Tải bản đầy đủ

Bao cao phu gia

1. Phương pháp iod:
1.1.
Nguyên tắc:
Mẫu thực phẩm sau khi được xử lý phải khử tạp, thủy
phân, cho tác dụng với một lượng dư thuốc thử F.A và
F.B để sinh ra một lượng Cu2O tương đương, hòa tan
lượng Cu2O tương đương này bằng một lượng dư dung
dịch HCl để sinh ra lượng clorua bậc 1 tương đương.
Toàn bộ lượng clorua bậc 1 này được tác dụng chính xác
với một lượng dư ở Iod ở pH = 3,8 ÷ 4,2. Chuẩn độ
lượng I2 dư bằng dung dịch natrithiosulfat với chỉ thị hồ
tinh bột. điểm cuối chuẩn độ nhận được khi dung dịch
mất màu xanh đen có màu của Cu2+. Áp dụng định luật
đương lượng với các thông số ban đầu để tính toán kết
quả.
Phương trình phản ứng:
R-CHO + Cu2+ RCOO- + Cu2O↓ + H2O
Cu2O + 2HCl  2CuCl + H2O
Cu+ + I2 S4O62- + 2I2(xanh đen)
1.2.


(xanh Cu2+)
Điều kiện xác định:


Điều kiện mẫu: Mẫu phải được tiến hành đồng nhất, khử
tạp hoặc thủy phân theo những điều kiện của quy trình
phân tích.
Điều kiện lượng cân: tính toán sao cho dung dịch chuẩn
I2 0,1N 10ml phải dư 2 – 5ml.
Điều kiện hóa chất:
F.A và F.B: thành phần và lượng như nhau nhưng tính
toán khác nhau
Cu2O là một oxit có tính khử và là một oxit bazơ
Là một phản ứng trung hòa nên phải dùng axit có tính
khử để khi kết tủa hòa tan rồi Cu phải là Cu2+.
Trong thực tế người ta phải dùng HCl 10% để hòa tan
tủa. Khi hòa tan tủa lượng axit không được dư nhiều vì
mất một công đoạn trung hòa rất lâu. Để khắc phục hiện
tượng này khi hòa tan tủa thấy tan hết ta cho thêm 1ml
HCl rồi dừng.
Khi trung hòa xong, nâng pH lên ta dùng soda mà không
dùng NaOH, NH3 vì Cu sẽ tạo phức, phản ứng sẽ xảy ra
theo chiều nghịch. Khi cho soda tác dụng với HCl giải
phóng tạo thành một bầu khí quyển ngăn không cho oxi
xâm nhập vào.


I2 không bền nhiệt, ánh sáng nên nồng độ iod khó ổn định
do đó phải chuẩn độ trước khi sử dụng (chuẩn hóa
Na2S2O3 bằng K2Cr2O7 sau đó chuẩn hóa iod). Cho Iod
vào phải dư.
Điều kiện kết tủa Cu2O:
pH kết thủa phải lớn hơn 10 ( pH = 13 ÷ 14)
loại trừ triệt để oxi hòa tan bằng cách: mẫu + F.A + F.B
phải đun sôi ít nhất 2 phút, nếu thấy không có hiện tượng
kết tủa nào chứng tỏ trong mẫu không có đường hoặc có
đường hungg không phải đường khử hoặc hóa học mà là
đường ozit. Ta cho mẫu vào F.A và F.B không cho ngược
lại vì trong mẫu có đường sẽ sinh ra phản ứng kết tủa Cu+
(cho 10ml F.A + 10ml F.B).
F.A + F.B phải dư để đảm bảo số đương lượng gam của
Cu2O = số đương lượng gam của R-CHO
Cu2O là một kết tủa tinh thể, mịn, màu đỏ gạch, khử
mạnh. Vì khử mạnh nên không dễ tiếp xúc với không khí
và rút ngắn thời gian lọc và rửa tủa để tránh nguy cơ
Cu2O tiếp xúc với không khí, nên ta lọc kết tủa luôn luôn
bảo vệ bằng một lớp nước trên bề mặt, khi hoàn tất kết
tủa phải gom về 1 góc.


Điều kiện hòa tan tủa: thời điểm chỉ được phép hòa tan
sau khi đun thấy kết tủa 3 phút, ít nhất 5 phút. Vì trong
thời gian để yên kết tủa vẫn hình thành.
Điều kiện chuẩn độ:
Dùng kỹ thuật chuẩn độ ngược vì vậy phải đảm bảo
lượng iod phải dư (căn cứ vào màu nâu). Nếu có màu nâu
thì iod dư, còn không có màu nâu hoặc vàng nhạt thì
chứng tỏ ít.
Trong phương pháp này cả 2 chất natrithiosulfat và iod
không có độ tin cậy nên phải chuẩn hóa lại.
Sau khi cho dung dịch iod vào phải chuẩn ngay không để
lâu (dung dịch thiosulfate phải nạp sẵn trên buret, mở
buret tối đa đến màu giảm tới vàng chanh thì chuẩn từng
giọt. Chuẩn càng nhanh càng tốt. Khi dung dịch từ màu
xanh đen qua màu xanh da trời của Cu2+ thì dừng lại).
1.3.
Hóa chất – dụng cụ:
1.3.1. Hóa chất:
Dung dịch CuSO4
Dung dịch HCl
Dung dịch Fehling A
Dung dịch Fehling B


Dung dịch Na2CO3
Dung dịch I2
Dung dịch K2Cr2O7
Dung dịch Na2S2O3
1.3.2. Dụng cụ:
Dụng cụ thủy tinh thông thường
1.4.
Mẫu

Để yên 10
phút

Kiểm tra có còn
lượng acetate
chì hay không

Quy trình xác định:
Nghiền
nhuyễn

2 giọt PP 0,1%

Loại acetate
chì dư bằng
Na2HPO4

Nếu không,
định mức
100ml

Loại tạp chất
bằng acetate
chì 10%

Lọc

Chỉnh pH = 6,5 ÷ 7

Trích ly nhiều
lần bằng nước
cất nóng

Dung dịch 1


50ml Dung 20ml HCl 5%
dịch 1

v

Đun cách
thủy 15 phút

Định mức
100ml

Dung dịch 2

F.A + F.B

Đun sôi

Làm nguội
nhanh

Trung hòa
bằng NaOH
0,1%

Tiếp tục đun HCl 5%
thêm 3 phút

Trung hòa
HCl dư
bằng
NaHCO3

Dung dịch
Iod 0,1N +
HTB

Tính toán
kết quả

1.5.

Màu xanh
Cu2+

Tính toán:

%đường = mĐgđường[

Chuẩn iod dư bằng
natrithiosulfat 0,1N


Trong đó:
m: khối lượng mẫu (g)
f: hệ số pha loãng
F: hệ số chuyển đổi khối lượng
2. Phương pháp sắc ký giấy:
2.1.
Định nghĩa:
Phương pháp sắc ký giấy, cũng như phương pháp sắc ký lớp mỏng,
được áp dụng trong kiểm nghiệm chất lượng thuốc để định tính,
thử tinh khiết, bán định lượng và định lượng.
Sự tách các chất bằng phương pháp sắc ký giấy dựa chủ yếu trên
sự khác nhau về hệ số phân bố của chúng giữa hai pha lỏng: Một
pha tĩnh và một pha động. Pha tĩnh ở đây là nước có sẵn trong sợi
celulose của giấy, hoặc thành phần thân nước từ hỗn hợp dung môi
của pha động được hút chọn lọc vào giấy. Pha động là một hệ dung
môi thích hợp cho sự tách đã được quy định trong các chuyên luận.
Mức độ di chuyển của một chất được đặc trưng bởi hệ số di chuyển
(Rf) và tính bằng tỷ lệ giữa khoảng cách di chuyển của chất đó và
khoảng cách di chuyển của dung môi:
Rf = a/b.
Trong đó: a là khoảng cách di chuyển của chất phân tích,


b là khoảng cách di chuyển của dung môi.
Giá trị Rf bao giờ cũng nhỏ hơn 1.
Trong trường hợp sắc ký liên tục không còn xác định được giới
tuyến của dung môi, người ta dùng hệ số di chuyển Rr. Rr là tỷ số
giữa khoảng cách di chuyển của chất phân tích và khoảng cách di
chuyển của chất dùng làm chuẩn so sánh. Giá trị Rr có thể nhỏ hơn
hay lớn hơn 1.
2.2. Cách tiến hành:
Chuẩn bị bình sắc ký: Bình sắc ký là những bình thủy tinh hình trụ
hoặc hình hộp dẹt, có kích thước thích hợp, có nắp đậy kín. Nắp có
lỗ ở giữa để lắp bình gạn có khoá đựng dung môi. Trong bình có
các giá để máng đựng dung môi và treo giấy sắc ký được thiết kế
thích hợp cho kiểu sắc ký đi lên hay sắc ký đi xuống.
Chuẩn bị dung môi: Thành phần và tỷ lệ các hệ dung môi được
quy định trong các chuyên luận. Việc trộn các thành phần được tiến
hành trong bình gạn, sau khi lắc đều, để yên. Nếu có tách lớp thì
gạn lấy lớp pha thân nước, thường là lớp dưới, làm dung môi pha
tĩnh để bão hoà giấy sắc ký sau khi đã chấm các chất phân tích, còn
lớp trên dùng làm dung môi pha động. Nếu dung môi không tách
lớp thì dùng chính dung môi đó để bão hoà giấy sắc ký.
Chuẩn bị giấy: Giấy sắc ký là loại giấy đặc biệt dành riêng cho sắc
ký, có bề dày thích hợp. Tuỳ theo kích thước của bình và số lượng
các vết cần chấm mà cắt những khổ giấy hình chữ nhật thích hợp,


chiều dài dọc theo thớ giấy. Chiều rộng phải nhỏ hơn chiều dài của
máng dung môi nhưng không được nhỏ hơn 2,5 cm. Bề dài phải
tính sao cho khi treo giấy vào bình không được để đầu dưới chạm
vào máng dung môi trong khi bão hoà dung môi. Trường hợp bình
sắc ký có hình chuông úp thì giấy phải cuộn tròn và cố định bằng
móc thủy tinh hoặc khâu bằng chỉ. Đường kính của cuộn giấy phải
nhỏ hơn đường kính của đĩa để giấy (sau khi đã bão hoà bình sẽ rót
dung môi vào đĩa này) nhằm tránh giấy chạm vào thành đĩa.
Chấm sắc ký: Kẻ một đường chì mảnh song song với mép giấy
(đường vạch để chấm sắc ký) theo chiều rộng và cách mép giấy 3
cm đối với sắc ký đi lên để sao cho các vết chấm không bị ngập
vào dung môi, 6 cm đối với sắc ký đi xuống để vạch chấm không
trùng với đũa thủy tinh đỡ giấy mà thấp hơn 2 cm khi đặt giấy treo
vào máng ở phần trên của bình.
Dùng micropipet chia độ tới 0,001 - 0,002 ml hoặc mao quản có
dung tích xác định (2 μl; 5 μl; 10 μl) để chấm các dung dịch chất
cần sắc ký thành vết có đường kính không quá 8 mm. Muốn giữ
đường kính của vết chấm nhỏ, phải chấm nhanh nhiều lần, đợi giọt
trước khô mới chấm tiếp.
Lượng chấm và nồng độ dung dịch chất thử được quy định trong
chuyên luận.
Khi chấm nhiều vết trên một dải giấy thì vết chấm nọ phải cách vết
chấm kia ít nhất là 30 mm.


Triển khai sắc ký:
Phương pháp sắc ký đi lên: Rót dung môi làm pha động vào máng
dung môi để được một lớp dung môi cao 2,5 cm, và trong trường
hợp pha tĩnh được chỉ định (là phần tách lớp phía dưới khi trộn hỗn
hợp dung môi) thì rót pha tĩnh vào khe giữa máng dung môi và
thành bình sắc ký. Đậy kín nắp bình, để yên trong 24 giờ ở nhiệt độ
20 - 25oC và duy trì ở nhiệt độ này trong quá trình tiếp theo. Sau đó
treo giấy đã chuẩn bị vào bình, đậy nắp, để yên tiếp 1 giờ 30 phút.
Tiếp theo dùng tay vặn ở ngoài bình để hạ tờ giấy sắc ký vào máng
dung môi sao cho vạch chấm không ngập vào dung môi. Triển
khai sắc ký đến một thời gian hoặc một khoảng cách quy định
trong chuyên luận. Lấy giấy ra, đánh dấu ngay giới tuyến dung môi
và để khô ngoài không khí hoặc làm khô bằng không khí nóng của
máy quạt sấy. Phải chú ý tránh ánh sáng trong suốt quá trình triển
khai. Làm hiện vết bằng cách phun thuốc thử màu thích hợp, hoặc
soi dưới đèn tử ngoại theo quy định của chuyên luận. Tính giá trị Rf
và đánh giá kết quả.
Phương pháp sắc ký đi xuống: Cũng tiến hành tương tự như sắc ký
đi lên, chỉ khác các điểm sau đây:
Rót dung môi làm pha tĩnh vào đáy bình, tạo một lớp cao khoảng 2
cm; đặt giấy vào máng dung môi ở phần trên bình, dùng một đũa
thủy tinh để chèn giấy, gác đầu giấy treo qua đũa thủy tinh để
không cho giấy chạm vào mép máng và chạm vào thành bình. Sau
thời gian ủeồ baừo hoứa bỡnh vaứ giaỏy theo quy định như trên,
rồi pha loãng vào máng đựng dung môi đã pha trên. Thường sắc ký


đi xuống được áp dụng cho các hỗn hợp khó tách và phải chạy sắc
ký liên tục nên phải tính kết quả theo Rr.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×