Tải bản đầy đủ

BAO CAO vnese ver 11jul2016

BÁO CÁO TÓM TẮT
CHUYÊN ĐỀ “TƯ VẤN HỖ TRỢ TRIỂN KHAI CHÍNH
PHỦ ĐIỆN TỬ, HÌNH THÀNH CÔNG DÂN ĐIỆN TỬ VÀ
XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP TẠI TỈNH LÀO CAI”
THUỘC DỰ ÁN “NÂNG CAO KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MÁY TÍNH
VÀ TRUY NHẬP INTERNET CÔNG CỘNG TẠI VIỆT NAM”

NHÓM CHUYÊN GIA:
Nguyễn Đức Nhật
Bùi Thanh Xuân
Vũ Minh Huệ
Vũ Thị Vân Anh
Phạm Linh Chi

Hà Nội, 07/2016
1


MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT................................................................................................................3
DANH MỤC BẢNG BIỂU...........................................................................................................4

I. Giới thiệu dự án và chuyên đề..........................................................................................5
1.Giới thiệu Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại
Việt Nam”................................................................................................................................5
2.Giới thiệu chuyên đề “Tư vấn hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử, hình thành công dân điện
tử và xây dựng xã hội học tập”................................................................................................5
II. Tổng quan chính sách và thực tiễn triển khai CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT cấp
trung ương và địa phương......................................................................................................6
1.Triển khai CPĐT, hình thành CDĐT tại tỉnh Lào Cai.................................................................6
2.Xây dựng XHHT ở tỉnh Lào Cai..............................................................................................6
III. Tổng quan nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan đến CPĐT – CDĐT, các cơ hội
tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng.........................................................7
1. Tổng quan về nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan tới CPĐT – CDĐT tại tỉnh
Lào Cai.....................................................................................................................................7
2. Các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng....................................9
IV. Quá trình xây dựng và triển khai mô hình hỗ trợ CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT.
..............................................................................................................................................11
1. Quá trình chọn điểm..........................................................................................................11
2. Nội dung và đối tượng tập huấn........................................................................................11
3.Xây dựng mô hình..............................................................................................................12
4. Kết quả thực hiện mô hình.................................................................................................12
5.Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai mô hình..........................................................13
6.Bài học kinh nghiệm sau giai đoạn đầu triển khai ban đầu..................................................14
V. Đánh giá tác động của dự án tại địa phương thực hiện mô hình........................................15
VI. Đề xuất và khuyến nghị và nhân rộng mô hình, duy trì bền vững và nhân rộng mô hình.. .17

2


DANH MỤC VIẾT TẮT

TCMTCC
TVCC
BĐVHX
BQLDA
UBND
CPĐT
CDĐT
XHHT
TTHTCĐ
CNTT
Sở TTTT
Sở VHTT&DL

Truy cập máy tính công cộng
Thư viện công cộng
Bưu điện văn hóa xã
Ban quản lý dự án
Ủy ban nhân dân
Chính phủ điện tử
Công dân điện tử
Xã hội học tập
Trung tâm học tập cộng đồng
Công nghệ thông tin
Sở Thông tin Truyền thông
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch

3


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số tiêu
chí của chỉ số ICT..............................................................................................................7
Bảng 2: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số tiêu
chí của chỉ số PARI............................................................................................................8

4


I.

Giới thiệu dự án và chuyên đề
1. Giới thiệu Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập
Internet công cộng tại Việt Nam”

Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt
Nam” (BMGF-VN) được triển khai trên phạm vi địa lý rộng lớn, mang lại lợi ích cho hệ
thống thư viện công cộng và bưu điện văn hóa gồm 1900 điểm phục vụ trải khắp 40 tỉnh
thành, trong đó phần lớn là tỉnh kém phát triển, các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa. Dự
án không chỉ giới hạn trong phạm vi cung cấp máy tính và các dịch vụ Internet mà còn
bao gồm các hoạt động hỗ trợ khác như đào tào, tuyên truyền vận động và nâng cao năng
lực cán bộ để đáp ứng nhu cầu của người dùng. Vào giai đoạn đầu của dự án , sự xuất
hiện của các thư viện công cộng vẫn chưa phổ biến, thậm chí tại một số tỉnh còn không
có thư viện công cộng , trong khi đó, rất nhiều bưu điện văn hóa đã phải đóng cửa hoặc
chỉ hoạt động cầm chừng. Ngoài ra, tại nhiều địa phương, đặc biệt là vùng nông thôn hay
vùng sâu vùng xa, internet chỉ mới được kết nối tại trung tâm thị trấn. Cơ sở hạ tầng yếu
kém đã gây ra nhiều khó khăn cho quá trình thực hiện dự án. Tuy nhiên, dự án đã vượt
qua được những khó khăn đó để đạt được thành công và mang lại lợi ích to lớn cho xã
hội. Dự án BMGF-VN đã tạo nên một sức sống mới cho hoạt động của hệ thống bưu điện
văn hóa và hỗ trợ việc hình thành mạng lưới các thư viện công cộng cấp xã, gần đủ để
đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân và góp phần không nhỏ vào phát triển kinh tế xã hội. Số người tới thư viện công cộng, bưu điện văn hóa xã để sử dụng máy tính và truy
nhập internet lần đầu đã tăng lên đáng kể bởi họ bắt đầu quan tâm tới dịch vụ được cung
cấp bởi dự án. Việc các hộ gia đình mua các thiết bị máy tính cá nhân và đăng ký kết nối
Internet cho thấy dấu hiệu tích cực trong việc tiếp cận công nghệ thông tin của người dân.
2. Giới thiệu chuyên đề “Tư vấn hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử, hình thành
công dân điện tử và xây dựng xã hội học tập”
Chuyên đề “Tư vấn hỗ trợ triển khai chính phủ điện tử, hình thành công dân điện tử và
xây dựng xã hội học tập” nằm trong khuôn khổ của dự án “Nâng cao khả năng sử dụng
máy tính và truy nhập Internet công cộng tại Việt Nam”, được thực hiện bởi Công ty
Nghiên cứu và Phân tích VIETSURVEY dưới sự giám sát và hỗ trợ kỹ thuật của Ban
QLDA BMGF. Mục đích của chuyên đề là tận dụng các nguồn lực và kết quả của dự án
“Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy nhập internet công cộng tại Việt Nam” để
hỗ trợ, xây dựng mô hình học tập, tạo điều kiện cho người dân được học cách sử dụng
máy tính và truy nhập internet cũng như có thêm hiểu biết về chính phủ điện tử - những
kỹ năng cơ bản để trở thành công dân điện tử.
5


II. Tổng quan chính sách và thực tiễn triển khai CPĐT, hình thành CDĐT và xây
dựng XHHT cấp trung ương và địa phương
1. Triển khai CPĐT, hình thành CDĐT tại tỉnh Lào Cai
Trong những năm gần đây, tỉnh Lào Cai đã có những nỗ lực đáng kể trong việc ứng dụng
CNTT trong các cơ quan nhà nước nhằm đổi mới phương thức quản lý, quy trình điều
hành và nâng cao hiệu quả hoạt động, phục vụ nhân dân. Về mặt chính sách và hỗ trợ
triển khai, tỉnh đã có văn bản số 35/KH-UBND “Kế hoạch phát triển cổng thông tin điện
tử tỉnh Lào Cai năm 2020” và Quyết định số 33/2009/QĐ-UBND “Ban hành quy chế
quản lý và sử dụng hệ thống dịch vụ công trực tuyến trên cổng thông tin điện tử tỉnh Lào
Cai” do UBND tỉnh Lào Cai ban hành. Đồng thời, Lào Cai đẩy mạnh những hành động
thiết thực nhằm xây dựng CPĐT, điển hình là dự án “Thiết kế khung CPĐT và nâng cấp
cổng giao tiếp điện tử” (2007-2010); và dự án “Xây dựng Cổng thông tin điện tử Tỉnh ủy
và các Cổng thành viên” (2014) do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lào Cai đảm
nhiệm v.v.
Theo Báo cáo Chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT-TT Việt Nam
(VIETNAM ICT INDEX) do Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Hội Tin học Việt Nam
công bố, Lào Cai là tỉnh có chỉ số xếp hạng cao trong cả nước (thứ 9 năm 2015, thứ 7
năm 2014 , thứ 5 năm 2013). Ngoài ra, Lào Cai cũng là tỉnh có chỉ số Năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (chỉ số PCI) cao (thứ 3 năm 2014, thứ 17 năm 2013, và thứ 19 năm 2012).
Năm 2015, thành phố Lào Cai là một trong 10 thành phố tham gia Chương trình nghiên
cứu xây dựng Chỉ số Thành phố Thông minh cho các thành phố mới phát triển của
ASEAN
2. Xây dựng XHHT ở tỉnh Lào Cai
“Xây dựng XHHT” luôn là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước nhằm thực hiện đổi
mới tư duy về giáo dục. Tại Lào Cai, Kế hoạch số 70/KH-UBND về việc triển khai đề án
“ Đẩy mạnh các hoạt động học tập suốt đời trong các thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa,
câu lạc bộ trên địa bàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2015-2020”; hay Chỉ thị số 07/2010/CTUBND “Về việc tăng cường công tác đào tạo nghề, nâng cao chất lượng dạy và học
nghề đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh
Lào Cai” là những bằng chứng rõ ràng về quan tâm của Đảng, chính quyền, các tổ chức
đoàn thể cũng như sự nỗ lực của Hội Khuyến học các cấp tỉnh Lào Cai. Nhờ đó, các
phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng XHHT tại tỉnh đã có sự phát triển mạnh mẽ.
Phong trào “Gia đình hiếu học”, “Dòng họ hiếu học”, “Xây dựng gia đình học tập”, “Xây
dựng cộng đồng học tập” phát triển rộng khắp.
Tuy nhiên, có một thực tế là giữa các phong trào xã hội học tập kể trên chưa có sự gắn
kết giữa việc ứng dụng máy tính/Internet với việc giới thiệu các dịch vụ CPĐT đến công
dân học tập thông qua các cơ hội học tập trong cộng đồng và các thiết chế văn hóa cơ sở
(BĐVHX, TVCC, nhà văn hóa v.v.).
6


III. Tổng quan nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan đến CPĐT –
CDĐT, các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng
1. Tổng quan về nguồn lực thông tin và các dịch vụ công liên quan tới CPĐT –
CDĐT tại tỉnh Lào Cai
Mức độ sẵn sàng cho công tác triển khai CPĐT-CDĐT
Số liệu thống kê cho thấy từ năm 2013 tới nay, Lào Cai có nguồn lực và nền tảng công
nghệ thông tin sẵn sàng cho công tác triển khai CPĐT-CDĐT. Cụ thể, theo đánh giá của
VietnamICT Index1,tỉnh Lào Cai luôn nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có độ sẵn sàng
ở mức khá. Xét trong 03 năm trở lại đây, chỉ số tổng hợp của tỉnh này luôn nằm trong top
10 tỉnh/thành phố. Đặc biệt chỉ số về môi trường chính sách cho công nghệ thông tin luôn
dẫn đầu cả nước từ năm 2013 đến nay.
Bảng 1: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số
tiêu chí của chỉ số ICT
(1)
2015

0,46 0,69

Xếp hạng 2015 12
2014

(2)

24

0,49 0,75

Xếp hạng 2014 10

14

2013
0,47 0,72
Xếp hạng 2013 8
19
(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

ICT Index

0,61 0,17 1

0,561

8

9

12

1

0,65 0,16 1

0,5918

4

7

9

1

0,70 0,17 1
2
7
1

0,5715
5

(3)

ICT Index

(4)

(5)

Mức
độ
sẵn sàng
Khá

Khá
Khá
Mức
độ
sẵn sàng
(Bộ TTTT, 2015)

Ghi chú: Tên gọi của các cột chỉ tiêu
(1) Chỉ số hạ tầng kỹ thuật CNTT
(2) Chỉ số hạ tầng nhân lực CNTT
(3) Chỉ số ứng dụng CNTT
1Bộ Thông tin và Truyền thông sử dụng chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin –

truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Index)
7


(4) Chỉ số sản xuất-kinh doanh CNTT
(5) Chỉ số môi trường tổ chức – chính sách cho CNTT
Lào Cai đã xây dựng và vận hành một hệ thống chính phủ điện tử trên cơ sở khung chính
phủ điện tử liên kết của Microsoft. Sở TTTT đã tham mưu UBND tỉnh Lào Cai phê
duyệt, triển khai dự án “Thiết kế khung chính phủ điện tử đa phương tiện và Nâng cấp
cổng giao tiếp điện tử tỉnh Lào Cai”. Lào Cai là tỉnh đầu tiên triển khai và xây dựng
thành công mô hình khung chính phủ điện tử liên kết – CGF (Connected Government
Framework) của Microsoft để triển khai thực hiện dự án Khung chính phủ điện tử của
mình.
Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai được xây dựng dựa trên sản phẩm Microsoft
Sharepoint Server 2007, có cấu trúc theo mô hình phân cấp: Cổng chính (cấp cao nhất) và
các cổng thành viên của các đơn vị trong hệ thống chính quyền, cho phép người sử dụng
truy cập qua trình duyệt web cũng như qua điện thoại thông minh. Việc thông tin trên hệ
thống cổng TTĐT của tỉnh và 39 cổng thành viên thường xuyên cập nhật cũng góp phần
minh bạch hóa thông tin.
Ngay từ năm 2007, Lào Cai đã xây dựng chuyên mục Hỏi đáp giúp người dân, Doanh
nghiệp trao đổi, Hỏi đáp trực tuyến giữa người dân với các cơ quan nhà nước của tỉnh 2.
Từ đó đến nay, Lào Cai liên tục cập nhập, đổi mới và nâng cấp hệ thống CPĐT của mình
qua các dự án như: Dự án phát triển hạ tầng CNTT Lào Cai (2011); Dự án Xây dựng hệ
thống một cửa liên thông điện tử (2014 – 2015); Dự án xây dựng Cổng thông tin điện tử
Tỉnh ủy và các cổng thành viên (2014) . Năm 2015, đáng ghi nhận là tỉnh Lào Cai đã
triển khai xây dựng chuyên trang Đối thoại trực tuyến giữa người dân, doanh nghiệp với
lãnh đạo các sở, ngành, huyện, thành phố bằng hình thức đối thoại trực tuyến trên Cổng
TTĐT tỉnh.
Những tồn tại trong việc triển khai mô hình CPĐT- CDĐT
Các công bố về chỉ số PARI của Bộ Nội Vụ cho thấy tỉnh Lào Cai đã đạt được những kết
quả đáng kể trong việc cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hành chính, tuy nhiên,
quy chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông vận hành chưa thực sự hiệu quả. Lào Cai
nằm trong nhóm 10 tỉnh đứng cuối khi xét tới tiêu chí “Thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế
một cửa liên thông” qua từng năm
Bảng 2: Tình hình triển khai chính phủ điện tử tại tỉnh Lào Cai thể hiện qua một số
tiêu chí của chỉ số PARI
2012
Cải cách thủ tục hành
chính

97,5%

2013

2014

I(20132012)

I(2014-2013)

97,5%

100%

0

2,5%

2 http://laocai.gov.vn/Trang/chuyenmuchoidap.aspx
8


Hiện đại hóa hành
chính
77,67%

79,20%

93,88%

1,53%

14.68

Thực hiện cơ chế một
cửa, cơ chế một cửa 61,04%
liên thông

68,3%

73,44%

7,26%

5,14%

PARI INDEX

83,32%

85,52%

2,96%

2,2%

80,36%

(Nguồn: Công bố Chỉ số Cải cách Hành chính của Bộ Nội vụ, 2015)
2. Các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng
Các cơ hội tiếp cận thông tin và học tập cho công dân và cộng đồng tại Lào Cai thông
qua hệ thống hành chính công trực tuyến còn tương đối hạn chế. Cho tới thời điểm hiện
này, thiết kế của cổng chính phủ điện tử vẫn chủ yếu dành nhiều cơ hội cho nhóm cơ
quan nhà nước và doanh nghiệp.
Theo lãnh đạo sở TTTT tỉnh Lào Cai, có hai nguyên nhân chính dẫn tới sự hạn chế cơ hội
đối với cộng đồng. Thứ nhất, với đặc điểm dân cư 70% người dân là dân tộc thiểu số,
trình độ tương đối thấp thì việc tiếp cận công nghệ thông tin còn gặp nhiều khó khăn. Do
đó, việc tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến sẽ là trở ngại đối với nhóm đối tượng này.
Chưa kể việc yêu cầu người dân phải đăng ký tài khoản công dân trực tuyến trước khi
giao dịch, sử dụng các dịch vụ này gây nhiều khó khăn về mặt kỹ thuật, quy trình và tâm
lý cho người tham gia.
Nguyên nhân thứ hai liên quan tới truyền thông đại chúng. Qua khảo sát và tiếp xúc với
người dân, nhóm tư vấn nhận thấy người dân hầu hết chưa biết đến các dịch vụ công trực
tuyến hoặc có những hiểu biết rất hạn chế về vấn đề này. Với tâm lý e ngại, không an tâm
khi đăng ký thủ tục hành chính công qua Internet, nhiều người dân vẫn mong muốn được
thực hiện thủ tục hành chính trực tiếp tại trụ sở chính quyền hay cơ quan liên quan. Đây
cũng là một trong những yếu tố cản trở việc triển khai chính phủ điện tử, xây dựng công
dân điện tử tại địa phương
Đối với nhóm doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, tỉnh Lào Cai đã có những thành
quả đáng ghi nhận trong việc triển khai các dịch vụ công cho nhóm đối tượng này: (i) hệ
thống một cửa liên thông điện tử, (ii) hệ thống thư điện tử, (iii) hệ thống quản lý văn bản
và hồ sơ công việc
Ngoài ra, theo báo cáo độc lập của Bộ TTTT, 2015 công bố tính đến năm 2015, tỉnh Lào
Cai có 21 dịch vụ công trực tuyến mức 3 và 02 dịch vụ công mức 4. Tuy nhiên, trao đổi
với lãnh đạo Sở TTTT tỉnh Lào Cai, nhóm nghiên cứu được biết đối tượng phục vụ chính
của dịch vụ công trực tuyến vẫn là các cơ quan, doanh nghiệp, ít hướng tới người dân do
hiệu quả của nhóm đối tượng này không cao. Báo cáo này còn cho biết, mặc dù hệ thống
9


dịch vụ công tại tỉnh Lào Cai đã cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến nhưng việc cung
cấp dịch vụ này cho người dân còn gặp nhiều hạn chế. Tuy người dân hoàn toàn có thể sử
dụng dịch vụ công ở mức 1: tra cứu thông tin về các thủ tục hành chính công qua cổng
thông tin điện tử của tỉnh nhưng qua kiểm tra thực tế, khả năng khai thác, sử dụng các
ứng dụng trong thực tế tại cấp Sở, huyện còn hạn chế: các đơn từ/biểu mẫu chưa được
cập nhật đầy đủ cho một số thủ tục hành chính công trực tuyến, các dịch vụ công mức 3
và 4 chưa hướng đến đối tượng là người dân địa phương.

10


IV. Quá trình xây dựng và triển khai mô hình hỗ trợ CPĐT, hình thành CDĐT và
xây dựng XHHT.
1. Quá trình chọn điểm
Quá trình chọn điểm để triển khai mô hình hỗ trợ được tiến hành dựa trên hai nguồn
thông tin chính là tham vấn ý kiến các bên liên quan tại địa phương và kết quả khảo sát
đầu vào được tiến hành trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Từ đó, chọn ra 04 điểm TCMTCC của
dự án BMGF-VN để triển khai mô hình, bao gồm Thư viện tỉnh Lào Cai, Thư viện huyện
Bảo Yên, Thư viện xã Nghĩa Đô (thuộc huyện Bảo Yên) và BĐVHX Tân Dương (thuộc
huyện Bảo Yên).
Cả 04 điểm trên đều có cơ sở vật chất (phòng truy cập máy tính, máy tính, các thiết bị
liên quan, internet, bàn ghế, ánh sáng …) tương đối tốt và phù hợp cho việc triển khai các
hoạt động của chuyên đề; vị trí địa lý tương đối thuận tiện cho người dân địa phương tiếp
cận; có cán bộ phụ trách điểm đã qua đào tạo; có sự hỗ trợ của giáo viên các trường trên
địa bàn; được lãnh đạo và chính quyền địa phương cam kết ủng hộ; có số giờ truy cập
internet ổn định. Bên cạnh đó, đa số người sử dụng của 4 điểm này còn hiểu biết sơ sài
hoặc thậm chí không biết tới sự tồn tại của các dịch vụ công, các hoạt động liên quan tới
chính phủ điện tử, công dân điện tử và xã hội học tập trên internet. Về đặc trưng riêng,
thư viện tỉnh Lào Cai và thư viện huyện Bảo Yên đều có đối tượng người sử dụng đông
đảo, có kiến thức và kỹ năng nhất định về máy tính và internet nhưng lại ít quan tâm tới
việc sử dụng máy tính và internet tại thư viện. Trong khi đó, thư viện xã Nghĩa Đô và
BĐVHX Tân Dương có đa số đối tượng phục vụ là nông dân, những người không có điều
kiện kinh tế và đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số chiếm số lượng lớn.
2. Nội dung và đối tượng tập huấn
Nội dung tập huấn gồm 03 phần.
(1) Kỹ năng tin học cơ bản
(2) Kỹ năng căn bản về tìm kiếm và đánh giá thông tin trên internet, tập trung vào nhu
cầu của người dân địa phương (tìm hiểu trong quá trình khảo sát đầu kỳ), bao gồm
cấp thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện cho nhân dân, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, cấp, đổi, tách hộ khẩu.
(3) Phổ biến kiến thức về Chính phủ điện tử
Thời lượng cho từng nội dung thay đổi theo trình độ và nhu cầu của học viên từng lớp,
chú trọng vào thực hành và theo nhu cầu thực tế của học viên.

11


Đối tượng tập huấn là các cán bộ cơ sở như bí thư chi bộ thôn/bản, bí thư chi đoàn,
trưởng thôn/bản, chi hội trưởng chi hội phụ nữ thôn / bản. Học viên làm bài kiểm tra đầu
kỳ và cuối kỳ để làm một trong những cơ sở đánh giá học viên và đánh giá mô hình.
3. Xây dựng mô hình
Mô hình hỗ trợ triển khai CPĐT, hình thành CDĐT và xây dựng XHHT sẽ được tiến
hành theo 3 bước:
(1) Tổ chức lớp tập huấn cán bộ nguồn (hướng dẫn viên nguồn) và hỗ trợ tại chỗ 03
lớp cơ sở (thư viện huyện Bảo Yên, Thư viện xã Nghĩa Đô và Bưu điện văn hoá xã
Tân Dương).
Nội dung tập huấn cán bộ nguồn (trong 01 ngày): xây dựng năng lực và cách thức
tổ chức lớp học, các hoạt động tổ chức lớp học; phổ biến nội dung và chương trình
giảng dạy; phổ biến cách thức và các mẫu giám sát và đánh giá lớp học; kĩ năng
vận động người dân đến học (giúp người dân nhận thức vai trò của máy tính/
Internet, vai trò của công nghệ thông tin trong đời sống); xác định mô hình tập
huấn tuyến cơ sở
Nội dung hỗ trợ tại chỗ các lớp cơ sở (01 ngày/lớp): kỹ năng sử dụng máy tính/
Internet cơ bản; các kiến thức về Chính phủ điện tử; kỹ năng truyền tải với đối
tượng học/thụ hưởng dịch vụ hướng dẫn là người lớn
(2) Hỗ trợ từ xa cho cán bộ nguồn triển khai và giảng dạy các lớp cơ sở (trong suốt
quá trình thí điểm mô hình). Nội dung hỗ trợ: hiệu chỉnh chương trình giảng dạy;
hỗ trợ và giải đáp các vấn đề kỹ thuật chuyên môn hoc tập suốt đời, dịch vụ công
trực tuyến,…; đánh giá học viên.
(3) Tổng kết và chuyển giao mô hình: dựa trên các biểu mẫu đánh giá được thiết kế
dành riêng cho nhóm hướng dẫn viên và học viên như nhật ký theo dõi lớp học,
bài kiểm tra, phiếu đánh giá ….
4. Kết quả thực hiện mô hình
Tính đến thời điểm cuối tháng 6/2016, đã có 07 lớp tập huấn được triển khai tại tỉnh Lào
Cai với sự tham gia của 54 học viên, trong đó tại thư viện tỉnh Lào Cai 01 lớp, thư viện
huyện Bảo Yên 02 lớp, thư viện xã Nghĩa Đô 2 lớp và BĐVHX Tân Dương 02 lớp.
Về đối tượng học viên, đa số học viên là các cán bộ cơ sở như bí thư chi bộ thôn/bản, bí
thư chi đoàn, trưởng thôn/bản, chi hội trưởng chi hội phụ nữ thôn / bản. Việc chọn các
đối tượng này dựa trên nhu cầu triển khai chính phủ điện tử trên toàn tỉnh của địa
phương, mà trước hết là đối tượng cán bộ các đơn vị hành chính và sự nghiệp. Ngoài ra,
các cán bộ cơ sở là những người kết nối giữa chính quyền và người dân, nên việc họ biết
cách sử dụng máy tính và internet không chỉ nâng cao hiệu quả công việc của họ mà còn
giúp họ có điều kiện hỗ trợ người dân.
12


Về số lượng học viên, do số lượng máy tính là 20, 10 và 5 lần lượt tại thư viện tỉnh Lào
Cai, thư viện huyện Bảo Yên và 02 điểm cấp xã, cùng với việc phải thực hành nhiều với
sự trợ giúp tối đa của hướng dẫn viên (02 người /lớp) nên số lượng học viên dao động từ
5-10 người/lớp nhằm đảm bảo chất lượng.
Về thời lượng tập huấn, mỗi chương trình tập huấn được thiết kế kéo dài 5 ngày với 3 chủ
đề khác nhau. Theo các hướng dẫn viên, thời lượng này là khá khiêm tốn so với nội dung
cần truyền tải, do đó hướng dẫn viên cần căn cứ vào trình độ thực tế của học viên để điều
chỉnh thời lượng của từng chủ đề cho phù hợp, như tập trung vào các nội dung soạn văn
bản tiếng Việt có dấu, gửi email cơ bản, tìm thông tin trên Internet bằng thanh công cụ
tìm kiếm và truy nhập vào cổng thông tin điện tử của tỉnh Lào Cai và của huyện Bảo Yên.
Chất lượng hướng dẫn viên được đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
hướng dẫn viên và người đánh giá chính là các học viên bằng cách chấm theo thang điểm
5 cho từng tiêu chí. Kết quả khảo sát cho thấy nhìn chung khả năng giảng dạy của các
hướng dẫn viên (tiêu chí số 1) được đánh giá tốt, đặc biệt là hướng dẫn viên tại điểm cơ
sở cấp xã. Tương tự đối với 04 chỉ tiêu còn lại, số lượng học viên cấp xã chấm cho hướng
dẫn viên của mình mức điểm 5 rất cao, tỷ lệ vượt trội hơn hẳn so với lớp tập huấn cấp
tỉnh và huyện. Ví dụ, ở xã Nghĩa Đô, hướng dẫn viên có khả năng sư phạm tốt, cách trình
bày giàu hình ảnh và có đầu tư; hướng dẫn viên ở BĐVHX Tân Dương rất nhiệt tình,
quyết tâm và trách nhiệm cao trong công việc.
Công tác tổ chức lớp học được đánh giá dựa trên 03 các tiêu chí. Kết quả khảo sát cho
thấy học viên đánh giá cao công tác tổ chức lớp tập huấn. Khi tham gia lớp tập huấn, học
viên được trang bị các trang thiết bị tối thiểu như máy tính, internet, tài liệu (do các
chuyên gia tham gia chuyên đề thiết kế) và được thông báo đầy đủ về kế hoạch, nội dung
tập huấn. Dù còn gặp một số trở ngại như thư viện tỉnh Lào Cai đang trong quá trình di
dời sang địa điểm mới, thư viện xã Nghĩa Đô ghép chung với một số phòng, ban khác,
nhưng trong quá trình triển khai tập huấn, lãnh đạo địa phương vẫn tạo điều kiện về
phương tiện, không gian và thời gian cho lớp học.
5. Những khó khăn và thuận lợi khi triển khai mô hình
Những thuận lợi cơ bản đã tác động tích cực đến việc triển khai mô hình là: các điểm
được chọn triển khai mô hình đều đang tham gia vào dự án của BMGF nên có tâm thế
sẵn sàng đón nhận hoạt động mới; nhân sự tại cơ sở có kinh nghiệm và nhiệt tình; sự
tham gia tích cực của người dân địa phương; và sự hỗ trợ hiệu quả từ chuyên gia tư vấn
và cán bộ dự án từ cấp trung ương.
Bên cạnh đó, việc thực hiện mô hình cũng phải đối mặt với một số khó khăn như: đa số
người dân địa phương chưa có thói quen sử dụng thư viện hay đến các điểm truy cập
Internet để tìm thông tin, giải trí; vấn đề xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời chưa
quen thuộc và chưa được cán bộ, người dân địa phương nhận thức đầy đủ; thời gian triển
khai mô hình ngắn nên ảnh hưởng đến kết quả của việc đánh giá tác động, hiệu quả; cơ
sở vật chất một số nơi chưa phù hợp; năng lực còn hạn chế của một số cán bộ phụ trách
13


phòng máy tính/điểm truy nhập Internet trong việc bảo đảm sự vận hành của hệ thống
máy tính, và của cán bộ nguồn trong việc làm chủ các phương pháp tập huấn có sự tham
gia để hướng dẫn người lớn học tập hiệu quả.
6. Bài học kinh nghiệm sau giai đoạn đầu triển khai ban đầu
Về tính khả thi của mô hình thí điểm:
Các nội dung về chính phủ điện tử, công dân điện tử, xây dựng xã hội học tập của mô
hình là khá mới đối với địa phương, do vậy khó tránh khỏi sự hoài nghi, băn khoăn ban
đầu về khả năng thành công, song thực tế cho thấy việc kiên trì thuyết phục địa phương
và mạnh dạn thực hiện đã góp phần tăng cường sự tham gia và tính sẵn sàng của các
điểm triển khai. Do sự hạn hẹp về thời gian và nhân lực, việc tổng kết mô hình sau một
thời gian triển khai tương đối ngắn cũng phần nào ảnh hưởng kết quả đánh giá toàn diện
và sức lan tỏa của mô hình.
Về việc lựa chọn, bổ sung các nội dung cho mô hình:
Các nội dung của mô hình hiện tại về cơ bản là có thể thực hiện được đối với đội ngũ cán
bộ nguồn, và tiếp nhận được đối với người dân. Tuy vậy, về dài hạn, để duy trì tính bền
vững và độ hấp dẫn, thiết thực của các nội dung học tập thì cán bộ nguồn cần được hướng
dẫn, tư vấn thêm và chủ động tìm kiếm các thông tin, nội dung khác liên quan đến các
lĩnh vực học tập thường xuyên, học tập suốt đời trong cộng đồng, các nhu cầu cấp thiết
về nâng cao kiến thức, kĩ năng đặc thù cho người dân của từng địa bàn.
Về lựa chọn địa bàn và cán bộ nguồn:
Thực tế cho thấy, các cán bộ nguồn từng là giáo viên phổ thông hoặc đã/đang là giáo viên
TTHTCĐ có ưu thế và kinh nghiệm giảng dạy hơn những cán bộ thuộc lĩnh vực khác. Vì
vậy, trong trường hợp cần có sự thay đổi đội ngũ cán bộ nguồn ở một vài địa bàn (do yêu
cầu khách quan), nên tìm người thay thế là giáo viên trường tiểu học/THCS hoặc
TTHTCĐ thì sẽ thuận lợi hơn cho việc mở lớp, đứng lớp. Ngoài ra, ý tưởng giao cho 02
cán bộ nguồn thuộc 02 lĩnh vực khác nhau phụ trách ở mỗi điểm mô hình là phù hợp, tạo
sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Các hướng dẫn viên cũng nên dành thời lượng nhiều hơn
cho các nội dung phù hợp với trình độ và nhu cầu của học viên và người dân nơi đó.
Về phương pháp, cách thức triển khai mô hình:
Quy trình triển khai mô hình đi từ khảo sát cơ bản, đánh giá thực trạng, đến hỗ trợ đào
tạo cán bộ nguồn và theo dõi, giám sát việc thực hiện mô hình của cán bộ nguồn và mỗi
địa bàn cho thấy là hợp lý và khả thi. Tuy nhiên, nếu kỳ vọng cao hơn ở chất lượng và độ
bao phủ của mô hình, cán bộ nguồn cần được tập huấn nhiều hơn, sâu hơn về cả nội dung
(chính phủ điện tử, công dân điện tử, XHHT v.v.) và phương pháp giảng dạy/ hướng dẫn
người lớn học tập để họ có thêm kiến thức chuyên môn vững và có thể sử dụng hiệu quả
các phương pháp/kĩ thuật tham gia trong giáo dục cộng đồng.
14


V. Đánh giá tác động của dự án tại địa phương thực hiện mô hình
Trong 04 tháng thực hiện mô hình, tổng số 62 đối tượng trên toàn địa bàn tỉnh Lào Cai đã
được hưởng lợi trực tiếp từ dự án, bao gồm 08 hướng dẫn viên và 54 học viên của các lớp
cơ sở. Đặc biệt, đối tượng học viên được lựa chọn từ cấp tỉnh xuống huyện và xã /thôn
và tập trung chủ yếu vào nhóm cán bộ thôn/bản như tổ trưởng các tổ dân phố, bí thư chi
bộ, bí thư chi đoàn, và chi hội trưởng chi hội phụ nữ. Đây là nhóm đối tượng trực tiếp
ảnh hưởng tới các cụm dân cư và có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống cộng đồng.
Vào thời điểm khảo sát trước khi triển khai mô hình hỗ trợ, trình độ tin học căn bản và
hiểu biết về hệ thống hành chính công của người dân địa phương còn tương đối hạn chế.
Trừ lớp tập huấn số 02 tại thư viện huyện Bảo Yên, còn lại học viên của các lớp khác
chưa được làm quen với máy tính, và phải học từ những bước cơ bản nhất như bật/tắt
máy tính, sử dụng bàn phím và con chuột … Tuy nhiên, học viên thể hiện sự phấn khởi
và hào hứng khi được học cách sử dụng công nghệ thông tin, được tra cứu các về thủ tục
hành chính qua cổng thông tin điện tử. Ngoài những giờ học chính thức trên lớp, các học
viên chủ động tới các điểm dự án BMGF-VN để sử dụng máy tính như tập đánh văn bản,
truy nhập Internet. Như vậy, mặc dù chưa có khả năng để trực tiếp phổ biến kiến thức cho
những người xung quanh, nhưng họ hoàn toàn có thể trở thành những “tuyên truyền
viên”, nâng cao nhận thức của cộng động dân cư về tầm quan trọng của công nghệ
thông tin đối với cuộc sống.
Chất lượng học viên được đánh giá thông qua nhật ký theo dõi lớp học, phiếu theo dõi
chuyên cần, bài kiểm tra đầu vào và đầu ra, trong đó bài kiểm tra thể hiện rõ rệt sự tiến bộ
của học viên. Trước và sau khi học, học viên làm cùng một bài kiểm tra – được thiết kế
gồm 10 câu hỏi, tương ứng với thang điểm 10, nhằm đánh giá các kỹ năng tin học, hiểu
biết về internet và dịch vụ công của học viên.
Biểu đồ 1: Kết quả khảo sát trình độ học viên trước và sau khi triển khai mô hình

15


Kết quả khảo sát bằng bài kiểm tra cho thấy học viên đều có tiến bộ ở các kỹ năng tin
học, đặc biệt ở kỹ năng truy nhập Internet và nhận thức về các dịch vụ công có sự cải
thiện rõ rệt. Trước khi học, khoảng 80% các học viên trả lời sai tất cả các câu hỏi liên
quan đến Internet và các dịch vụ công, sau khi học, con số này đã giảm còn khoảng 5%
đối với hai kỹ năng nêu trên.
Thực tế khách quan cho thấy sau khóa tập huấn ngắn hạn, học viên chỉ nắm được các
thao tác đơn giản nhất như đánh văn bản có dấu, gửi thư điện tử cơ bản, tìm kiếm thông
tin trên Internet và truy cập vào cổng thông tin điện tử. Các thao tác như tải và lưu tài
liệu/đơn từ, soạn thảo và gửi tài liệu trực tuyến v.v. học viên vẫn chưa thể nắm rõ. Bên
cạnh đó, cổng thông tin điện tử của tỉnh Lào Cai chưa được xây dựng hoàn chỉnh cũng là
nguyên do cản trở việc người dân hưởng lợi từ hệ thống chính phủ điện tử đầy đủ ở các
mức độ.
Một điều đáng mừng, là các học viên đều ý thức được sự thay đổi của tỉnh và địa phương
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số học viên bước đầu tra cứu thông tin
Internet nhằm áp dụng vào việc làm nông, chăn nuôi và trồng trọt. Học viên cũng cho
rằng việc đăng tải các bài hướng dẫn quy trình thực hiện các thủ tục hành chính công trên
cổng thông tin điện tử của tỉnh cũng như công bố các đơn từ, biểu mẫu là hết sức thiết
thực với bà con, nhất là với bà con vùng sâu vùng xa. Người dân có thể chủ động tìm
hiểu trước qua mạng Internet chứ không mất công đi lại và làm việc tại các trụ sở hành
chính công.

16


VI. Đề xuất và khuyến nghị và nhân rộng mô hình, duy trì bền vững và nhân rộng
mô hình.
1. Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đưa mục tiêu xây dựng CPĐT,
CDĐT, XHHT trở thành một yêu cầu, nhiệm vụ trong các nghị quyết, kế hoạch
hàng năm
Việc xây dựng CPĐT, hình thành XHHT là nhiệm vụ được triển khai trên toàn quốc nói
chung và tỉnh Lào Cai nói riêng. Tỉnh Lào Cai cũng đã có các văn bản chỉ đạo các nhiệm
vụ này. Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần căn cứ vào các văn bản chỉ đạo
của Trung ương và địa phương để đưa mục tiêu xây dựng CPĐT hàng năm, có xét đến
các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương
2. Tăng cường việc hỗ trợ và thanh kiểm tra các điểm TNMTCC
Dự án BMGF-VN nói chung và Chuyên đề nói riêng đã đi vào giai đoạn kết thúc, do đó,
để duy trì tính bền vững của các điểm, cần tiếp tục hỗ trợ các điểm TCMTCC. Thứ nhất
là hỗ trợ về mặt cơ chế, chính sách. Ban QLDA BMGF-VN cần ký kết các văn bản với
các đối tác ở Việt Nam từ cấp trung ương, tới địa phương nhằm đạt được cam kết tiếp tục
duy trì, hỗ trợ các điểm TCMTCC như có nguồn tài chính hàng năm cấp cho các điểm,
đảm bảo tính ổn định của cán bộ trực điểm (hạn chế việc luân chuyển, điều động), có
ngân sách, quy định cụ thể cho việc đào tạo cán bộ mới, cán bộ thay thế tại các điểm, có
các cơ chế, chính sách, động thái hỗ trợ các điểm triển khai họat động, tạo điều kiện về
không gian, thời gian, cơ sở vật chất và con người để tổ chức hoạt động tại các điểm, đưa
nhiệm vụ tại điểm vào đăng ký thi đua hàng năm của cán bộ điểm.
Về công tác thanh tra, kiểm tra, cần có quy định về thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất
tới các điểm nhằm đảm bảo việc duy trì phục vụ đều đặn của điểm, trang thiết bị và cơ sở
vật chất được giữ gìn sạch sẽ, bảo trì bảo dưỡng thường xuyên, đúng quy định, cũng như
đảm bảo sự hỗ trợ của chính quyền theo đúng cam kết.
3. Mở rộng quy mô của mô hình và đối tượng học viên
Để nâng cao tầm ảnh hưởng và độ bao phủ của mô hình đối với địa phương, việc tăng số
lượng học viên cho mỗi lớp cần được cân nhắc, kể cả về số lượng cũng như các nhóm đối
tượng. Đặc biệt, với cấp tỉnh và huyện, các điểm dự án được trang bị nhiều máy tính, sẵn
sàng tạo điều kiện phục vụ cho các lớp tập huấn có quy mô lớn hơn. Hoặc với cấp xã, tổ
chức nhiều khóa tập huấn liên tục cũng sẽ giúp gia tăng số lượng học viên được tiếp cận
công nghệ thông tin.
Về mở rộng đối tượng học viên cho giai đoạn tiếp theo, nên chú trọng tới 06 nhóm đối
tượng mục tiêu của Dự án BMGF-VN, bao gồm: Học sinh sinh viên, nông dân, phụ nữ,
người dân tộc thiểu số, cán bộ nhà nước và người nghèo nói chung.
4. Bổ sung nguồn hướng dẫn viên dự phòng

17


Mô hình hướng dẫn viên đứng lớp được áp dụng trong chuyên đề này gồm 02 người,
trong đó có 01 giáo viên của hệ thống xã hội học tập của địa phương và 01 cán bộ của
điểm TCMTCC. Tuy nhiên để đề phòng các trường hợp phát sinh như giáo viên, cán bộ
chuyển việc, kiêm nhiệm nhiều việc, bận đi công tác, nghỉ việc riêng v.v. , giảm tải công
việc cho họ khi cần thiết và nhân rộng mô hình sau khi chuyên đề kết thúc, nên có một
đội ngũ các hướng dẫn viên dự phòng nhằm tiếp tục các công việc của đội ngũ hướng dẫn
viên hiện tại, tạo ra tính kế thừa, làm thành một mạng lưới các hướng dẫn viên dự phòng
kiêm cộng tác viên, tuyên truyền viên để triển khai mô hình này tại các điểm khác trong
và ngoài tỉnh Lào Cai.
Đối với các lớp đào tạo cấp tỉnh và huyện, đội ngũ dự phòng sẽ là cán bộ thư viện tỉnh,
huyện (đã được tập huấn các nội dung của Chuyên đề và/hoặc Dự án), giáo viên trung
tâm giáo dục thườg xuyên và hướng nghiệp của tỉnh và huyện.
Đối với các lớp đào tạo ở cấp xã, đội ngũ này sẽ là các cán bộ thông tin-văn hóa xã, giáo
viên TTHTCĐ tại xã và các xã lân cận, giáo viên các trường tiểu học, trung học cơ sở
trong và ngoài xã , các cán bộ công chức viên chức và /hoặc các đối tượng khác có kinh
nghiệm, kiến thức , kỹ năng và tâm huyết cống hiến cho địa phương.
Tài liệu tập huấn cho giảng viên nguồn, tài liệu của học viên sẽ được phát; đồng thời
được tạo điều kiện liên hệ với các chuyên gia của chuyên đề thông qua Facebook của
chuyên đề, thư điện tử, skype để được tư vấn, hỗ trợ về kiến thức, kỹ năng và phươg pháp
tổ chức lớp học ; các hướng dẫn viên đã đứng lớp tại các điểm được lựa chọn có trách
nhiệm hỗ trợ, chia sẻ kinh nghiệm với các hướng dẫn viên dự phòng .
5. Tăng cường truyền thông, vận động việc triển khai mô hình thông qua hướng dẫn
viên và học viên
Thực tế cho thấy các hướng dẫn viên tương đối nhiệt tình, được đào tạo về kỹ năng sư
phạm, các học viên là cán bộ xã nên trách nhiệm và cam kết của họ cũng đáng tin cậy, tuy
nhiên việc tăng cường truyền thông, việc nhấn mạnh vai trò như là một tuyên truyền viên,
một người am hiểu giá trị, lợi ích của Internet, chính phủ điện tử và xã hội học tập của
hướng dẫn viên (bao gồm cả hướng dẫn viên dự phòng) và học viên cần đặc biệt chú
trọng. Hướng dẫn viên và học viên cần được khuyến khích, tạo động lực và ý thức rõ
ràng vai trò cốt lõi của họ trong khuôn khổ mô hình để tạo niềm tin, cảm hứng và cơ sở
cho các đối tượng khác. Họ chính là hạt nhân có sức tuyên truyền, giáo dục, lan tỏa mạnh
mẽ và hiệu quả nhất với cộng đồng dân cư ở địa phương để từ đó triển khai và hỗ trợ
triển khai tốt mô hình tại 04 điểm được lựa chọn, đảm bảo duy trì phát triển bền vững của
mô hình ở 04 điểm này và mở rộng mô hình ra các địa điểm khác trong và ngoài tỉnh Lào
Cai. Việc này nên được cụ thể hóa như một dạng cam kết của hướng dẫn viên và học viên
khi tham gia các khóa tập huấn trong khuôn khổ của mô hình.
Ngoài ra, cần quan tâm đến việc tuyên truyền, quảng bá về quá trình triển khai mô hình
và hiệu quả bước đầu của nó trên nhiều kênh truyền thông đa dạng như đài, báo của địa
phương, cổng thông tin điện tử của tỉnh/huyện, tại các TTHTCĐ và Trung tâm giáo dục
thường xuyên, thư viện xã/huyện/tỉnh, điểm BĐVH xã, trên hệ thống loa phát thanh xã,
18


trong các buổi hội họp định kì, giao ban giữa các cơ quan ban ngành, hội nghị của địa
phương v.v. và thông qua mạng xã hội như Facebook của xã, Facebook của cán bộ điểm,
blog của điểm, Youtube, Twitter, Instagram v.v.
6. Phối kết hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các chương trình, dự án có liên quan của cơ
quan, ban ngành tại địa phương
Một trong những cách cụ thể hóa và thể chế hóa việc kết hợp giữa các cơ quan, ban
ngành là ký kết văn bản hợp tác liên ngành như tỉnh Lào Cai đã thực hiện (ký kết văn bản
liên tịch giữa 9 hội như Hội Khuyến học, Đài truyền hỉnh, Hội người cao tuổi, Hội cựu
giáo chức, Sở VHTT&DL, Sở GDĐT, Mặt trận tổ quốc. Trong đó, vai trò đầu mối, chịu
trách nhiệm chính trong việc điều phối, kết nối hoạt động giữa các đơn vị là Sở
VHTT&DL. Việc ký kết văn bản hợp tác một cơ sở để việc kết nối giữa các chươg trình,
dự án của các cơ quan ban ngành tại địa phương diễn ra thuận lợi và đồng bộ, tận dụng
được tối đa các nguồn lực của địa phương.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×