Tải bản đầy đủ

BAO CAO THC TP NHN THC

BÁO CÁO THỰC TẬP NHẬN THỨC


NGÀY 9/6/2015: THAM QUAN NHÀ MÁY GIẤY TÂN LONG –KHU
CÔNG NGHIỆP HÒA KHÁNH-TP ĐÀ NẴNG
-Có 2 quá trình sản xuất: +sản xuất giấy
+sản xuất bao bì
-Công suất hoạt động của nhà máy : 200m3/ngày

QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIẤY:
Nguyên liệu (giấy nội,giấy ngoại) => cân và phân loại giấy => nghiền thủy
lực (loại bỏ bao bì, băng keo..) => bột khô => lọc cát nồng độ cao (tách kim
loại, phi kim..) => qua máy phân li => xà nghiêng => lọc cát nồng độ thấp
=> bột thô và bột tinh ( bột thô đc đưa lại quá trình phân li tiếp tục để tạo
thành bột tinh) => hồ bột => pha màu hoặc thêm phụ gia =>quá trình xeo
giấy (tách nước và ép giấy) =>giấy cuộn (bán thành phẩm hoặc thành phẩm).

Thuyết minh quy trình:
1

Nguyên liệu:

Gồm: -giấy nội :là giấy phế liệu thường đc sử dụng phổ biến
-giấy ngoại đc nhập về bằng các container và đc dung để sản xuất các
loại giấy cao cấp

2

Quá trình xeo giấy là:

Bột được đem trộn với nước và hóa chất để đạt tới hỗn hợp 99,5% nước. Hỗn hợp
bột-nước này đi vào một thùng kim loại thật lớn được đặt ở vị trí bắt đầu của máy
xeo giấy – gọi là thùng đầu; rồi sẽ được phun liên tục lên một giàn lưới chuyển
động rất nhanh qua máy xeo.
Trên giàn lưới đó, nước sẽ bắt đầu thóat ra khỏi bột, và các xơ sợi tái chế sẽ mau
chóng quánh lại, tạo thành một tờ giấy ướt sũng nước. Tờ giấy này sẽ di chuyển
thật nhanh qua một loạt những trục ép có bọc bạt (hay còn gọi là chăn/mền) giúp
vắt nước ra được nhiều hơn.
tờ giấy ướt khi nãy - bây giờ trông đã giống tờ giấy bình thường hơn - sẽ được cho
qua một lọat những trục lăn bằng kim loại đã được sấy nóng để làm tờ giấy khô đi.


Nếu muốn tráng phủ gì đó lên giấy thì hỗn hợp tráng phủ sẽ được đưa vào cuối chu
trình, hoặc trong một quy trình khác sau khi giấy đã được xeo (được làm) xong.
Việc tráng phủ là nhằm mục đích để cho tờ giấy có bề mặt bóng mịn, dễ in.
Sau cùng, tờ giấy thành phẩm sẽ được cuộn vào một trục lăn thật lớn và rời khỏi
máy xeo. Trục cuốn này có thể rộng tới 9-10 m và nặng gần 20 tấn! Cuộn giấy
thành phẩm có thể được cắt ra thành những cuộn nhỏ hơn hoặc thành nhiều tờ, để
chở tới những nhà máy mà ở đó chúng sẽ được in ấn, hoặc được gia công thành các
sản phẩm như phong bì, túi giấy hay thùng hộp…

QUY TRÌNH SẢN XUẤT BAO BÌ:
Giấy cuộn => máy tạo sóng ( có sử dụng tinh bột để tạo độ dính ) => tạo thành
phôi => các công đoạn luân phiên (in, chạp, bế ) => dán hoặc đóng ghim theo yêu
cầu

CÁC CHẤT THẢI PHÁT SINH TRONG QUY TRÌNH SẢN XUẤT
VÀ CÁCH XỬ LÍ:
1
2

3

4
5

Chất thải rắn: được đưa cho công ty môi trường để xử lí
Nước thải: => lồng quay li tâm ( tách nước, tách bột ) => hố
tập trung => hệ thống tuyển nổi (có bổ sung PAC, polime
cation) => lồng quay lọc bột để tái sử dụng hoặc đưa ra bể
aroten ( chứa VSV, được sục khí liên tục – bổ sung dinh
dưỡng bằng phân DAB (P,N) và phân Ure (N) ) => bể lắng
1=> bề khử trùng => bể lắng 2 ( nước đc tái sử dụng 1 phần
và 1 phần đc đưa ra ngoài xử lí)
• Lượng bùn còn dư ở bể lắng 1 được đưa qua máy ép
bùn ( có chứa polime cation) => tạo thành bùn có thể sử
dụng làm phân bón cho cây trồng
Khí thải :- từ lò hơi (củi) trong máy lò hơi có sẵn bộ xử lí
khi thải như: xiclon chum và hệ thống dập bụi 3 cấp.
- Máy nén khí dùng để tạo hơi để quay các pitton
Điện : tiên tốn lượng điện rất lớn
Mùi : mùi được phát thải do quá trình sử dụng bột sắn để làm
keo dán




PAC

Thành phần cấu tạo: "poly-aluminum chloride" hay "PAC" là dùng
để chỉ một hợp chất có nhôm cloride mà đã có một phần phản ứng với kiềm.
Điều này giải thích cho việc khi hòa tan vào nước thì Nhôm sulfate có tính
acid cao hơn PAC (nói cách khác là giảm pH ít hơn Nhôm sunfate).

Ngoài ra, PAC còn có điểm khác biệt nữa là nó có chứa oligomer nhôm với điện
tích cao (ảnh hưởng mạnh đến điện tích của hạt keo) ==> do đó nó có hiệu quả keo
tụ mạnh hơn hẳn các muối nhôm cùng loại.
+ Ưu điểm:
- Sẽ làm cho độ pH không bị tụt thấp đột ngột nên sẽ dễ điều chỉnh pH hơn trong
xử lý.
- So với Nhôm sulfate thì PAC không có sulfate do đó sẽ giảm lượng SO4- đưa vào
trong nước thải (SO4- có tính độc đối với vi sinh).
+ Nhược điểm:
- Do nó có hiệu quả rất mạnh ở liều lượng thấp nên việc cho quá độ lượng PAC sẽ
gây hiện tượng Tái ổn định của hạt keo.
- Lượng Cloride trong PAC sẽ thúc đẩy quá trình ăn mòn, đặc biệt là ở những nơi
đóng cặn bùn.

CÁC THIỆT BỊ HỖ TRỢ ĐO CÁC TIÊU CHUẨN TRONG NƯỚC
THẢI:
-máy đo COD
- Lọc để đo TSS (TSS là tổng chất rắn)
- máy đo oxi trong bể hiếu khí




NGÀY 10/6/2015 : THAM QUAN NHÀ MÁY XỬ LÍ NƯỚC
CẤP CẦU ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG.

-Công suất hoạt động của nhà máy : 150000 m3/ ngày,đêm
-Các tiêu chí đánh giá nước cấp : * độ đục
* nồng độ clo dư
* lượng vi sinh
-Tiểu chuẩn độ mặn của nước uống : 30 mg/l

QUY TRÌNH SẢN XUẤT :
Nguồn nước => hồ sơ lắng => trạm bơm 1 => hệ thống lắng ngang => hệ thống
lắng lamen => bể lọc => hầm lọc => bế chứa => bơm đến nơi tiêu thụ.

Thuyết minh quy trình:
+nguồn nước: có thể sử dụng các nguồn H2O khác nhau như: nước suối, nước
ngầm, nước mưa, nước mặt.. ở nhà máy nước Cầu Đỏ người ta sử dụng nguồn
nước mặt ( nước sông cẩm lệ )
+hồ sơ lắng: nước được bơm vào hồ sơ lắng để lắng các cặn lớn, nước chứa các
cặn nhỏ được đưa đi xử lí tiếp tục.
+trạm bơm số 1:




gồm 4 bơm lớn dung để bơm nước vào hệ thống bể lắng ngang
để xử lí, và 2 bơm nhỏ dung để bơm nước từ nhà máy đến sân
bay để xử lí riêng.
1 máy đo các chỉ tiêu trong nước : đo độ pH, đo nhiệt độ, đo độ
mặn và đo độ đục

+hệ thống lắng ngang:


Hoạt động theo nguyên lí chảy tầng, bể càng dài lượng nước
lắng được càng trong


gồm 2 bể : mỗi bể rộng 30m, dài >100m, sâu từ 5-6 m, có 2
vùng : vùng phản ứng ( có chứa phèn làm xảy ra phản ứng keo
tụ giữa các hạt cặn  cặn kết dính và lắng xuống đáy bể  các
hạt cặn k bị keo tụ lơ lửng trong nước  bể lọc nhanh (vật liệu
lọc là cát thạch anh giao động từ 0.8 – 1,2 mm, cao 1,2 m, có
trụ lọc ) các cặn nằm ở trên nước lắng xuống dưới .
công suất :





+hệ thống lắng lamen:





công suất 160000 m3/ ngày,đêm
cấu tạo : gồm 4 bể, mỗi bể có các tấm lamen ở dưới đáy bể,
các lamen cao 1m, nghiêng 600 so vs mặt đất, tiết diện của
lamen là 30 mm.
nước dẫn từ dưới vào hệ thống lamen  các cặn bám ở các
lamen  nước trong ở trên  chay qua 4 bể  nước chảy theo
các đường ống qua bể lọc.

+bể lọc: gồm 12 bể lọc, nước ở đây sẽ được lọc cặn 1 lần nữa  đọc chỉ số độ đục
của nước sau các quá trình ( 5≤ độ đục ≤ 8 hoặc 9 NTU )

+hầm lọc : các ống dẫn nước được châm thêm Clo để làm sạch nước
+ bể chứa: chưa nước sau khi đã lọc và châm Clo
+trạm bơm tiêu thụ : nước qua trạm bơm sẽ được kiểm tra lại các thông số 1 lần
nữa, rồi bơm đi các nơi tiêu thụ


CHẤT HẢI PHÁT SINH : CHẤT THẢI RẮN (vớt và chuyển đến công ty
môi trường xử lí)

BÁO CÁO THỰC TẬP NHẬN THỨC


NGÀY 9/6/2015: THAM QUAN NHÀ MÁY GIẤY TÂN LONG –KHU
CÔNG NGHIỆP HÒA KHÁNH-TP ĐÀ NẴNG


-Có 2 quá trình sản xuất: +sản xuất giấy
+sản xuất bao bì
-Công suất hoạt động của nhà máy : 200m3/ngày

QUY TRÌNH SẢN XUẤT GIẤY:
Nguyên liệu (giấy nội,giấy ngoại) => cân và phân loại giấy => nghiền thủy
lực (loại bỏ bao bì, băng keo..) => bột khô => lọc cát nồng độ cao (tách kim
loại, phi kim..) => qua máy phân li => xà nghiêng => lọc cát nồng độ thấp
=> bột thô và bột tinh ( bột thô đc đưa lại quá trình phân li tiếp tục để tạo
thành bột tinh) => hồ bột => pha màu hoặc thêm phụ gia =>quá trình xeo
giấy (tách nước và ép giấy) =>giấy cuộn (bán thành phẩm hoặc thành phẩm).

Thuyết minh quy trình:
3

Nguyên liệu:
Gồm: -giấy nội :là giấy phế liệu thường đc sử dụng phổ biến
-giấy ngoại đc nhập về bằng các container và đc dung để sản xuất các
loại giấy cao cấp

4

Quá trình xeo giấy là:

Bột được đem trộn với nước và hóa chất để đạt tới hỗn hợp 99,5% nước. Hỗn hợp
bột-nước này đi vào một thùng kim loại thật lớn được đặt ở vị trí bắt đầu của máy
xeo giấy – gọi là thùng đầu; rồi sẽ được phun liên tục lên một giàn lưới chuyển
động rất nhanh qua máy xeo.
Trên giàn lưới đó, nước sẽ bắt đầu thóat ra khỏi bột, và các xơ sợi tái chế sẽ mau
chóng quánh lại, tạo thành một tờ giấy ướt sũng nước. Tờ giấy này sẽ di chuyển
thật nhanh qua một loạt những trục ép có bọc bạt (hay còn gọi là chăn/mền) giúp
vắt nước ra được nhiều hơn.
tờ giấy ướt khi nãy - bây giờ trông đã giống tờ giấy bình thường hơn - sẽ được cho
qua một lọat những trục lăn bằng kim loại đã được sấy nóng để làm tờ giấy khô đi.
Nếu muốn tráng phủ gì đó lên giấy thì hỗn hợp tráng phủ sẽ được đưa vào cuối chu
trình, hoặc trong một quy trình khác sau khi giấy đã được xeo (được làm) xong.
Việc tráng phủ là nhằm mục đích để cho tờ giấy có bề mặt bóng mịn, dễ in.


Sau cùng, tờ giấy thành phẩm sẽ được cuộn vào một trục lăn thật lớn và rời khỏi
máy xeo. Trục cuốn này có thể rộng tới 9-10 m và nặng gần 20 tấn! Cuộn giấy
thành phẩm có thể được cắt ra thành những cuộn nhỏ hơn hoặc thành nhiều tờ, để
chở tới những nhà máy mà ở đó chúng sẽ được in ấn, hoặc được gia công thành các
sản phẩm như phong bì, túi giấy hay thùng hộp…

QUY TRÌNH SẢN XUẤT BAO BÌ:
Giấy cuộn => máy tạo sóng ( có sử dụng tinh bột để tạo độ dính ) => tạo thành
phôi => các công đoạn luân phiên (in, chạp, bế ) => dán hoặc đóng ghim theo yêu
cầu

CÁC CHẤT THẢI PHÁT SINH TRONG QUY TRÌNH SẢN XUẤT
VÀ CÁCH XỬ LÍ:
6
7

8

9
10



Chất thải rắn: được đưa cho công ty môi trường để xử lí
Nước thải: => lồng quay li tâm ( tách nước, tách bột ) => hố
tập trung => hệ thống tuyển nổi (có bổ sung PAC, polime
cation) => lồng quay lọc bột để tái sử dụng hoặc đưa ra bể
aroten ( chứa VSV, được sục khí liên tục – bổ sung dinh
dưỡng bằng phân DAB (P,N) và phân Ure (N) ) => bể lắng
1=> bề khử trùng => bể lắng 2 ( nước đc tái sử dụng 1 phần
và 1 phần đc đưa ra ngoài xử lí)
• Lượng bùn còn dư ở bể lắng 1 được đưa qua máy ép
bùn ( có chứa polime cation) => tạo thành bùn có thể sử
dụng làm phân bón cho cây trồng
Khí thải :- từ lò hơi (củi) trong máy lò hơi có sẵn bộ xử lí
khi thải như: xiclon chum và hệ thống dập bụi 3 cấp.
- Máy nén khí dùng để tạo hơi để quay các pitton
Điện : tiên tốn lượng điện rất lớn
Mùi : mùi được phát thải do quá trình sử dụng bột sắn để làm
keo dán

PAC

Thành phần cấu tạo: "poly-aluminum chloride" hay "PAC" là dùng
để chỉ một hợp chất có nhôm cloride mà đã có một phần phản ứng với kiềm.


Điều này giải thích cho việc khi hòa tan vào nước thì Nhôm sulfate có tính
acid cao hơn PAC (nói cách khác là giảm pH ít hơn Nhôm sunfate).
Ngoài ra, PAC còn có điểm khác biệt nữa là nó có chứa oligomer nhôm với điện
tích cao (ảnh hưởng mạnh đến điện tích của hạt keo) ==> do đó nó có hiệu quả keo
tụ mạnh hơn hẳn các muối nhôm cùng loại.
+ Ưu điểm:
- Sẽ làm cho độ pH không bị tụt thấp đột ngột nên sẽ dễ điều chỉnh pH hơn trong
xử lý.
- So với Nhôm sulfate thì PAC không có sulfate do đó sẽ giảm lượng SO4- đưa vào
trong nước thải (SO4- có tính độc đối với vi sinh).
+ Nhược điểm:
- Do nó có hiệu quả rất mạnh ở liều lượng thấp nên việc cho quá độ lượng PAC sẽ
gây hiện tượng Tái ổn định của hạt keo.
- Lượng Cloride trong PAC sẽ thúc đẩy quá trình ăn mòn, đặc biệt là ở những nơi
đóng cặn bùn.

CÁC THIỆT BỊ HỖ TRỢ ĐO CÁC TIÊU CHUẨN TRONG NƯỚC
THẢI:
-máy đo COD
- Lọc để đo TSS (TSS là tổng chất rắn)
- máy đo oxi trong bể hiếu khí




NGÀY 10/6/2015 : THAM QUAN NHÀ MÁY XỬ LÍ NƯỚC
CẤP CẦU ĐỎ - TP ĐÀ NẴNG.

-Công suất hoạt động của nhà máy : 150000 m3/ ngày,đêm
-Các tiêu chí đánh giá nước cấp : * độ đục
* nồng độ clo dư
* lượng vi sinh
-Tiểu chuẩn độ mặn của nước uống : 30 mg/l

QUY TRÌNH SẢN XUẤT :
Nguồn nước => hồ sơ lắng => trạm bơm 1 => hệ thống lắng ngang => hệ thống
lắng lamen => bể lọc => hầm lọc => bế chứa => bơm đến nơi tiêu thụ.

Thuyết minh quy trình:
+nguồn nước: có thể sử dụng các nguồn H2O khác nhau như: nước suối, nước
ngầm, nước mưa, nước mặt.. ở nhà máy nước Cầu Đỏ người ta sử dụng nguồn
nước mặt ( nước sông cẩm lệ )
+hồ sơ lắng: nước được bơm vào hồ sơ lắng để lắng các cặn lớn, nước chứa các
cặn nhỏ được đưa đi xử lí tiếp tục.
+trạm bơm số 1:




gồm 4 bơm lớn dung để bơm nước vào hệ thống bể lắng ngang
để xử lí, và 2 bơm nhỏ dung để bơm nước từ nhà máy đến sân
bay để xử lí riêng.
1 máy đo các chỉ tiêu trong nước : đo độ pH, đo nhiệt độ, đo độ
mặn và đo độ đục

+hệ thống lắng ngang:


Hoạt động theo nguyên lí chảy tầng, bể càng dài lượng nước
lắng được càng trong


gồm 2 bể : mỗi bể rộng 30m, dài >100m, sâu từ 5-6 m, có 2
vùng : vùng phản ứng ( có chứa phèn làm xảy ra phản ứng keo
tụ giữa các hạt cặn  cặn kết dính và lắng xuống đáy bể  các
hạt cặn k bị keo tụ lơ lửng trong nước  bể lọc nhanh (vật liệu
lọc là cát thạch anh giao động từ 0.8 – 1,2 mm, cao 1,2 m, có
trụ lọc ) các cặn nằm ở trên nước lắng xuống dưới .
công suất :





+hệ thống lắng lamen:





công suất 160000 m3/ ngày,đêm
cấu tạo : gồm 4 bể, mỗi bể có các tấm lamen ở dưới đáy bể,
các lamen cao 1m, nghiêng 600 so vs mặt đất, tiết diện của
lamen là 30 mm.
nước dẫn từ dưới vào hệ thống lamen  các cặn bám ở các
lamen  nước trong ở trên  chay qua 4 bể  nước chảy theo
các đường ống qua bể lọc.

+bể lọc: gồm 12 bể lọc, nước ở đây sẽ được lọc cặn 1 lần nữa  đọc chỉ số độ đục
của nước sau các quá trình ( 5≤ độ đục ≤ 8 hoặc 9 NTU )

+hầm lọc : các ống dẫn nước được châm thêm Clo để làm sạch nước
+ bể chứa: chưa nước sau khi đã lọc và châm Clo
+trạm bơm tiêu thụ : nước qua trạm bơm sẽ được kiểm tra lại các thông số 1 lần
nữa, rồi bơm đi các nơi tiêu thụ


CHẤT HẢI PHÁT SINH : CHẤT THẢI RẮN (vớt và chuyển đến công ty
môi trường xử lí)




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×