Tải bản đầy đủ

Bao cao sa ngay 7t5

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

Mục lục
2

1.1

Tính cấp thiết của đề tài.

2

1.2

Mục tiêu nghiên cứu.

2

1.2.1 mục tiêu chung

2


1.2.2 Mục tiêu cụ thê

2

1.3

2

Đối tượng phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

2

Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG VỐN TÍN DỤNG
2
2.1 Cơ sở lý luận

2

2.1.1 Một số khái niệm

2

2.1.2 Đặc trưng vốn tín dụng nông thôn 2
2.1.3 Vai trò vốn tín dụng đối với nông thôn

2

2.1.4 Phân loại vốn tín dụng nông thôn 2
2.1.5 Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng

2

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín dụng.

2

2.2 Cơ sở thực tiễn 2
2.2.1 Thực trạng sử dụng vốn tín dụng ở một số nước trên thế giới
2.2.2 Thực trạng sử dụng vốn tín dụng ở Việt Nam
2.2.3 Bài học kinh nghiệp rút ra.

2

2

2.2.4 Một số công trình nghiên cứu có liên quan

2

Phần III Đặc Điểm Địa Bàn Nghiên Cứu

2

3.1

Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2

3.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý

2

3.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn

2

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2

3.2.1 Đất đai và tình hình sử dụng đất đai
3.2.2 Dân số lao động

2

2

2


3.2.3 Tình hình phát triên kinh tế xã Giao Hà

2

3.2.4 Cơ sở hạ tầng 2
3.3 Phương pháp nghiên cứu

2

3.3.1 Phương pháp tiếp cận

2

3.3.2 Phương pháp chọn điêm, chọn mẫu nghiên cứu
3.3.3 Phương pháp thu thập số liệu.

2

3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu

2

3.3.5 Phương pháp phân tích

2

3.4

2

Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu2

Phần IV Kết Quả nghiên cứu và thảo luận

2

4.1 Thực trạng cho vay vốn ở xã Giao Hà

2

4.1.1 Hệ thống tín dụng chính thức xã Giao Hà

2

4.1.2 Tình hình cho vay vốn của hệ thống tín dụng chính thức 2
4.2 Thực trạng cơ bản các hộ điều tra

2

4.2.1 Tình hình cơ bản các hộ điều tra 2
4.2.2 Tình hình vay vốn các hộ điều tra2
4.3 Thực trạng sử dụng vốn tín dụng của các hộ nông dân 2
4.3.1 Thực trạng sử dụng vốn cho trồng trọt

2

4.3.2 Thực trạng sử dụng vốn cho chăn nuôi

2

4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín dụng
2
4.4.1 Các yếu tố ngoại sinh

2

4.4.2 Các yếu tố nội sinh

2

4.5 Định hướng mục tiêu và Giải pháp 2
4.5.1 Định hướng mục tiêu

2

4.5.2 Định hướng giải pháp

2

Phần V Kết Luận Và Kiến Nghị

2

5.1 Kết Luận

2

5.2 Kiến Nghị

2

PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ NÔNG DÂN

2


I.

Thông tin chung về phỏng vấn 2

II.

Thông tin về tín dụng: Tình hình vay vốn của hộ từ nguồn tín dụng
chính thức 2

III.

Lượng vốn đầu tư cho sản xuất 2

VI: Kết quả sản xuất của hộ

2

V.Kết quả sử dụng vốn vay

2

PHIẾU ĐIỀU TRA CÁN BỘ TÍN DỤNG
PHIẾU ĐIỀU TRA LÃNH ĐẠO

2

2


DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
ADB
BQ
CC
CN – XD
CNH – HĐH
GDP
HTX
IMF
LĐNLN
LĐNN
NTTS
NHCSXH
NHNN&PTNT
NHTM
NLN
NN
ODA
QTDND
SL
SX
TCTD
TDCT
THCS
THPT
UBND
WB

Nghĩa đầy đủ
Ngân hàng phát triển Châu Á
Bình quân
Cơ cấu
Công nghiệp - xây dựng
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Tổng sản phẩm quốc dân
Hợp tác xã
Quỹ tiền tệ quốc tế
Lao động Nông – Lâm – Ngư
Lao động nông nghiệp
Nuôi trồng thủy sản
Ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ngân hàng thương mại
Nông – Lâm – Ngư
Nông nghiệp
Vốn đầu tư nước ngoài
Quỹ tín dụng nhân dân
Số lượng
Sản xuất
Tổ chức tín dụng
Tín dụng chính thức
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
Ngân hàng thế giới
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1

Tính cấp thiết của đề tài.
Nước ta là một nước nông nghiệp, với hơn 70% dân số sống ở nông thôn,

thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp. Mặc dù trong những năm qua nền
nông nghiệp và kinh tế nông thôn nước ta đã có những bước tiến đáng kể,
song nhìn chung đời sống người dân nông thôn gặp nhiều khó khăn, thu nhập


còn thấp, nền nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động chưa cao, thị trường
chưa phát triển, hiệu quả sử dụng vốn còn thấp, cơ cấu kinh tế nông thôn
chuyển đổi chậm, công nghiệp nông thôn chưa phát triển, các ngành nghề tiểu
thủ công nghiệp thiếu thị trường và vốn. Trước tình hình đó Đảng và Chính
Phủ đã chỉ rõ công cuộc Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước với mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” được bắt đầu
bằng việc phát triển kinh tế ở khu vực nông thôn.
Từng bước nhanh chóng hình thành đầy đủ hệ thống đồng bộ các thị
trường trong nông nghiệp nông thôn, gồm thị trường cung cấp các yếu tố đầu
vào cho sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm, trong đó quan trọng nhất là
thị trường vốn, thị trường dịch vụ kỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường vốn là thị trường quan
trọng nhất của hệ thống thị trường nông nghiệp nông thôn. Sự hoạt động có
hiệu quả và ổn định của thị trường vốn có ý nghĩa đặc biệt to lớn trong việc
thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và giải quyết những vấn đề xã hội
trong nông thôn. Với việc đổi mới ngành Ngân hàng và xây dựng hệ thống
ngân hàng chuyên ngành trong nông thôn.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế, Chính phủ đã ban hành
nhiều chính sách nhằm tăng cường, khả năng tiếp cần tín dụng của hộ nông
dân như nghị định số 14/1993/NĐ-CP ngày 2-3-1993 về cho vay đến hộ nông
dân để phát triển sản xuất nông –lâm- Ngư – diêm nghiệp và kinh tế nông
thôn và nghị đinh số 41/2010/NĐ- CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng
phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn... Nhờ đó hoạt động tín dụng cho
nông nghiệp nông thôn thời gian gần đây đã có những bước phát triển đáng
kể. Hiện nay nguần tín dụng cho nông nghiệp nông thôn nước ta bao gồm tín
dụng chính thức, tín dụng bán chính thức, tín dụng phi chính thức, trong đó
tín dụng chính thức ngày càng phát triển, thể hiện ở tính đa dạng , nhiều thành
phần sở hữu và có tính đa dạng và mở rộng về quy mô. Mạng lưới tín dụng


chính thức cho vay đến nông nghiệp, nông thôn không chỉ các Ngân hàng
thương mại như Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
(NHNN&PTNT), Ngân hàng Chính sách (NHCSXH), qũy tín dụng nhân dân
(QTDND), mà còn cả các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể. Nguồn vốn,
doanh số cho vay và dư nợ tín dụng trong những năm gần đây ngày càng tăng,
đối tượng tiếp cận và sử dụng nguồn vốn cũng ngày càng được mở rộng. Mặc
dù đã có những thành công nhất định, song so với mức tín dụng chung của cả
nền kinh tế, mức tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn còn thấp,
chưa đáp ứng được nhu cầu và mục tiêu phát triển. Nông dân vẫn gặp khó
khăn trong việc tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng chính thức.
Trong những năm gần đây cùng chuyển đổi nền kinh tế của xã có nhiều
hộ trong xã đã sử dụng vốn vay để phát triển kinh tế nhằm thoát nghèo. Tuy
nhiên một thực tế cho thấy, hiện nay trên địa bàn nghiên cứu việc vay vốn của
hộ nông dân còn gặp phải nhiều khó khăn: Các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng
đủ nhu cầu vốn tín dụng ở khu vực kinh tế nông thôn, tạo điều kiện cho “tín
dụng đen” tồn tại và ngày càng nghiêm trọng ở vùng nông thôn. Điều đó làm
cho hiệu quả đồng vốn vay thấp, tình trạng dư nợ vẫn còn. Hộ nông dân vay
vốn như thế nào? Thời gian, lãi suất bao nhiêu? Thời điểm nào thì hộ có nhu
cầu vay cao nhất? Hộ sử dụng vốn như thế nào? Và hiệu quả sử dụng vốn đó
đến đâu? Các yếu tố ảnh hưởng tới nguần vốn tín dụng của hộ nông dân
trong sản xuất nông nghiệp ? và các giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của hộ nông dân?
Xuất phát từ các vấn đề đã nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài
nghiên cứu: “Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân
trên địa bàn xã Giao Hà huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
1.2.1 mục tiêu chung


Dựa Trên cơ sở khảo sát thực trạng thị trường vốn tín dụng nông thôn và
sử dụng vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân vùng nghiên cứu, từ đó có
căn cứ khoa học cho việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín
dụng của các hộ nông dân trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp góp
phần phát triển bền vững nông thôn mới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thê
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hệ thống tín dụng nông
thôn nói chung và tín dụng nông nghiệp nói riêng trên địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng chính thức của các hộ nông dân
xã Giao Hà huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định.
- Tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín
dụng của các hộ nông dân trên địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các hộ
nông dân trên địa bàn xã Giao Hà huyện Giao Thủy Tỉnh Nam Định.
1.3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ thể : Các hộ nông dân vay vốn tín dụng phát triển nông nghiệp trên địa
bàn xã Giao Hà huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định.
Khách thể : Nhóm các ngân hàng chính sách, nhóm các ngân hàng thương
mại, các tổ chứ chính trị – xã hội, các đoàn thể...
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung : Đề tài tập chung đánh giá hiệu quả sử dụng vốn từ
nguần tín dụng chính thức của hộ nông dân trong quá trình sản xuất và phát
triển nông nghiệp trên địa bàn xã Giao Hà huyện Giao thủy tỉnh Nam Định.
Phạm vi không gian : Đề tài được thực hiện tại xã Giao Hà huyện Giao
Thủy tỉnh Nam Định
Phạm vi thời gian : Thu thập tài liệu liên quan đến đề tài trong 3 năm
gần đây ( 2011-2013). Thời gian thực hiện khóa luận từ tháng 1/2014 đến
tháng 5/2014
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG VỐN TÍN DỤNG


2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về vốn tín dụng và tín dụng hộ nông dân
 Vốn
Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về vốn ở những góc độ khác nhau.
Về bản chất “vốn” bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế được đưa vào chu
chuyển như: tiền, lao động, tài nguyên, vật tư, máy móc, thiết bị, ruộng đất,
giá trị của những tài sản vô hình như: vị trí đất đai, công nghệ, quyền phát
minh, sáng chế, thương hiệu,…
Trong nền kinh tế thị trường thì tài sản vô hình ngày càng có vai trò quan
trọng trong cơ cấu vốn.
Ngoài ra đối với các nhà kinh tế “vốn” là một trong ba yếu tố đầu vào
phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai và vốn ), là yếu tố thứ ba của sản xuất
được kết hợp lại để sản xuất hàng hóa dịch vụ.
Các Mác cũng đã nghiên cứu vốn thông qua phạm trù “tư bản” và đã đi
đến kết luận: vốn là phạm trù kinh tế. Ngày nay cùng với sự phát triển, vốn
không những là yếu tố quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của
các nước có nền kinh tế phát triển mà còn là yếu tố khan hiếm đối với các
quốc gia đang và kém phát triển trên thế giới. Vì vậy, phạm trù “vốn” luôn
được các nhà kinh tế học hiện đại quan tâm nghiên cứu và họ đã đưa ra những
khái niệm về vốn như:
- “Vốn” là một loại nhân tố “đầu vào” đồng thời bản thân nó lại là kết quả
“đầu ra” của hoạt động kinh tế.
- “Vốn” là tiền bỏ ra lúc đầu, dung trong sản xuất kinh doanh nhằm sinh lời.
Ngoài ra vốn còn được định nghĩa là khoản tích lũy, tức là một phần thu
nhập chưa được sử dụng và vốn cũng bao gồm các khoản máy móc, thiết bị,


nhà xưởng, các công trình hạ tầng, các loại nguyên liệu, các sản phẩm trung
gian, các thành phẩm,… Các loại vốn vô hình ( các bằng phát minh, sánh chế,
vị trí kinh doanh, thương hiệu,…) không tồn tại dưới dạnh vật chất nhưng có
giá trị kinh tế và cũng là yếu tố vốn cần thiết cho quá trình phát triển. Tóm lại,
chúng ta có thể cho rằng “vốn” là khoản tiền được đưa ra trong quá trình sản
xuất kinh doanh dưới dạng tài sản nhằm sinh lời, góp phần đẩy mạnh tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Trong quá trình hoạt động của nền kinh tế, vốn
luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất cũng như từ hình thái vật
chất này sang hình thái tiền tệ và ngược lại.


Tín dụng
Xuất phát từ chữ Latinh Creditum, thuật ngữ “tín dụng” có nghĩa là tin

tưởng, tín nhiệm, trong tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngôn ngữ dân gian Việt
Nam tín dụng có nghĩa là có sự vay mượn có tín nhiệm, tin tưởng nhất định.
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế
hàng hóa, phản ánh mối quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế
theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo
đảm tiền vay. Tín dụng ra đời tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Khi
chế độ tư hữu hóa về tư liệu sản xuất xuất hiện, đồng thời xuất hiện quan hệ
trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay
mượn bằng hiện vật- hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển sanh hình thức
vay mượn bằng tiền tệ.
Theo đại từ điển kinh tế thị trường thì “tín dụng là những hành động vay
vốn bán chịu hàng hóa giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng không
phải là hành động vay tiền đơn giản mà là họat động vay tiền có điều kiện, tức
là phải có bồi hoàn và thanh toán lợi ích. Tín dụng là hình thức đặc thù vận
động giá trị khác với lưu thông hàng hóa đơn thuần. Vận động giá trị dẫn đến
phương thức mượn tài khoản bồi hoàn và quá trình thanh toán”.


Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát
triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một dòi hỏi cần
thiết khách quan của nền kinh tế. Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh
trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tín dụng không
chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực
thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế.
Nghiên cứu tín dụng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Các
Mác đã chỉ rõ bản chất của tín dụng:
Một là: Xuất hiên sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị từ
chủ thể cung tín dụng sang chủ thể cầu tín dụng.
Hai Là : sự chuyển nhượng quền sử dụng một lượng giá trị trong khoảng
thời gian xác định và mang tính tạm thời.
Ba là : chủ thể cầu tín dụng phải hoàn trả gốc và lãi cho chủ thể cung tín
dụng.
Biểu hiện ra trên bề mặt xã hội của quan hệ tín dụng là sự vận động của
lượng giá trị vốn tín dụng, qua các giai đoạn phân phối vốn tín dụng, sử dụng
vốn tín dụng và hoàn trả vốn tín dụng. Sự vận động của lượng giá trị tín dụng
khi quay về điểm xuất phát luôn đảm bảo giá trị và giá trị gia tăng thêm, dưới
hình thức lợi tức, thông qua cơ chế điều tiết lãi suất. Tính hoàn trả của tín
dụng là cơ sở khoa học để phân biệt pham trù tín dụng với phạm trù kinh tế
khác.
 Tín dụng hộ nông dân
Theo nhà khoa học Lê Đinh Thắng (1993): Hộ nông dân là tế bào kinh tế
xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn.
Theo giáo trình “Kinh tế hộ nông dân”, nhà xuất bản Nông nghiệp, 1996:
Hộ gia đình nông dân (hộ nông dân) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích
kinh tế, các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động,


…) được góp vốn chung, cùng chung một ngân sách, cùng chung sống dưới
một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hướng phần thu thập và mọi quyết
định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia
đình.
Tác giả Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Hộ nông dân là những hộ chủ
yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá
và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Theo những khái niệm và quan điểm trên đây của các tác giả, chúng tôi
nhận thức rằng:
Hộ nông dân là những hộ gia đình sống ở nông thôn, là một đơn vị kinh
tế cơ sở, cùng chung tài sản và các điều kiện sản xuất, chủ yếu hoạt động
nông nghiệp theo nghĩa rộng và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn;
Để đáp ứng nhu cho nhu cầu sản xuất kinh doanh theo hướng hàng hóa
quy mô lớn hầu hết các hộ nông dân đều có nhu cầu vay vốn tín dụng. vốn tín
dụng của hộ nông dân bao gồm vốn tín dụng chính thức bán chính thức và phi
chính thức.
Tín dụng hộ nông dân là mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng và
hộ nông dân, tổ chức tín dụng sẽ cung cấp vốn cho khách hàng (hộ nông
dân) để hoạt động sản xuất kinh doanh nếu khách hàng hội đủ được các
điều kiện của tổ chức tín dụng và thỏa mãn các điều kiện được kí kết
trong hợp đồng kí kết giữa hai bên.
2.1.1.2. Nguồn vốn tín dụng chính thức
 Khái niệm
Nguồn vốn tín dụng chính thức là hệ thống tín dụng thường thấy giữa
các cá nhân và các tổ chức tín dụng được pháp luật thừa nhận và hoạt động
dưới sự quản lý của pháp luật.
 Nguồn vốn tín dụng chính thức


Hiện nay nguồn cung tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn nước ta bao
gồm tín dụng chính thức (TDCT) và tín dụng phi chính thức, trong đó TDCT
ngày càng phát triển, thể hiện ở tính đa dạng, nhiều thành phần sở hữu, và mở
rộng về quy mô. Mạng lưới TDCT bao gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn (NHNN&PTNT), Ngân hàng Phục vụ người nghèo (nay đổi
tên là Ngân hàng Chính sách Xã hội), Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND),
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển. Song tổ chức tín dụng chủ lực vẫn là NHNN&PTNT, Ngân hàng Chính
sách (NHCSXH), QTDND. Đây là những chủ thể gắn bó với nông dân, nông
nghiệp, nông thôn; có bề dày kinh nghiệm trong hoạt động huy động và cho
vay tín dụng phát triển kinh tế ở khu vực này.
 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NHNN&PTNT được thành lập theo pháp lệnh ngân hàng tháng 11/1990
đây là tổ chức tín dụng chủ yếu hoạt động ở khu vực nông thôn
NHNN&PTNT có mạng lưới rộng (cuối quý III/2004, có gần 200 chi nhánh
và phòng giao dịch trong phạm vi toàn quốc, có thị trường và khách hàng
truyền thống đó là thị trường nông thôn, với đối tượng phục vụ là trên 10 triệu
hộ sản xuất và hàng vạn doanh nghiệp trên khắp mọi miền đất nước). Hiện
nay với vai trò là một ngân hàng quốc doanh lớn ở Việt Nam, NHNN&PTNT
thực hiện cung cấp các dịch vụ của một ngân hàng hiện đại, đa năng, đặc biệt
trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Trong những năm qua với những nỗ
lực hết mình, NHNN&PTNT Việt Nam đã vươn lên trở thành một kênh hoạt động
và đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, đóng góp một phần quan
trọng đưa nền nông nghiệp nước ta đạt được những thành tựu vượt bậc.


Ngân hàng phục vụ người nghèo (nay đổi tên thành Ngân hàng chính

sách xã hội).
Ngân hàng phục vụ người nghèo được thành lập theo quyết định số
525/QĐTTG ngày 31/08/1995 của thủ tướng chính phủ và quyết định số


230/QĐ ngày 01/09/1995 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đến
đầu năm 2003, Ngân hàng phục vụ người nghèo đổi tên thành Ngân hàng chích
sách xã hội (NHCSXH). NHCSXH có trung tâm điều hành ở các tỉnh, huyện,
các bộ phận chuyên trách của NHNN&PTNT làm dịch vụ cho NHCSXH. Việc
xét duyệt cho vay và thu hồi vốn được thực hiện thông qua ban xóa đói giảm
nghèo ở địa phương, Hội nông dân, Hội phụ nữ,… mức vốn cho một hộ vay
khoảng từ 1 – 5 triệu đồng, lãi suất 0,5%/tháng. Lượng vốn hàng năm NHCSXH
đã cho 3,77 triệu lượt hộ nghèo vay vốn, với tổng số tiền là 4,98 ngàn tỷ đồng.
Nhờ đó nhiều hộ nghèo đã có vốn để mua sắm vật tư, phương tiện sản xuất tăng,
thu nhập ổn định cuộc sống.
2.1.2 Đặc trưng vốn tín dụng nông thôn
Trải ra trên địa bàn rộng lớn, số lượng khách hàng đông đảo vừa thúc
đẩy quá trình huy động, cho vay vốn, vừa cản trở quá trình này.
Chủ thể tham gia hoạt động cung vốn trên thị trường tín dụng nông thôn
là trung gian tài chính, các tổ chức tín dụng trên địa bàn nông thôn, song chủ
lực vẫn là NHNN&PTNT, NHCSXH; chủ thể cầu vốn tín dụng chủ yếu là
nông dân, một phần là các chủ thể sản xuất kinh doanh ngành nghề phi nông
nghiệp.
Lãi suất đa dạng, phong phú; vừa tuân thủ lãi suất kinh doanh theo mục
tiêu lợi nhuận vừa tuân thủ lãi suất ưu đãi của Chính phủ dẫn đến cơ chế điều
hành lãi suất tín dụng trên thị trường tín dụng nông thôn không đồng nhất.
Đối tượng vay vốn trên thị trường tín dụng nông thôn đa số là hộ gia
đình sản xuất nông nghiệp, được phân chia theo vùng, tiểu vùng, địa phương,
tùy từng loại đất,… dẫn đến số lượng khoản vay vốn tín dụng lớn, nhưng vốn
vay nhỏ; thủ tục cho vay rườm rà, phức tạp và nhiều tầng nấc.
Hoạt động của thị trường tín dụng nông thôn không tách rời hoạt động
của thị trường tài chính, chịu sự chi phối của hàng loạt các chính sách điều
tiết vĩ mô; tuân thủ theo pháp luật.


2.1.3 Vai trò vốn tín dụng đối với nông thôn


Góp phần đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất,

công nghệ để phát triển kinh tế nông thôn.
Tại khu vực nông thôn hiện nay, số hộ dân khá đang giàu lên chiếm tỷ lệ
ngày càng cao do có trình độ sản xuất kinh doanh, tiếp thu được tiến bộ khoa
học kỹ thuật, họ có vốn là điều thiết yếu ban đầu cho quá trình sản xuất và
nắm bắt nhanh nhạy thị trường, họ quyết định được sản xuất cái gì, sản xuất
cho ai và sản xuất như thế nào, để mang lại hiệu quả cao nhất, ngược lại, có
những hộ không có kinh nghiệm, kinh doanh không có hiệu quả dẫn đến lỗ,
hoặc có ruộng đất quá ít so với nhu cầu của hộ hoặc thiếu vốn cho quá trình
sản xuất. Trong mọi trường hợp, đồng vốn tín dụng của ngân hàng giúp hộ có
khả năng giải quyết được khó khăn trong sản xuất kinh doanh và góp phần
tăng thu nhập cho hộ. Quy mô sản xuất của hộ càng lớn, thì càng có khả năng
đững vững hơn trong cạnh tranh, Bởi lẽ kho có vốn, người nông dân có thể áp
dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, tăng sản lượng, tăng
tỷ trọng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó, họ có khẳ năng dễ
dàng trong việc tích tụ và tập trung vốn.


Tạo cho người dân không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, tăng cường

hoạch toán kinh tế, lập kế hoạch sản xuất.
Hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất kinh doanh lời ăn lỗ chịu.
Do vậy bắt buộc bản thân hộ gia đình muốn phát triển thì phải đáp ứng được
những yêu cầu mới. Trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển
đòi hỏi người nông dân phải không ngừng nâng cao trình độ của mình.Kết
quả cuối cùng đã ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân và gia đình họ. Vì vậy
ngoài việc hăng say lao động, họ phải áp dụng những quy trình kỹ thuật mới
vào sản xuất để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.


Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông đẩy nhanh tốc độ lưu
thông hàng hóa, đẩy nhanh các giai đoạn biến hóa hình thái của hàng hóa sản
phẩm. Đẩy nhanh tốc độ lưu thông của tiền, giảm bớt khối lượng tiền tệ cần
thiết cho lưu thông, giảm bớt dự trữ bằng tiền mặt, đẩy nhanh được quá trình
tái sản xuất nói chung.


Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn là một hệ thống nhất của 3 ngành: nông nghiệp, công

nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Ba ngành kết hợp với nhau và có
mối quan hệ qua lại chặt chẽ tạo thành cơ cấu kinh tế nông thôn. Theo quan
điểm hệ thống thì bất cứ một hệ thống nào cũng luôn thay đổi từ trạng thái
này sang trạng thái khác thể hiện thông qua sự biến đổi về lượng dẫn đến sự
thay đổi về chất. Đối với cơ cấu kinh tế nông thôn, sự chuyển dịch hay thay
đổi của 3 ngành trên theo chiều hướng khác nhau sẽ làm cho cơ cấu kinh tế
thay đổi. Một sự thay đổi cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo ra động lực cho nền
kinh tế phát triển. Để tạo ra sự thay đổi hợp lý đó, tín dụng có vai trò rất quan
trọng. Vai trò của tín dụng thể hiện theo hai chiều hướng:
- Theo hướng thứ nhất: Việc tăng đầu tư các nguồn vốn trong đó có tín
dụng vào lĩnh vực công nghiệp - tiều thủ công nghiệp và dịch vụ sẽ làm cho
bản thân hai ngành đó phát triển, nó sẽ thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển
theo xu hướng sản xuất hàng hoá. Nông nghiệp hàng hóa phát triển lại thúc
đẩy công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển hơn nữa. Khi đầu
tư tăng, giá trị của cả ba ngành trên đều tăng, nhưng trong nông nghiệp đất đai
chỉ có giới hạn, khả năng tăng năng suất sinh học cũng chỉ có giới hạn nên
nông nghiệp có xu hướng phát triển chậm hơn so với 2 ngành còn lại. Kết quả
là cơ cấu kinh tế nông thôn đã được thay đổi theo chiều hướng tăng tương đối
giá trị của ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ và giảm tương
đối giá trị của ngành nông nghiệp.


- Theo hướng thứ hai: Nếu tăng các nguồn vốn đầu tư, trong đó có nguồn
vốn tín dụng vào lĩnh vực nông nghiệp theo hướng phát huy thế mạnh của
tổng vùng, tổng loại cây trồng vật nuôi theo hướng tăng năng suất và hiệu quả
kinh tế sẽ dẫn đến cơ cấu ngành nông nghiệp thay đổi. Cơ cấu ngành nông nghiệp
thay đổi sẽ là cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý.
Trong giai đoạn hiện nay, việc dẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nhằm phát triển nông thôn nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, hợp tác hoá và dân chủ hoá là một trong những chủ trương của
Đảng và Nhà nước ta, “phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dung nông thôn
mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định kinh tế xã hội”.
Xét trên quy mô cả nước thì cơ cấu về giá trị sản xuất nông nghiệp trong
những năm qua thay đổi ít, trồng trọt và chăn nuôi chiếm 78%, thuỷ sản
chiếm 15%, lâm nghiệp chiếm 7%. Như vậy, sản xuất lâm nghiệp chưa phát
triển phù hợp với quỹ đất đai vốn có của nó.
Trong nông thôn, mặc dù sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn còn nhiều
điểm bất hợp lý, nhưng bằng các chính sách về tín dụng của Nhà nước và
sự đầu tư từ các nguồn vốn khác đã góp phần làm cho cơ cấu nông thôn nói
chung và cơ cấu nông nghiệp nói riêng thay đổi theo hướng tích cực. Thể
hiện như tỷ trọng GDP trong nông nghiệp giảm từ 38,7% xuống 25%, công
nghiệp tăng từ 22,7% lên đến 43,5%, dịch vụ tăng từ 38,6% lên đến 40,5%
năm 2004.


Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn
Trong phát triển kinh tế nông thôn, vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng

nông thôn có một ý nghĩa rất lớn. Thực tế đã kiểm nghiệm, nơi nào có cơ
sở hạ tầng phát triển thì nơi đó có nền kinh tế phát triển. Do đó việc đầu
tư để xây dung cơ sở hạ tầng nông thôn phải đi trước một bước so với các
lĩnh vực khác. Trong những năm qua, bằng nguồn vốn của Chương trình


135 của Nhà nước xã được đầu tư để xây dựng các cơ sở hạ tầng như
đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, điện, hệ thống thông tin liên lạc, trụ
sở làm việc chính của chính quyền, trạm y tế,… Đây là những tiền đề
quan trọng cho địa phương xây dựng chiến lược và thực hiện kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội của huyện trong dài hạn.


Giải quyết tình trạng đói nghèo
Trong giải quyết vấn đề đói nghèo ở nông thôn, giải pháp tín dụng

được coi như một “cái phao”, một trong những cách tốt nhất giúp cho
người nghèo có thể cải thiện được điều kiện cuộc sống, có thể thoát khỏi
tình trạng nghèo đói. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo
đói ở nông thôn: thiếu ruộng đất, thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất,
thiếu vốn, lười lao động, hoặc gặp phải rủi ro thiên tai, bệnh tật…nhưng
một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo đói là do thiếu vốn,
thiếu hiểu biết làm ăn. Nếu có vốn người nghèo có thể đầu tư vào các yếu
tố sản xuất như: Phân bón, thuốc trừ sâu, công cụ sản xuất, giống vật nuôi
cây trồng tốt, thức ăn chăn nuôi, xây dung chuồng trại chăn nuôi…tất cả
những điều kiện trên sẽ tạo cho người nghèo có thể mở rộng được quy mô
sản xuất, sử dụng các nguồn lực trong gia đình hiệu quả hơn, tạo việc làm
và tăng thu nhập cải thiện cuộc sống, các điều kiện về ăn, mặc, ở, chăm
sóc y tế cũng được nâng cao, con cái họ và chính họ có điều kiện học tập
tốt hơn. Đó là những cơ sở giúp cho người nghèo tiếp cận được với những
tiến bộ khoa học kỹ thuật và áp dụng chúng vào cuộc sống, nâng cao hiệu
quả sản xuất.


Vai trò của tín dụng đối với sự phát triển văn hoá, y tế, giáo dục
Tín dụng và các nguồn đầu tư cho nông thôn còn bao gồm các khoản đầu

tư cho giáo dục, y tế, văn hoá. Đây là chiến lược đúng đắn nhằm phát triển
nguồn nhân lực nông thôn cả về thể lực và trí lực phục vụ tốt cho công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Trong những năm qua,


Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều ngân sách cho phát triển cơ sở hạ
tầng của giáo dục, y tế, văn hóa bằng các hoạt động cụ thể như: Kiên cố hoá
trường lớp, trạm y tế, xoá mù chữ, đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc y tế, các
hoạt động văn hoá thể thao,… Sự đầu tư cho các lĩnh vực này sẽ gián tiếp
thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
2.1.4 Phân loại vốn tín dụng nông thôn
Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy vào góc độ xem xét, tuy
vậy cách phân loại dựa theo thời gian, mục đích, tính chất và nguồn gốc cung
cấp tín dụng là những cách phân loại tín dụng phổ biến nhất đặc biệt là trong
tín dụng nông thôn.
 Theo thời hạn tín dụng
Nếu chú ý đến thời hạn của khoản nợ thì tín dụng có thể được phân
thành tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn.
Theo quy định hiện hành, nội dung cụ thể của phân loại tín dụng trong
kinh doanh nông nghiệp và phát triển nông thôn về thời hạn là:
- Tín dụng ngắn hạn: Là những khoản tín dụng có thời hạn trong vòng 1 năm
như tín dụng theo tháng ( 0 – 3 tháng), theo vụ ( 3 – 9 tháng)…
Tín dụng ngắn hạn dùng để bổ sung vốn lưu động, chi phí sản xuất; thời
hạn cho vay theo chu kỳ sản xuất, lưu thông, dịch vụ…
-Tín dụng trung hạn (1 – 3 năm): Thường là những khoản vay để nuôi đại gia
súc, trồng cây lưu gốc, đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học
vào sản xuất….
-Tín dụng dài hạn: Thời hạn của tín dụng dài hạn là trên 3 năm. Tín dụng dài
hạn trong nông nghiệp dùng để trồng và chăm sóc cây dài ngày, cây lâm
nghiệp, chăn nuôi gia súc cơ bản, mua sắm tàu thuyền, máy móc thiết bị sản
xuất, chế biến nông – lâm – thủy hải sản, mở rộng cơ sở sản xuất….
 Theo mục đích của khoản nợ


Căn cứ vào mục đích của nợ cũng có những điểm giống như thời hạn
vay. Tín dụng ngắn hạn nói chung được dùng để cung cấp “đầu vào” cho sản
xuất hàng năm. Tín dụng trung hạn dùng bổ sung tư liệu sản xuất nhỏ, còn tín
dụng dài hạn để mua sắm tài sản cố định hoặc thuê hay mua bất động sản.
Mục đích tín dụng thường có quan hệ chặt chẽ với thời hạn tín dụng.
Đây là cách phân loại dễ hiểu nhất vì mỗi khoản vay đều được gắn cho
một loại mục đích sử dụng. Những mục đích thông thường là:
- Vay sản xuất (ngắn hạn, trung hạn): Là những khoản vay để mua các yếu tố
“đầu vào” cho sản xuất, trang trải chi phí sản xuất, đổi mới công nghệ sản
xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nuôi đại gia súc….
- Vay để hình thành tài sản cố định (dài hạn): Là những khoản vay để mua
máy móc, thiết bị, trồng cây lâu năm, nuôi gia súc cơ bản…. Đây là những
khoản vay nhằm tạo ra tài sản cố định trong các cơ sở kinh doanh nông
nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng trong phân tích lợi nhuận của những loại tín
dụng hoặc theo từng món nợ cũng như cung cấp các thông tin khác trong
đánh giá tài chính.
 Theo mục đích sử dụng vốn vay
Tín dụng sản xuất, lưu thông hàng hóa: Đây là những khoản vay để phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp hay trong lưu thông hàng
hóa như buốn bán dịch vụ và thương mại.
Tín dụng tiêu dùng: Là những khoản vay dùng để xây dựng nhà cửa mua sắm…
Qua mục địch sử dụng vốn có thể đánh giá được hiểu quả của từng loại
tín dụng.
Theo tính chất mức độ tín nhiệm
Nếu căn cứ vào tính chất bảo đảm an toàn của khoản vay, có thể chia tín
dụng thành 2 loại:
- Tín dụng có bảo đảm an toàn là loại vay dựa trên cơ sở các đảm bảo cho
tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba


- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là loại vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ 3 mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng để quyết định việc vay mượn.
Khi có bảo đảm, chúng được thế chấp bằng một lượng tài sản có thể
chuyển đối thành tiền như máy móc, gia súc, sản phẩm…. Đối với những
khoản nợ dài hạn chúng thường được bảo đảm bằng bất động sản. Khi thế
chấp, các giấy tờ của tài sản thế chấp được giao cho người cho vay trong thời
hạn bảo đảm khoản tiền vay.
Theo hình thức biểu hiện vốn vay
- Tín dụng bằng tiền: Là những khoản vay bằng tiền.
- Tín dụng bằng hiện vật: Là những khoản vay bằng hiện vật như vật tư phục
vụ sản xuất nông nghiệp, cho bảo vệ thực vật….
Phân loại theo hình thức này đa dạng hơn, thuận tiện hơn theo từng mục
đích sử dụng vốn vay, phù hợp hơn với hộ nông dân.
Theo chủ thể quan hệ tín dụng
Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp
dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tổ chức
tín dụng khác với các nhà doanh nghiệp và cá nhân.
Tín dụng Nhà nước: Là quan hệ tín dụng giữa Nhà nước với các tầng lớp
dân cư hoặc với các tổ chức kinh tế - xã hội.
Tín dụng tư nhân, cá nhân: Là quan hệ tín dụng giữa cá nhân và tư nhân
cho vay nặng lãi hoặc giữa cá nhân với nhau.
Tín dụng thuê mua: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp với các tổ
chức tín dụng thuê mua, được áp dụng với các khoản đầu tư vào tài sản cố định.
Theo phương diện tổ chức
Tín dụng chính thống: Là hình thức huy động vốn và cho vay vốn thông
qua các tổ chức tài chính tín dụng chính thống có đăng ký hoạt động công
khai theo pháp luật, hoặc chịu sự quản lý và giám sát của chính quyền nhà
nước các cấp. Các tổ chức tín dụng chính thống bao gồm hệ thống ngân hàng,


kho bạc Nhà nước, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, các công ty tài chính, các
tổ chức đoàn thể xã hội, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ trong
và ngoài nước, các chương trình, các dự án được thực hiện bằng nguồn vốn
tín dụng của chính phủ và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như: Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á
(ADB)…
Tín dụng không chính thống: Là tổ chức tín dụng cho các tổ chức, các cá
nhân nằm ngoài các tổ chức chính thống. Hiện nay có nhiều quan điểm khác
nhau xung quanh vấn đề này. Các nhà kinh tế Đức cho rằng tín dụng không
chính thống là : “Việc huy động các nguồn không thuộc ngân hàng giám sát
như bạn bè, họ hàng, hụi họ…., việc cung ứng vốn phi chính thống không
chịu sự quản lý của Nhà nước nhưng vẫn theo nguyên tắc nhất định”. Hầu hết
các nghiên cứu về tín dụng không chính thống rất phổ biến ở các nước Châu
á. Các nhà kinh tế Inđônêxia cho rằng tín dụng không chính thống là hình
thức tín dụng chưa được thể chế hóa. Ở Việt Nam có tác giả cho rằng tín dụng
không chính thống là hình thức tín dụng hoạt động ngoài khuôn khổ luật định.
Tuy nhiên, hình thức tín dụng này có ý nghĩa to lớn trong việc cung ứng bổ
sung vốn đầu tư cho nền kinh tế, nhất là ở trong nông hộ khi thị trường vốn
chính thống chưa đủ mạnh. Hình thức này bao gồm việc cho vay nặng lãi,
chơi hụi họ, vay mượn bạn bè, người thân….
2.1.5 Hiệu quả sử dụng vốn tín dụng

Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại
và phát triển đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có lãi. Để đạt được kết quả cao
nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các hộ nông dân cần phải đưa ra
phương hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện có sẵn
về các nguồn như: vốn, nguồn nhân tài, vật lực... Muốn vậy, các hộ nông dân
cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng


nhân tố đến kết quả sản xuất. Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân
tích và sử dụng hợp lý các nguồn sẵn có trong hoạt động sản xuất.
Mọi hoạt động kinh tế của hoạt động sản xuất đều nằm trong thế liên
hoàn với nhau. Bởi vây, chỉ có tiến hành phân tích hoạt động sản xuất nông
nghiệp một cách toàn diện mới có thể giúp cho các hộ nông dân đánh giá đầy
đủ và sâu sắc trong hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng. Trên cơ
sở đó, nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu nó được
biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật- tài chính của các hộ nông dân.
Từ đó, có thể đánh giá đầy đủ mặt mạnh, mặt yếu trong việc lập kế hoạch sản
xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn tín dụng.
2.1.6.1 Các yếu tố ngoại sinh.
- Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Vị trí địa lí của vùng nông thôn chủ yếu là ở xã trung tâm,
xã đường giao thông,… do vậy làm hạn chế việc chủ thể sử dụng vốn tiếp
cận được nguồn vốn và cũng làm khó khăn cho chủ thể cung vốn tới người
cần vốn.
Địa hình: Địa hình có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất như: đồi, núi cao,
dốc hoặc bằng phẳng, gần nguồn nước hay xa nguồn nước có ảnh hưởng đến
việc đầu tư vốn vào sản xuất trong nông nghiệp.
- Cơ chế chính sách
Chính sách của Nhà nước về TDCT là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và
khá rõ nét đối với sự tiếp cận TDCT của hộ nông dân. Bởi vì từ khi có chính
sách tín dụng ưu đãi, tín dụng hỗ trợ phát triển cho các hộ nông dân thì người
nông dân mới có cơ hội để vay vốn đầu tư sản xuất kinh doanh và mở rộng
quy mô sản xuất nhằm nâng cao thu nhập và năng suất lao động cho người lao
động trong nông thôn và từ đó chất lượng cuộc sống của người nông dân dần


được cải thiện. Chính vì vậy mà Nhà nước ngày càng có những chính sách tín
dụng phù hợp hơn cho người dân và đặc biệt là ưu tiên nguồn vốn cho phát
triển nông nghiệp – nông thôn.
- Pháp luật
Phát triển thị trường tín dụng nông thôn phải dựa trên cở sở pháp luật của
Nhà nước, đặc biệt là luật các tổ chức tín dụng. Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật, vì thế mọi hoạt động xã hội đều phải dựa trên cơ sở hệ thống pháp
luật của Nhà nước. Trong lĩnh vực tín dụng, Nhà nước đã ban hàng luật các tổ
chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 đã quy
định rõ về tổ chức, điều hành, nội dung hoạt động quyền lợi, nghĩa vụ và
trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, quản lý Nhà nước đối với các tổ chức
tín dụng. Chính vì thế pháp luật đã góp phần giúp cho các chính sách tín dụng
của Nhà nước được triển khai tốt hơn và có hiệu quả hơn.
Từng bước đẩy mạnh hoạt động cho vay và sử dụng vốn vay có hiệu quả
nguồn vốn vay trong các hộ nông dân nói riêng và trong nông nghiệp, nông
thôn nói chung.
2.1.6.2 Các yếu tố nội sinh
- Trình độ văn hóa của chủ hộ
Trình độ văn hóa của người dân là một yếu tố quan trọng tác động tới sự
tiếp cận nguồn TDCT của người nông dân. Khi người nông dân có văn hóa
càng cao thì nhận thức về việc vay vốn đầu tư phát triển sản xuất và sử dụng
vốn của họ chắc chắn sẽ càng tốt. Từ đó họ sẽ có những tính toán, lập dự án
sản xuất cụ thể và đi đến quyết định vay vốn để sản xuất. Ngược lại, với
những hộ nông dân còn hạn chế về trình độ văn hóa thì họ sẽ rất khó khăn
trong việc tiếp cận với nguồn vốn tín dụng đặc biệt là nguồn vốn TDCT vì để
vay được vốn từ các tổ chức này thì các hộ cần phải làm các thủ tục xin vay
vốn, phải hiểu, viết và ký một số giấy tờ cần thiết. Ngoài ra, các hộ có trình


độ văn hóa thấp thường không tự tin, không dám mạo hiểm đầu tư sản xuất,
luôn sợ rủi ro.
- Giới tính của chủ hộ
Chủ hộ là nam thường mạnh dạn hơn những chủ hộ là nữ. Nam giới quyết
đoán và mạo hiểm hơn, dám làm dám chịu. Nữ giới thận trọng hơn và có quan
điểm lấy công làm lãi, không dám mạo hiểm mở rộng sản xuất. Đặc biệt là
trong nông thôn hiện nay ở một số nơi vẫn còn tồn tại tư tưởng “trọng nam
khinh nữ” nên người phụ nữ trong gia đình không được coi trọng trong nhiều
lĩnh vực, họ không có quyền quyết định có nên vay vốn hay không để sản
xuất. Như vậy chủ hộ là nữ thường khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn
vốn TDCT so với những chủ hộ là nam.
- Điều kiện kinh tế của hộ
Những hộ giàu và trung bình thường vay vốn nhiều hơn hộ nghèo thậm chí
họ còn thường xuyên vay vốn để sản xuất kinh doanh. Với những hộ có điều
kiện kinh tế, họ có tài sản giá trị để thế chấp vay vốn. Ngược lại với những hộ
đã nghèo phần vì không có tài sản thế chấp giá trị để vay thì họ sẽ không
được vay vốn. Mặc khác các hộ nghèo thường hay mặc cảm, họ sợ vay vốn
mà không làm ăn được sẽ không trả được nợ.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng sử dụng vốn tín dụng ở một số nước trên thế giới
Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt khó bằng cách
nuôi sống các hoạt động tạo thu nhập. Trong nhiều thập niên qua chiến lược
phát triển của các nước đang phát triển dành nhiều ưu tiên cho các chương
trình xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Một trong nội
dung chính là cung cấp dịch vụ tài chính có chi phí phù hợp với kỹ năng của
người nông dân nông thôn để tăng sản xuất, tăng thu nhập và nhờ đó vượt ra
khỏi vòng đói nghèo .


Bangladesh


Chỉ có Grameem bank là tổ chức tín dụng duy nhất làm dịch vụ Ngân
hàng ở nông thôn. Hoạt động của Grameen Bank được quốc hội Bangladesh
thông qua thành một bộ luật riêng. Giấy phép hoạt động do ngân hàng nhà
nước cấp theo quy chế riêng, không áp dụng quy chế của các ngân hàng
thương mại ở Bangladesh.
Về mạng lưới hoạt động Grameen Bank có trụ sở chính đặt tại thủ đô
datka và các văn phong đại diện, các chi nhánh tại các bang, vùng, mỗi chi
nhánh phục vụ từ 12 đến 22 làng với số nhân viên toàn hệ thống 13000 người.
Về vốn điều lệ có 150 triệu kata (3.75 triệu USD) trong đó vốn góp cổ
phần của nhà nước 18 triệu Kata, phần còn lại là vốn cổ phần của các cổ đông
và phát hành trái phiếu.
Người vay vốn tự nguyện tập hợp nhóm 5 người và tự quyết định cho 2
người vay, 2 người trả xong nợ đến 2 người tiếp theo. Trưởng nhóm vay cuối
cùng khi các thành viên trả xong nợ. Các nhóm hoạt đọng trong khuân khổ
một trung tâm mỗi trung tâm tối đa 10 nhóm. Hàng tuần trưởng trung tâm chủ
trì cuộc họp để phổ biến thực hiện các vấn đề xã hội: Xóa mù chữ kế hoạch
gia đình, vệ sinh môi trường … Nhân viên Grameen Bank sẽ tiến hành các
giao dịch cho vay, thu nợ và huy động tiết kiệm tại các cuộc họp này. Việc
cho vay không đòi hỏi phải có tài sản thế chấp và trả góp nên rất phù hợp với
các hộ nghèo ở cùng nông thôn Bangladesh.


Trung Quốc
Trung Quốc hiện nay có 1,3 tỷ dân, trong đó số dân sống ở các vùng

nông thôn rất đông chiếm khoảng 70% dân số. Vì vậy, nông nghiệp đóng một
vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội
của Trung Quốc. Sau 30 năm cùng với tiến trình cải cách mở cửa (1978 –
2008), nền nông nghiệp Trung Quốc đã có nhiều thay đổi, phát triển theo
hướng hiện đại hóa và bền vững. Trước tình trạng giá lương thực trong nước


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×