị giá hàng đã giao,
đã thu trước tiền bán hàng, phù hợp với các điều kiện ghi nhận doanh thu.
c) Trường hợp xuất hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo nhưng khách hàng chỉ được nhận
hàng khuyến mại, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản phẩm, hàng
hóa (ví dụ như mua 2 sản phẩm được tặng 1 sản phẩm....) thì kế toán phải phân bổ số tiền
thu được để tính doanh thu cho cả hàng khuyến mại, giá trị hàng khuyến mại được tính
vào giá vốn hàng bán (trường hợp này bản chất giao dịch là giảm giá hàng bán).
d) Trường hợp doanh nghiệp có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng ngoại tệ
mà phát sinh giao dịch nhận tiền ứng trước của khách hàng thì doanh thu tương ứng với
số tiền nhận ứng trước được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm nhận ứng
trước, phần doanh thu tương ứng với số tiền còn lại được ghi nhận theo tỷ giá giao dịch
thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu.


- Không ghi nhận doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ đối với:
- Trị giá hàng hóa, vật tư, bán thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công chế biến; Trị
giá hàng gửi bán theo phương thức gửi bán đại lý, ký gửi (chưa được xác định là đã bán);
- Số tiền thu được từ việc bán sản phẩm sản xuất thử;
- Các khoản doanh thu hoạt động tài chính;
- Các khoản thu nhập khác.
- Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 511
Bên Nợ
Bên Có
- Các khoản thuế gián thu phải nộp (GTGT, Doanh thu bán sản phẩm, hàng hóa, bất
TTĐB, XK, BVMT);

động sản đầu tư và cung cấp dịch vụ của
doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán.

- Các khoản giảm trừ doanh thu;
- Kết chuyển doanh thu thuần vào tài khoản
911 "Xác định kết quả kinh doanh".
=>Chú ý: TK 511 không có số dư cuối kì.
* TK 511 có 4 TK cấp II:
- Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hóa: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu
và doanh thu thuần của khối lượng hàng hóa được xác định là đã bán trong một kỳ kế
toán của doanh nghiệp. Tài khoản này chủ yếu dùng cho các ngành kinh doanh hàng hóa,
vật tư, lương thực,...
- Tài khoản 5112 - Doanh thu bán thành phẩm: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh
thu và doanh thu thuần của khối lượng sản phẩm (thành phẩm, bán thành phẩm) được xác
định là đã bán trong một kỳ kế toán của doanh nghiệp. Tài khoản này chủ yếu dùng cho


các ngành sản xuất vật chất như: Công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm
nghiệp,...
- Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh
thu và doanh thu thuần của khối lượng dịch vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách
hàng và được xác định là đã bán trong một kỳ kế toán. Tài khoản này chủ yếu dùng cho
các ngành kinh doanh dịch vụ như: Giao thông vận tải, bưu điện, du lịch, dịch vụ công
cộng, dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụ kế toán, kiểm toán,...
- Tài khoản 5118 - Doanh thu khác: Tài khoản này dùng để phản ánh về doanh thu
nhượng bán, thanh lý bất động sản đầu tư, các khoản trợ cấp, trợ giá của Nhà nước…
1.2.1.3. Trình tự hạch toán
511

111,112,131...
Các khoản giảm trừ doanh thu

111,112
Doanh thu bán hàng và cung cấp
Dịch vụ

911
Doanh thu bán hàng thuần
333
Các khoản thuế phải nộp khi bán hàng,

Cung cấp dịch vụ (Trường hợp chưa tách ngay các khoản thuế phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh thu)

Các khoản thuế phải nộp khi bán hàng, cung cấp dịch vụ
(Trường hợp tách ngay các khoản thuế phải nộp tại thời điểm ghi nhận doanh thu)

Sơ đồ 1.1. Trình tự kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ


1.2.2. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu
1.2.2.1. Chứng từ sử dụng
Các chứng từ thường dùng trong kế toán các khoản giảm doanh thu bán hàng thường bao
gồm:
-

Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, thẻ kho.
Hóa đơn GTGT.
Phiếu thu, chi tiền mặt, giấy báo nợ, có của ngân hàng.

1.2.2.2. Tài khoản sử dụng
Trong quá trình tiêu thụ có những trường hợp ảnh hưởng làm thay đổi doanh thu của
doanh nghiệp, bao gồm:
- Chiết khấu thương mại: Khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng
mua với khối lượng lớn.
- Hàng hóa bị trả lại: Khối lượng hàng hóa đã được xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả
lại và từ chối thanh toán
- Giảm giá hàng bán: Hàng đã bán sau đó người bán, giảm trừ cho người mua một khoản
tiền do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Theo quy định tại Thông tư 133/2016/TT-BTC, chỉ tiêu này phản ánh tổng hợp các khoản
được ghi giảm trừ vào tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm, bao gồm:
Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại trong kỳ báo
cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này là tổng số phát sinh bên Nợ TK 511 đối ứng với bên
Có các TK 111, 112, 131, trong kỳ báo cáo.
Chỉ tiêu này không bao gồm các khoản thuế gián thu, phí mà doanh nghiệp không được
hưởng phải nộp NSNN (được kế toán ghi giảm doanh thu trên sổ kế toán TK 511) do các
khoản này về bản chất là các khoản thu hộ Nhà nước, không thuộc doanh thu nên không
được coi là khoản giảm trừ doanh thu.


1.2.2.3. Trình tự hạch toán
511

111,112,131
Các khoản giảm trừ doanh thu

1.2.3. Kế toán giá vốn hàng bán
1.2.3.1. Các phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho.
Hàng tồn kho của doanh nghiệp là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để bán
trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường, gồm:
- Hàng mua đang đi trên đường;
- Nguyên liệu, vật liệu;
- Công cụ, dụng cụ;
- Sản phẩm dở dang;
- Thành phẩm;
- Hàng hóa;
- Hàng gửi bán.
Các loại sản phẩm, hàng hóa, vật tư, tài sản nhận giữ hộ, nhận ký gửi, nhận ủy thác xuất
nhập khẩu, nhận gia công... không thuộc quyền sở hữu và kiểm soát của doanh nghiệp thì
không được phản ánh là hàng tồn kho.


Trong một doanh nghiệp chỉ được áp dụng một trong hai phương pháp kế toán hàng tồn
kho: Phương pháp kê khai thường xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ. Việc lựa
chọn phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng tại doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc
điểm, tính chất, số lượng, chủng loại vật tư, hàng hóa và yêu cầu quản lý để có sự vận
dụng thích hợp và phải được thực hiện nhất quán trong niên độ kế toán.
Các phương pháp kế toán hàng tồn kho.
 Phương pháp kê khai thường xuyên: Phương pháp kê khai thường xuyên là
phương pháp theo dõi và phản ánh thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình
nhập, xuất, tồn vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán. Trong trường hợp áp dụng phương
pháp kê khai thường xuyên, các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để phản
ánh số hiện có, tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa. Vì vậy, giá trị
hàng tồn kho trên sổ kế toán có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ
kế toán.
Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế hàng tồn kho, so sánh, đối chiếu với
số liệu hàng tồn kho trên sổ kế toán. Về nguyên tắc số tồn kho thực tế phải luôn phù hợp
với số tồn kho trên sổ kế toán. Nếu có chênh lệch phải truy tìm nguyên nhân và có giải
pháp xử lý kịp thời. Phương pháp kê khai thường xuyên thường áp dụng cho các doanh
nghiệp sản xuất (công nghiệp, xây lắp...) và các doanh nghiệp thương mại kinh doanh các
mặt hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, hàng có kỹ thuật, chất lượng cao...
 Phương pháp kiểm kê định kỳ: là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết quả kiểm
kê thực tế để phản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ vật tư, hàng hóa trên sổ kế toán tổng
hợp và từ đó tính giá trị của hàng hóa, vật tư đã xuất trong kỳ.
k) Việc phân loại hàng tồn kho là vật tư hay thiết bị, phụ tùng thay thế tùy thuộc vào đặc
điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho phát sinh
trong quá trình mua hàng hoặc tiếp tục quá trình sản xuất, chế biến thì được ghi nhận vào


giá gốc hàng tồn kho. Chi phí vận chuyển, bảo quản hàng tồn kho liên quan đến việc tiêu
thụ hàng tồn kho thì được tính vào chi phí bán hàng.
1.2.3.2. Chứng từ sử dụng
- Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho;
- Biên bản kiểm kê vật tư, hàng hóa.
1.2.3.3. Tài khoản sử dụng
Tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán
 Nguyên tắc kế toán:
a) Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động
sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp xây lắp) bán
trong kỳ. Ngoài ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên quan đến hoạt
động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao; chi phí sửa chữa; chi phí
cho thuê BĐSĐT theo phương thức cho thuê hoạt động; chi phí nhượng bán, thanh lý
BĐSĐT…
b) Khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được tính vào giá vốn hàng bán trên cơ sở số
lượng hàng tồn kho và phần chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn
giá gốc hàng tồn kho. Khi xác định khối lượng hàng tồn kho bị giảm giá cần phải trích
lập dự phòng, kế toán phải loại trừ khối lượng hàng tồn kho đã ký được hợp đồng tiêu thụ
(có giá trị thuần có thể thực hiện được không thấp hơn giá trị ghi sổ) nhưng chưa chuyển
giao cho khách hàng nếu có bằng chứng chắc chắn về việc khách hàng sẽ không từ bỏ
thực hiện hợp đồng và loại trừ hàng tồn kho dùng cho hoạt động xây dựng cơ bản, giá trị
hàng tồn kho dùng cho sản xuất sản phẩm mà sản phẩm được tạo ra từ những hàng tồn
kho này có giá bán bằng hoặc cao hơn giá thành sản xuất của sản phẩm.
c) Đối với phần giá trị hàng tồn kho hao hụt, mất mát, kế toán phải tính ngay vào giá vốn
hàng bán (sau khi trừ đi các khoản bồi thường, nếu có).


d) Các khoản thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường đã tính vào
giá trị hàng mua, nếu khi xuất bán hàng hóa mà các khoản thuế đó được hoàn lại thì được
ghi giảm giá vốn hàng bán.
e) Các khoản chi phí không được coi là chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế
TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo Chế độ kế toán thì
không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế TNDN để
làm tăng số thuế TNDN phải nộp.
 Kết cấu, nội dung phản ánh của tài khoản 632 – Giá vốn hàng bán. (theo phương
pháp kê khai thường xuyên.)
Bên Nợ
- Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh,

Bên Có
- Kết chuyển giá vốn của sản phẩm, hàng

phản ánh:

hóa, dịch vụ đã bán trong kỳ sang tài khoản

+ Trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch

911 “Xác định kết quả kinh doanh”;

vụ đã bán trong kỳ.

- Khoản hoàn nhập dự phòng giảm giá

+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí

hàng tồn kho cuối năm tài chính (chênh

nhân công vượt trên mức bình thường và

lệch giữa số dự phòng phải lập năm nay

chi phí sản xuất chung cố định không phân

nhỏ hơn số đã lập năm trước);

bổ được tính vào giá vốn hàng bán trong

- Trị giá hàng bán bị trả lại;

kỳ;

- Khoản hoàn nhập chi phí trích trước đối

+ Các khoản hao hụt, mất mát của hàng tồn

với hàng hóa bất động sản được xác định là

kho sau khi trừ phần bồi thường do trách

đã bán (chênh lệch giữa số chi phí trích

nhiệm cá nhân gây ra;

trước còn lại cao hơn chi phí thực tế phát

+ Số trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn

sinh);

kho (chênh lệch giữa số dự phòng giảm giá

- Khoản chiết khấu thương mại, giảm giá

hàng tồn kho phải lập năm nay lớn hơn số

hàng bán nhận được sau khi hàng mua đã

dự phòng đã lập năm trước chưa sử dụng

tiêu thụ;

hết).

- Số điều chỉnh tăng nguyên giá BĐSĐT

+ Chi phí trích trước đối với hàng hóa bất

nắm giữ chờ tăng giá khi có bằng chứng


động sản được xác định là đã bán.

chắc chắn cho thấy BĐSĐT có dấu hiệu
tăng giá trở lại;
- Các khoản thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường đã tính
vào giá trị hàng mua, nếu khi xuất bán hàng
hóa mà các khoản thuế đó được hoàn lại.

=>Tài khoản 632 không có số dư cuối kỳ.
1.2.3.4. Trình tự hạch toán

111,112,331

611

632

Mua hàng hóa

911
Kết chuyển giá vốn hàng

Trị giá vốn hàng hóa
Bán tiêu thụ trong kỳ
156
Kết chuyển giá

xuất bán trong kỳ của
các đơn vị thương
mại

155,157
Kết chuyển thành phẩm


trị hàng hóa tồn
kho đầu kỳ

Hàng gửi đi bán cuối kỳ

Kết chuyển giá trị hàng hóa
tồn kho cuối kỳ

2294

155,157

Hoàn nhập dự phòng, giảm

Kết chuyển thành phẩm gửi đi bán đầu kỳ

giá hàng tồn kho

631
Giá thành thực tế sản phẩm nhập kho; dịch
vụ hoàn thành của các đơn vị cung cấp
dịch vụ

Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

1.2.4. Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
1.2.4.1. Chứng từ sử dụng
1.2.4.2. Tài khoản sử dụng
Tài khoản 642 – Chi phí quản lý kinh doanh
-Nội dung: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản chi phí quản lý kinh doanh bao
gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp:


Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm,
hàng hóa, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng
cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa (trừ hoạt động
xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, lương nhân viên bộ phận bán hàng (tiền
lương, tiền công, các khoản phụ cấp,...), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động của nhân viên bán hàng; chi phí
vật liệu, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho bộ phận bán hàng; dịch vụ mua
ngoài (điện, nước, điện thoại, fax,...); chi phí bằng tiền khác.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp bao
gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (tiền lương, tiền công,
các khoản phụ cấp,...); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất
nghiệp của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động,
khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập
dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài
sản, cháy nổ...); chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng...).
-Nguyên tắc kế toán:
 Các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp không được coi là chi
phí được trừ theo quy định của Luật thuế TNDN nhưng có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã
hạch toán đúng theo Chế độ kế toán thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều
chỉnh trong quyết toán thuế TNDN để làm tăng số thuế TNDN phải nộp.
 Tài khoản 642 được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí theo quy định. Tùy theo
yêu cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp, tài khoản 642 có thể được mở chi
tiết theo từng loại chi phí như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Trong
từng loại chi phí được theo dõi chi tiết theo từng nội dung chi phí như:
a) Đối với chi phí bán hàng:
- Chi phí nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng
gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hóa,... bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca,


tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo
hiểm thất nghiệp,...
- Chi phí vật liệu, bao bì: Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc bảo
quản, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng
hóa, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng
hóa trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ,... dùng cho bộ
phận bán hàng.
- Chi phí dụng cụ, đồ dùng: Phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện
làm việc,...
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán
hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính
toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng,...
- Chi phí bảo hành: Dùng để phản ánh khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa. Riêng
chi phí sửa chữa và bảo hành công trình xây lắp phản ánh ở TK 154 “Chi phí sản xuất
kinh doanh dở dang” mà không phản ánh ở TK này.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho bán
hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền
thuê kho, thuê bãi, tiền thuê bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hóa đi bán, tiền trả hoa
hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận ủy thác xuất khẩu,...
- Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán
hàng ngoài các chi phí nêu trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới
thiệu sản phẩm, hàng hóa, khuyến mại, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội nghị khách
hàng..
b) Đối với chi phí quản lý doanh nghiệp:


- Chi phí nhân viên quản lý: Phản ánh các khoản phải trả cho cán bộ nhân viên quản lý
doanh nghiệp, như tiền lương, các khoản phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh
phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp của Ban Giám đốc, nhân viên quản lý ở các phòng,
ban của doanh nghiệp.
- Chi phí vật liệu quản lý: Phản ánh chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý doanh
nghiệp như văn phòng phẩm... vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa TSCĐ, công cụ, dụng
cụ,... (giá có thuế hoặc chưa có thuế GTGT).
- Chi phí đồ dùng văn phòng: Phản ánh chi phí dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho
công tác quản lý (giá có thuế hoặc chưa có thuế GTGT).
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh
nghiệp như: Nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng, vật kiến trúc, phương tiện
vận tải truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng,...
- Thuế, phí và lệ phí: Phản ánh chi phí về thuế, phí và lệ phí như: thuế môn bài, tiền thuê
đất,... và các khoản phí, lệ phí khác.
- Chi phí dự phòng: Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả
tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho công
tác quản lý doanh nghiệp; các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng
chế,... (không đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ) được tính theo phương pháp phân bổ dần
vào chi phí quản lý doanh nghiệp; tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ.
- Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí khác thuộc quản lý chung của doanh
nghiệp, ngoài các chi phí nêu trên, như: Chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí, tàu xe,
khoản chi cho lao động nữ,...
 Đối với sản phẩm, hàng hóa dùng để khuyến mại, quảng cáo:


- Trường hợp xuất sản phẩm, hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo không thu tiền, không
kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản phẩm, hàng hóa thì ghi nhận giá trị hàng
khuyến mại, quảng cáo vào chi phí bán hàng.
- Trường hợp xuất sản phẩm, hàng hóa để khuyến mại, quảng cáo nhưng khách hàng chỉ
được nhận hàng khuyến mại, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua sản
phẩm, hàng hóa (ví dụ như mua 2 sản phẩm được tặng 1 sản phẩm....) thì kế toán phản
ánh giá trị hàng khuyến mại, quảng cáo vào giá vốn hàng bán (trường hợp này bản chất
giao dịch là giảm giá hàng bán).
- Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động thương mại được nhận hàng hóa (không phải trả
tiền) từ nhà sản xuất, nhà phân phối để quảng cáo, khuyến mại cho khách hàng mua hàng
của nhà sản xuất, nhà phân phối:
+ Khi nhận hàng của nhà sản xuất (không phải trả tiền) dùng để khuyến mại, quảng cáo
cho khách hàng, nhà phân phối phải theo dõi chi tiết số lượng hàng trong hệ thống quản
trị nội bộ của mình và thuyết minh trên Bản thuyết minh Báo cáo tài chính đối với hàng
nhận được và số hàng đã dùng để khuyến mại cho người mua (như hàng hóa nhận giữ
hộ).
+ Khi hết chương trình khuyến mại, nếu không phải trả lại nhà sản xuất số hàng khuyến
mại chưa sử dụng hết, kế toán ghi nhận thu nhập khác là giá trị số hàng khuyến mại
không phải trả lại.
 Kết cấu nội dung tài khoản 642 – Chi phí quản lý kinh doanh

Bên Nợ
- Các chi phí quản lý kinh doanh phát sinh

Bên Có
- Các khoản được ghi giảm chi phí quản lý

trong kỳ;

kinh doanh;

- Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng

- Hoàn nhập dự phòng phải thu khó đòi, dự

phải trả (Chênh lệch giữa số dự phòng phải

phòng phải trả (chênh lệch giữa số dự


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×