Tải bản đầy đủ

THỰC TRẠNG sâu RĂNG và một số yếu tố LIÊN QUAN của TRẺ bị TIM bẩm SINH tại một số BỆNH VIỆN ở hà nội

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO RĂNG HÀM MẶT

NGUYỄN THỊ MAI

THỰC TRẠNG SÂU RĂNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA TRẺ BỊ TIM BẨM SINH TẠI
MỘT SỐ BỆNH VIỆN Ở HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP BÁC SĨ RĂNG HÀM MẶT

Giáo viên hướng dẫn:
TS.BS.TRẦN THỊ MỸ HẠNH

HÀ NỘI - 2016



LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này, em
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu và tận tình của các thầy cô và các
bạn đồng khóa.
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Trần Thị
Mỹ Hạnh, cô đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo em trong quá trình học
tập và làm khóa luận.
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Võ
Trương Như Ngọc, TS. Vũ Mạnh Tuấn, ThS. Đặng Thị Liên Hương là những
thầy, cô đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn
thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
-Ban giám hiệu, Viện đào tạo Răng Hàm Mặt, Trường đại học Y Hà Nội.
-Bộ môn Răng Trẻ Em.
-Bệnh viện Nhi Trung Ương, bệnh viện Tim Hà Nội, bệnh viện Bạch Mai.
Đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và
người thân đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất
cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2016
SV. Nguyễn Thị Mai


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CSRM

: Chăm sóc răng miệng

ICDAS

: Tiêu chuẩn phát hiện sâu thân răng nguyên phát

(International Caries Detection and Assessment System)
TBS

: Bệnh tim bẩm sinh (Congenital Heart Disease)

NC

: Nhóm chứng (Control)

RHM

: Răng hàm mặt

SKRM

: Sức khỏe răng miệng

smtmr

: Chỉ số sâu mất trám mặt răng sữa

SMTMR

: Chỉ số sâu mất trám mặt răng vĩnh viễn

smtr

: Chỉ số sâu mất trám răng sữa

SMTR

: Chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn

VSRM

: Vệ sinh răng miệng

WHO

: Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

95% CI

: Khoảng tin cậy 95% (95% Confidence interval)

OR

: Tỷ suất chênh (Odds ratio)


MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất ở Việt
Nam cũng như trên thế giới, theo thống kê của WHO năm 1997 khoảng 90%
dân số mắc bệnh sâu răng 1.
Mặc dù y học ngày càng phát triển, các phương tiện chẩn đoán cũng
như điều trị bệnh sâu răng ngày càng hiện đại nhưng tỷ lệ sâu răng vẫn còn
cao, đặc biệt là sâu răng ở trẻ em. Theo nghiên cứu của Trần Văn Trường và
cộng sự (2001) trên toàn quốc sâu răng sữa xuất hiện thường đạt tỷ lệ cao nhất
lúc 6 - 8 tuổi rồi giảm dần do có sự thay thế sang răng vĩnh viễn, tỷ lệ sâu răng
sữa ở trẻ 6 - 8 tuổi là 84,9%, trẻ 9 - 11 tuổi là 56,3% [2]. Năm 2010, kết quả
điều tra của viện đào tạo Răng Hàm Mặt - trường đại học Y Hà Nội tại 5 tỉnh
thành trong cả nước cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh 4 - 8 tuổi 81,6%
3. Như vậy tỷ lệ sâu răng, đặc biệt là sâu răng sữa vẫn rất cao và chưa có sự
thay đổi đáng kể, gây ra những hậu quả mà khắc phục lại khó khăn.
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn, có thể gây đau, ảnh hưởng đến ăn
uống, học hành, giao tiếp, vui chơi của trẻ, gây tốn nhiều thời gian và tiền
bạc, nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến những biến chứng nguy
hiểm 4.
Sâu răng không những ảnh hưởng tới sức khỏe toàn thân mà còn là
nguyên nhân gây ra các bệnh nội khoa nghiêm trọng, trong đó có bệnh tim
mạch, đặc biệt là tim bẩm sinh. WuT đã giải thích sâu răng gây ra các yếu tố
viêm, tạo thuận lợi hình thành cục máu đông, là nguyên nhân gây bệnh tim
mạch 5. Các nghiên cứu còn cho thấy Streptococcus viridians đặc biệt là
sanguis, mitior, mutans là nguyên nhân gây viêm nội tâm mạc thông qua
đường máu từ môi trường miệng 6, 7, 8, 9. Mà Streptococcus mutans


2
và Lactobacillus là vi khuẩn chủ yếu gây sâu răng đã được chứng minh 10.
Đa số tim bẩm sinh là điều kiện cơ bản để mắc viêm nội tâm mạc nhiễm
khuẩn khi nhổ răng, tiểu phẫu, sâu răng 11.
Bệnh tim mạch vẫn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong của
người bệnh trên toàn thế giới. Tim bẩm sinh mắc khoảng 0,8% trẻ sơ sinh
sống, không khác biệt về giới, chủng tộc hay trình độ phát triển kinh tế - xã
hội, nếu không được điều trị 85 - 95% sẽ chết trước tuổi vị thành niên 12. Ở
Việt Nam theo các báo cáo của viện Nhi tỷ lệ tim bẩm sinh là khoảng 1,5% trẻ
vào viện và khoảng 30 - 55% trẻ vào khoa tim mạch 11. Một số dị tật nhẹ có
thể sửa một cách tự nhiên trong vòng vài ngày hoặc vài tuần sau khi sinh,
trong khi những dị tật khác khác có thể phức tạp và nhanh chóng dẫn đến tử
vong 13. Vì vậy ảnh hưởng của sâu răng và biến chứng lên bệnh nhân tim
bẩm sinh là rất nghiêm trọng và cấp bách nên hiểu biết và chăm sóc sức khỏe
răng miệng cho đối tượng này ngay từ ban đầu rất cần thiết.
Hiện nay, ở Việt Nam, nghiên cứu về sâu răng và bệnh tim mạch trong
đó có tim bẩm sinh còn hạn chế vì vậy em tiến hành nghiên cứu: “Thực
trạng sâu răng và một số yếu tố liên quan ở trẻ bị tim bẩm sinh tại một số
bệnh viên ở Hà Nội”, với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng sâu răng ở nhóm trẻ bị tim bẩm sinh tại một số
bệnh viện ở Hà Nội năm 2016.
2. Nhận xét bước đầu một số yếu tố liên quan tới sâu răng ở đối tượng
nghiên cứu trên.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Bệnh sâu răng
1.1.1. Định nghĩa
Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hóa của răng được
đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần
hữu cơ của mô cứng. Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng
lý hóa liên quan đến sự di chuyển của ion bề mặt giữa răng và môi trường
miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ
của vật chủ [10].
1.1.2. Bệnh căn bệnh sâu răng
Sâu răng được cho là một bệnh đa nguyên nhân, trong đó vi khuẩn
đóng vai trò quan trọng. Ngoài ra còn có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn
uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng không tốt, tình trạng khấp khểnh của
răng, chất lượng men răng kém, nhất là môi trường nước ăn có hàm lượng
Fluor thấp (hàm lượng Fluor tối ưu là 0,7 – 1,2 ppm/lít) đã tạo điều kiện cho
sâu răng phát triển [14], [15], [16], [17].
Từ sau năm 1975, White đã giải thích bệnh căn bệnh sâu răng bằng sơ
đồ White [14].
Bệnh căn bệnh sâu răng được tóm tắt qua sơ đồ White (1975):
• Răng: tuổi, Fluoride, hình thái
răng, các vi tố, độ khoáng hóa,
dinh dưỡng …
• Vi khuẩn: mảng bám răng,
Streptococcus Mutans …
• Chất nền: VSRM, sử dụng
Fluoride, chế độ ăn đường…
• Nước bọt và độ pH.


4

Hình 1.1: Sơ đồ White 1975 [14]
1.1.3. Cơ chế bệnh sinh của bệnh sâu răng
Sinh lý bệnh quá trình sâu răng là do quá trình hủy khoáng chiếm ưu
thế hơn quá trình tái khoáng:
- Sự hủy khoáng: các Hydroxyapatite và Fluorapatite – thành phần chính
của men, ngà bị hòa tan khi pH giảm xuống dưới pH tới hạn, pH tới hạn của
Hydroxyapatite là 5,5, của Fluorapatite là 4,5.
- Sự tái khoáng: quá trình tái khoáng ngược với quá trình hủy khoáng,
xảy ra khi pH trung tính, khi có đủ ion Ca 2+,PO43-trong môi trường miệng.
Nước bọt có vai trò cung cấp các ionCa2+ và PO43- để tái khoáng [15].
Chúng ta có thể tóm tắt quá trình sinh lý bệnh sâu răng theo sơ đồ sau:
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
+ Mảng bám vi khuẩn
+ Chế độ ăn đường nhiều lần
+ Nước bọt thiếu, giảm dòng
chảy nước bọt hay acid
+ Acid từ dạ dày trào ngược
+ Chất nền trung hòa ít
+ Vệ sinh răng miệng kém
Các yếu tố bảo vệ:
+ Nước bọt, dòng chảy nước bọt.
+ Chất nền và sự tái khoáng.
+ Fluor có ở bề mặt men răng.
+ Trám bít hố rãnh.


5

+ Độ Ca2+,PO43-quanh răng.
Hình1.2: Các yếu tố gây mất ổn định và ổn định sâu răng [15]
1.1.4. Sâu răng trẻ em
1.1.4.1. Sâu răng giai đoạn sớm và sâu răng giai đoạn hình thành lỗ sâu
Sâu răng giai đoạn sớm là tổn thương sâu răng ở giai đoạn chưa hình
thành lỗ sâu, là giai đoạn mới chớm của tổn thương ở lớp men. Tổn thương có
thể phát hiện bằng mắt là các vết trăng đục khi răng ướt hoặc khi thổi khô bề
mặt. Giai đoạn này tổn thương có thể hồi phục hoàn toàn bằng tái khoáng hóa
men răng [10].
Sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu, là tổn thương ở lớp ngà. Tổn
thương có thể gặp ở tất cả các mặt răng, tùy thuộc vào độ tuổi hay loại răng [10].
1.1.4.2. Đặc điểm sâu răng trên bộ răng sữa và răng hỗn hợp
Có nhiều nghiên cứu ghi nhận tỉ lệ sâu răng ở hệ răng sữa, tỷ lệ ở tuổi
trước khi đến trường được quan tâm nhiều nhất do mức độ và hậu quả nên cần
được giải quyết ngay [17].
Kiểu phân bố sâu răng của hệ răng sữa rất đa dạng tùy theo tuổi, loại
răng và mặt răng của bệnh nhân. Trình tự sâu răng giảm dần như sau: răng
hàm sữa và răng cửa sữa hàm trên, hiếm hơn là nhóm răng cửa sữa hàm dưới
hoặc mặt ngoài và mặt trong của các răng sữa, trừ trường hợp sâu răng lan nhanh
hoặc sâu răng do bú bình. Phân tích tính nhạy cảm tương đối của các mặt bên
răng ở hệ răng sữa, tỷ lệ sâu răng có khuynh hướng chung là tăng về phía xa.
Chú ý rằng sâu răng mặt tiếp cận tiến triển nhanh vào tủy hơn sâu răng mặt nhai
nhiều lần [17].
Tại thời kỳ răng hỗn hợp, từ 6 - 12 tuổi, sâu răng vĩnh viễn tiến triển với
tốc độ nhanh và ổn định. Thời kỳ này trẻ vừa có sâu răng sữa vừa có sâu răng
vĩnh viễn, sâu răng vĩnh viễn giai đoạn này phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của
những điều kiện như răng sữa. Giải phẫu học bề mặt răng có tính quan trọng
trong tính nhạy cảm sâu răng tại các mặt răng. Răng cửa giữa và bên hàm trên


6

ít nhạy cảm sâu răng hơn các răng khác, răng cửa dưới ít bị sâu trừ trường
hợp sâu răng lan nhanh [17].
Vì có sự khác biệt ở hai hệ răng nên trong nghiên cứu em chia nhóm đối
tượng theo nhóm có hệ răng sữa và nhóm có hệ răng hỗn hợp.
1.2. Bệnh tim bẩm sinh và mối liên quan với bệnh sâu răng
1.2.1. Bệnh tim bẩm sinh
1.2.1.1. Định nghĩa
Tim bẩm sinh là dị tật của tim và các mạch máu lớn xảy ran gay từ thời
kỳ bào thai, vào lúc hình thành buồng tim, van tim, các nút thần kinh tự động
tạo nhịp tim, hệ thần kinh dẫn truyền của tim và các mạch máu lớn [18].
1.2.1.2. Dịch tễ học bệnh tim bẩm sinh
Tim bẩm sinh là một bệnh lý tim mạch ngày càng gặp phổ biến trong
thực hành nhi khoa, khi mà các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh về thiếu dinh dưỡng
ngày càng giảm dần. Tại các nước phát triển, tỷ lệ tim bẩm sinh nằm trong
khoảng 0,7 - 1% trẻ sinh ra còn sống.
Ở Việt Nam theo các báo cáo của viện Nhi, tỷ lệ tim bẩm sinh là khoảng
1,5% trẻ vào viện và khoảng 30 - 55% trẻ vào khoa Tim mạch. Một số bệnh
gặp phổ biến ở trẻ trai như hẹp eo hoặc van động mạch chủ, thông liên thất,
chuyển gốc động mạch, trong khi thông liên nhĩ và còn ống động mạch hay
gặp ở trẻ gái hơn. Tại bệnh viện Nhi Đồng 1 và 2 thành phố Hồ Chí Minh,
theo thống kê của Hoàng Trọng Kim trong 10 năm (1984 - 1994), có 5542 trẻ
nhập viện do bị tim bấm sinh, chiếm 54% số trẻ nhập viện do bệnh lý tim
mạch, trong đó, Thông liên thất chiếm 40% bệnh tim bẩm sinh, tứ chứng
Fallot 16%, Thông liên nhĩ 13%, Còn ống động mạch 7,4%, hẹp động mạch
chủ 7,3%, thông sàn nhĩ thất 2,3% [11].
1.2.2. Mối liên hệ giữa bệnh tim bẩm sinh và sâu răng
1.2.2.1. Ảnh hưởng của bệnh tim bẩm sinh lên bệnh sâu răng


7

Tim mạch nhi khoa đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trong những thập kỷ
gần đây. Việc giới thiệu phẫu thuật mới và kỹ thuật gây mê cùng với sự phát
triển của chăm sóc đặc biệt đã cải thiện việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân
tim bẩm sinh [19]. Ở trẻ em bị bệnh tim các vấn đề sức khỏe chung sẽ ảnh
hưởng tới sức khỏe răng miệng. Ví dụ: trẻ gặp khó khăn trong vấn đề dinh
dưỡng trong những năm đầu đời. Nôn là một vấn đề phổ biến, để bù đắp cho
điều này trẻ ăn thường xuyên và bữa ăn đêm là cần thiết để duy trì năng lượng
mức độ chấp nhận được. Ngoài ra, một số loại thuốc cho bệnh tim chứa
đường (sucrose) cùng với thuốc lợi tiểu có thể gây khô miệng [20].
Nhiễm trùng thường kéo dài hơn so với trẻ em bình thường khiến nhu
cầu năng lượng gia tăng, bắt buộc phải bổ sung dinh dưỡng, đôi khi vào ban
đêm, khi mà dòng chảy nước bọt thấp làm tăng các nguy cơ bệnh răng miệng.
Sâu răng không được điều trị và tỷ lệ sâu răng cao hơn so với trẻ em khỏe
mạnh đã được chứng minh ở trẻ bị bệnh tim bẩm sinh trong những ngiên cứu
trong quá khứ [21], [22], [23].
Nghiên cứu trước cũng chỉ ra tương quan đáng kể giữa số tháng bệnh
nhân tim bẩm sinh sử dụng digoxin và giá trị sâu - mất - trám mặt răng sữa.
Digoxin được bảo quản trong sucrose dạng si rô, vì vậy nó là nguyên nhân
gây sâu răng ở trẻ em bị bệnh mạn tính [24, 25].
Như vậy, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng trẻ bị tim bẩm sinh có
tỷ lệ sâu răng cao hơn nhóm trẻ không bị tim bẩm sinh.
1.2.2.2. Ảnh hưởng của sâu răng lên bệnh tim bẩm sinh
Nhiều giả thiết được đưa ra để giải thích mối liên hệ giữa sâu răng lên
bệnh tim mạch.
Năm 1992, Creighton cho rằng mối quan tâm chính của nha sĩ khi điều
trị trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh là phòng ngừa nguy cơ viêm nội tâm mạc


8

[26]. Sức khỏe răng miệng kém làm tăng nguy cơ nhiễm trùng dẫn tới viêm
nội tâm mạc. Năm 1993, Smith và Adams đã khẳng định có mối quan hệ giữa
giữa các vi sinh vật đường miệng với viêm nội tâm mạc. Khi cấy máu, làm test
vi sinh vật, trên 60% mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân tim mạch dương tính với
loài Streptococcus viridians, đặc biệt là sanguis, mitior và mutans [6].
Nhóm tác giả Blumenthal, Johnson, D.H., Rosenthal, A., Nadas A,
Waddy cũng tin rằng loại vi khuẩn phổ biến trong miệng là Streptococcus
viridians là nguyên nhân gây viêm nội tâm mạc, đồng thời con đường duy nhất
đưa vi khuẩn tới màng ngoài tim là dòng máu [7], [8], [9].
Năm 2000, Wu T đã giải thích mối liên hệ này do sâu răng, viêm lợi là
yếu tố gây viêm, làm tăng các yếu tố viêm lưu thông trong máu, làm tăng các
yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch bao gồm phản ứng C protein (CPR),
fibrinogen và cholesteron 5.
Năm 2001, Noack B cho rằng vi khuẩn vùng miệng có ảnh hưởng tới tim
khi chúng vào dòng máu, liên kết với các mảng cholesteron ở thành mạch
vành, hình thành cục máu đông. Các bệnh động mạch vành có đặc điểm làm
dày thành mạch vành để hình thành các liên kết chất béo và protein. Cục máu
có thể làm tắc nghẽn dòng chảy của máu, hạn chế dinh dưỡng và oxygen cần
thiết cho hoạt động chức năng của tim mạch, dẫn tới các cơn đau tim 27.
Các nha sĩ nên cung cấp kháng sinh dự phòng chống viêm nội tâm mạc
trước khi làm thủ thuật nha khoa xâm lấn ở trẻ em có thể để giảm việc sử
dụng thuốc kháng sinh sau đó cho các nhiễm trùng khác. Một nguy cơ sức
khỏe răng miệng khác là nguy cơ khi gây tê và nguy cơ chảy máu kéo dài ở
trẻ em dùng thuốc chống đông. Thống kê có ý nghĩa đưa ra sâu răng không
được điều trị có thể là một chống chỉ định của phẫu thuật tim [28].


9

Vì vậy, sâu răng và các thủ thuật nha khoa có thể làm trẻ bị tim bẩm
sinh mắc thêm viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và làm trầm trọng bệnh, nên
bác sĩ nha khoa nhi cần đăc biệt lưu tâm với trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh.


10

1.3. Dịch tễ học sâu răng
1.3.1. Dịch tễ học sâu răng trên bệnh nhân tim bẩm sinh
1.3.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về mối liên hệ sâu răng trên trẻ
em mắc bệnh tim bẩm sinh.
Tỷ lệ sâu răng trên trẻ em tim bẩm sinh được ghi lại theo bảng 1.1 dưới
đây với các lứa tuổi khác nhau.
Bảng 1.1. Tỷ lệ sâu răng ở trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh giai đoạn 1978 2008
Tác giả, năm
Berger, 1978 27
Urquyart và
Blinkhorn, 1990 29

Quốc
gia
Úc

Cỡ mẫu

Tuổi

Kết quả

TBS = 57 8 - 10 TBS có sr, SR, MR cao hơn
smtr/4 - 6 là 3,3

Anh TBS = 134 4 - 12 SMTR/7 - 9 là 3,3

Hallett, 1992 21

Úc

Franco, 1996 23

UK

SMTR/10 - 12 là 5,0
TBS = 39 2 - 15 smtr là 4,2 và 2,3
NC = 33
TBS = 60
NC = 60

1 - 15 SMTR là 0,9 và 0,6
smtr 3,7 ± 3,2 và 2,7 ± 3,4
2 - 16

SMTR 3,9 ± 3,2 và 2,0 ± 2,9
Sâu răng không được can thiệp
TBS = 52% và NC = 32%

C. Steckse’n -

Thụy TBS = 41

Blicks, 2002 30

Điển

Tasioula, 2008 31

Anh

Rai K, 2009 32

Ấn
Độ

NC = 41
TBS = 76
NC = 47

3- 19
2 - 15

smtmr 5,2 ± 7,0 và 2,1 ± 3,4
SMTMR 0,9 ± 1,9 và 0,3 ± 0,6
smtr1,6 ± 3,0 và 0,8 ± 1,4
SMTR 1,8 ± 3,6 và 0,4 ± 1,2

TBS = 170 1 - 16 42% sâu răng


11

Năm 1992, theo nghiên cứu của Hallet trên 39 trẻ bệnh tim và 33 trẻ
bình thường cho thấy chỉ số sâu – mất – trám răng sữa ở nhóm trẻ bệnh tim là
4,3 cao hơn 2,3 ở nhóm trẻ bình thường với p < 0,001, nhưng không có ý
nghĩa thống kê ở răng vĩnh viễn với tỷ lệ Sâu - Mất - Trám răng vĩnh viễn lần
lượt là 0,9 và 0,6 ở hai nhóm [21].
Theo nghiên cứu của C. Steckse’n - Blicks năm 2002 trên 41 trẻ mỗi
nhóm chứng và nhóm bệnh thu được kết quả: giá trị sâu - mất - trám mặt
răng sữa là 5,2 ± 7,0 trong nhóm bệnh so với 2,1 ± 3,5 trong nhóm chứng
(p<0,05). Trong 16 trẻ trong nhóm bệnh so với 22 ở nhóm đối chứng có răng
sữa bị sâu. Trong số trẻ đã có 4 răng 6 mọc, trung bình Sâu - Mất - Trám mặt
răng vĩnh viễn là 0,9 ± 1,9 trong nhóm bệnh so với 0,3 ± 0,5 trong nhóm
chứng (p > 0,05) 30.
1.3.1.2. Việt Nam
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Thu Thủy năm 2012 nghiên cứu trên 98
trẻ từ 3 - 12 tuổi mắc bệnh tim mạch đang điều trị tại viện Nhi Trung Ương
thấy rằng: tỷ lệ sâu răng chung là 85,71%, phân bố theo nhóm bệnh có
85,56% trẻ mắc tim bẩm sinh sâu răng, thấp hơn 87,5 % của nhóm trẻ bị tim
mắc phải có sâu răng, chỉ số sâu - mất - trám chung 5,01 ± 3,62; Sâu - Mất Trám răng vĩnh viễn là 0,82 ± 1,03; sâu – mất – trám răng sữa là 4,82 ± 3,09
[33].
1.3.2. Dịch tễ học sâu răng trên trẻ khỏe mạnh
1.3.2.1. Trên thế giới
Đã có nhiều nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ sâu răng ở hàm răng sữa, sự
khác biệt giữa các nghiên cứu không nhiều. Theo nghiên cứu của J.M. Tang


12

và cộng sự trên 5171 trẻ từ 5 tháng đến 4 tuổi ở Arizona - 1997, tỷ lệ sâu
răng là [4]:
Bảng 1.2.Tỷ lệ sâu răng ở trẻ từ 1 - 4 tuổi theo J.M. Tang - 1997
Tuổi
1
2
3
4

Tỷ lệ sâu răng (%)
6,4
20
35
49

smtr
0,18
0,70
1,35
2,36

Theo nghiên cứu của Mahejabeen R và cộng sự trên 1500 trẻ 3 - 5 tuổi
ở Hubli - Dharwad Ấn Độ năm 2006 có tỷ lệ sâu răng theo bảng [4]:
Bảng 1.3. Tỷ lệ sâu răng ở trẻ từ 3 - 5 tuổi theo Mahejabeen R
Tuổi
3
4
5

Tỷ lệ sâu răng (%)
42,6
50,7
60,9

smtr
2,31
2,56
2,69

Theo số liệu của WHO năm 2003, chỉ số Sâu - Mất - Trám răng vĩnh
viễn ở trẻ em 12 tuổi trung bình là 2,4 [34]:
Bảng 1.4. Chỉ số Sâu - Mất - Trám răng vĩnh viễn của một số nước trên thế
giới
Quốc gia
Anh
Mỹ
Úc
Phần lan
Nauy
Thụy Sĩ
1.3.1.2. Việt Nam

Năm
1997
1998
1998
1997
1999
1998

SMTR
1,1
1,4
0,8
1,1
1,5
1,4


13

Theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc của Trần Văn Trường và
cộng sự năm 2000 thì tỷ lệ sâu răng và số trung bình sâu - mất - trám là [2]:
Bảng 1.5. tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo nhóm tuổi từ 6 - 17 tuổi theo Trần
Văn Trường và cộng sự
Tuổi

Sâu răng (%)

SMTR

6-8

84,9

5,4

9 - 11

56,3

1,96

12 - 14

64,1

2,05

15 - 17

68,6

2,40

Theo điều tra tình hình sâu răng ở trẻ em Việt Nam của Trịnh Đình Hải
năm 2004 [35]:
Tuổi

Sâu răng (%)

smtr

smtmr

<6

83,7

6,15

14,15

6-8

84,9

5,40

12,98

9 - 11

56,3

1,96

4,60

Năm 2010, theo kết quả điều tra của Viện đào tạo Răng Hàm Mặt trường Đại Học Y Hà Nội tại 5 tỉnh thành trong cả nước cho thấy tỷ lệ sâu
răng sữa trẻ 4 - 8 tuổi là 81,6% [3].

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


14

2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đến khám và điều trị tại khoa Nội nhi - viện Tim Hà
Nội, khoa Tim mạch nhi - bệnh viện Nhi Trung Ương, khoa Tim mạch nhibệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán xác định tim bẩm sinh.
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân được chẩn đoán bị tim bẩm sinh từ 1 tuổi tới 12 tuổi.
- Bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa.
* Tiêu chẩn loại trừ
- Cha mẹ bệnh nhân không đồng ý cho con tham gia nghiên cứu.
- Tình trạng sức khỏe bệnh nhân không đảm bảo tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân không hợp tác.
- Bệnh nhân mắc phối hợp bệnh toàn thân khác.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian: từ 9/ 2015 đến 5/2016.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang


15

2.3.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho mô tả cắt ngang35.

n=
Trong đó:
n: cỡ mẫu tối thiểu
Z: tương ứng với độ tin cậy 95%, Z1 - α/2 = 1,96.
P= 0,91tỷ lệsâu răng trên trẻ bị tim bẩm sinh theo Phạm Thị Thu Thủy
năm 33.
d= 0,06 là khoảng sai lệch mong muốn.
Thay vào công thức, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu là 87 bệnh nhân.
* Cách chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: các bệnh nhân được chẩn đoán xác định tim bẩm
sinh từ 6 tháng tới 12 tuổi đang điều trị tại khoa Nội Nhi - bệnh viện Tim Hà
Nội, khoa Tim mạch nhi - bệnh viện Nhi Trung Ương, khoa Tim mạch Nhibệnh viện Bạch Mai, trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2016 tới tháng 4
năm 2016.
Thực tế khám được 89 bệnh nhân tại khoa đủ tiêu chuẩn.
2.3.3. Phương pháp và kỹ thuật thu thập thông tin
2.3.3.1. Các bước tiến hành nghiên cứu
- Liên hệ bệnh viện, khoa phòng, xin phép khoa và bệnh viện được lấy
số liệu tại khoa.
- Lập phiếu khám và phiếu phỏng vấn phù hợp với đối tượng và mục
đích nghiên cứu.
- Tập huấn điều tra viên về cách khám, phỏng vấn và ghi phiếu đánh
giá, tập huấn theo hệ số Kappa.


16

- Xin phép bác sĩ tại khoa và cha mẹ của trẻ xin được khám trẻ và
phỏng vấn cha mẹ theo bộ câu hỏi phỏng vấn, đồng thời cha mẹ điền thông tin
vào bản cam kết đồng ý cho trẻ tham gia nghiên cứu.
- Khám phát hiện sâu răng ghi theo phiếu điều tra (phụ lục 1).
- Phỏng vấn theo bộ câu hỏi (phụ lục 2).
- Tổng kết các phiếu khám, phiếu phỏng vấn.
2.3.3.2. Phương tiện, dụng cụ và điều kiện phục vụ cho nghiên cứu
- Áo, mũ, khẩu trang, găng tay.
- Khay khám: gương, gắp, thám trâm.
- Que đè lưỡi, bóng thổi khô.

Hình 2.1. Dụng cụ khám
- Bông, cồn.
- Phiếu khám và phiếu phỏng vấn: tự thiết kế phù hợp với đối tượng
(phụ lục 1 và phụ lục 2).
- Khử trùng dụng cụ gồm có gương, gắp, thám trâm bằng máy
autoclave, lau cồn sát khuẩn với bóng thổi khí.
- Sau mỗi lần khám sát khuẩn tay nhanh với dung dịch sát khuẩn tay
chuyên dụng ngay tại khoa phòng của bệnh viện.


17

Hình 2.2. Dung dịch sát khuẩn tay
2.3.3.3. Cách thức tiến hành
- Phỏng vấn:
+ Phỏng vấn bố mẹ theo bộ câu hỏi nghiên cứu, kết quả được ghi vào
phiếu thu thập thông tin (phụ lục 2).
- Khám lâm sàng:
+ Người khám: Nhóm sinh viên Y6 và Y5 (5 người) chuyên khoa
Răng Hàm Mặt thuộc Viện đào tạo Răng Hàm Mặt-Trường đại học Y Hà
Nội đã được tập huấn thống nhất về cách khám, phỏng vấn và ghi phiếu
đánh giá.
+ Nơi khám: khoa Nội nhi - viện Tim Hà Nội, khoa Tim mạch nhi bệnh viện Nhi Trung Ương, khoa Tim mạch nhi - bệnh viện Bạch Mai. Kết
quả được ghi vào phiếu khám răng miệng.
+ Phương pháp khám:
• Khám dưới ánh sáng tự nhiên, có thể dùng đèn pin hỗ trợ.
• Khám lần lượt từng cung răng để tránh bỏ sót.
• Khi khám, quan sát kết hợp sử dụng dụng cụ để phát hiện các tổn
thương sâu răng, chất lượng miếng trám, các cấu trúc răng bất


18

thường. Khám lâm sàng tình trạng bệnh sâu răng của trẻ bằng
mắt thường qua các chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá.
• Ghi kết quả vào phiếu đánh giá.


19

2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu
2.4.1. Biến số nghiên cứu phục vụ theo mục tiêu
Bảng 2.1. Biến số nghiên cứu
Mục
tiêu

1

2

Tên biến số

Loại
biến số

Giá trị biến

Phương
pháp thu
thập
Phỏng vấn
Phụ lục 2
Khám
Phụ lục 1

Liên tục 9th - 12 tuổi
Tuổi
Nhị phân Nam, Nữ
Giới
Nhị phân Có, không
Sâu răng
Sâu răng giai
Độ tổn thương sâu răng theo
đoạn sớm, thành
mức độ
lỗ sâu
Tổn thương sâu răng theo
Mặt cắn, má, gần,
mặt
xa, lưỡi
Nguyên nhân sâu răng
Nhị phân Đúng, sai
Phỏng vấn
Chế độ ăn ảnh hưởng đến
Nhị phân Có, không
Phụ lục 2
sâu răng
Sâu răng dự phòng được
Nhị phân Có, không
không
Sâu răng ảnh hưởng xấu tới Nhị phân Có, không
bệnh tim của con
Thực hành VSRM: có
Nhị phân Đúng, sai
VSRM, thời điểm, thời gian,
loại bàn chải và kem đánh răng.
Thói quen ăn uống: ăn vặt
thêm, ăn đêm, lần ăn đêm, có Nhị phân Đúng sai
VSRM sau ăn thêm.
Khám RHM
Điều trị RHM
Nhị phân Có, không
Thái độ cha mẹ: có cần đi
Nhị phân Có, không
khám RHM định kỳ, nhớ tên Nhị phân Có, không
bệnh tim, nhớ tên thuốc của
con.
Yếu tố liên quan khác: điều
kiện kinh tế gia đình, số con,
thành viên khác có bệnh mạn
tính, nghề nghiệp của cha
mẹ, cha mẹ đã tốt nghiệp, tư


20

vấn RHM cho cha mẹ.

2.4.2. Chỉ số nghiên cứu
- Chỉ số sâu răng theo nhóm tuổi, giới.
- Tỷ lệ sâu răng.
- Chỉ số DI-S.
- Chỉ số smtr, smtmr, SMTR, SMTMR.
2.5.Một số khái niệm và chỉ số răng miệng
2.5.1. Chỉ số Sâu -Mất -Trám Răng
Chỉ số SMTR dùng để xác định tình trạng sâu răng vĩnh viễn trong quá
khứ và trong hiện tại.Tổng số răng là 28, răng chưa mọc, răng thừa, răng sữa
không được tính vào chỉ số này.
* Tiêu chuẩn đánh giá:
- SR (sâu): gồm tất cả răng sâu, răng đã trám có sâu tái phát, chỉ còn
chân răng, miếng trám tạm.
- MR (mất do sâu): răng mất không còn trên cung hàm do sâu, loại trừ:
+ Răng mất do nguyên nhân khác.
+ Răng chưa mọc.
+ Thiếu răng bẩm sinh.
- TR(trám): răng đã hàn không sâu, nhưng trám do nguyên nhân không
phải sâu không tính:
+ Chấn thương.
+ Thiểu sản.
+ Trám bít hố rãnh.
+ Phục hình.
- Chỉ số SMTR là tổng số răng Sâu + Mất + Trám chia cho tổng số răng
được khám [36].


21

2.5.2.Chỉ số sâu- mất - trám răng sữa
Chỉ số smtr dùng cho răng sữa với tổng số răng 20 răng. Răng chưa
mọc, răng thừa, răng vĩnh viễn không được tính vào chỉ số này. Tiêu chuẩn
đánh giá tương tự như răng vĩnh viễn nhưng đối tượng là răng sữa [37].
2.5.3. Chỉ số Sâu - Mất - Trám Mặt Răng
- Chỉ số được tính như sau:
• SMR (sâu mặt răng): bao gồm tất cả các mặt răng bị sâu ở thân,
chân răng và các răng đã hàn nhưng bị sâu tái phát.
• MMR (mất mặt răng): bao gồm các mặt răng mất do sâu.
• TMR (trám mặt răng): tất cả các mặt răng đã bị trám và không bị
sâu tái phát.
- Chỉ số SMTMR là tổng số các mặt răng Sâu + Mất + Trám của răng
vĩnh viễn chia cho tổng số răng được khám [36].
2.5.4.Chỉ số sâu - mất - trám mặt răng sữa
Chỉ số smtr ghi nhận tổng bề mặt răng sữa sâu, mặt răng mất, mặt răng
trám. Tiêu chuẩn đánh giá gồm tương tự như răng vĩnh viễn nhưng đối tượng
là răng sữa [37].
* Đánh giá mức độ tổn thương và đã được điều trị
Để đánh giá mức độ trẻ được điều trị, em tính thêm một số tỷ lệ sau đây:
- S/SMT: tỷ lệ răng sâu không được điều trị.
- (M+T)/SMT: tỷ lệ răng sâu được điều trị.
* Tiêu chuẩn chẩn đoán sâu răng:
Các tiêu chuẩn đánh giá và ghi nhận sâu răng dựa trên tiêu chuẩn khám
lâm sàng theo ICDAS [38].
* Nguyên tắc chung:
Dùng bông ướt lau mặt răng, bóng thổi khô để làm khô mặt răng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×