Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ BÍCH VÂN

HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN
ỨNG DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI
KHO BẠC NHÀ NƯỚC NGŨ HÀNH SƠN,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng – Năm 2019


Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐHĐN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hữu Cường


Phản biện 1: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai

Phản biện 2: PGS.TS. Võ Văn Nhị

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 24 tháng 8 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN.


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập và phát
triển của đất nước, công tác quản lý quỹ ngân sách nhà nước
(NSNN) nói chung và công tác kiểm soát chi (KSC) thường xuyên
NSNN qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) nói riêng đã có những bước
chuyển mình tích cực. Đặc biệt, kể từ năm 2018 khi mà hệ thống
KBNN ứng dụng dịch vụ công (DVC) trực tuyến vào quá trình KSC
NSNN qua KBNN thì lĩnh vực KSC thường xuyên đã nâng cao được
chất lượng KSC cả về quy mô và chất lượng, ngày càng hiệu quả và
khoa học hơn. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, công tác KSC
thường xuyên NSNN qua KBNN Ngũ Hành Sơn (Thành phố Đà
Nẵng) vẫn còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế, kém hiệu quả. Đặc biệt,
trong điều kiện mới, khi ứng dụng DVC trực tuyến vào quá trình
KSC NSNN qua KBNN, tính chủ động và phối hợp trong công tác
của đơn vị sử dụng ngân sách (ĐVSDNS) với KBNN vẫn chưa được
phát huy cao. Hiện tại, cán bộ công chức tại KBNN Ngũ Hành Sơn
có trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn chưa đồng đều. Trong đó, vẫn
còn một số ít cán bộ công chức thể hiện sự lúng túng và thụ động
mỗi khi ứng dụng chương trình mới vào trong quá trình thực hiện
công việc KSC dẫn đến tăng thời gian tiếp cận với những thay đổi
mới. Điều này thực sự có ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác KSC
tại đơn vị.
Nhận thức được tình hình thực tế như trên, tôi đã chọn đề tài:
“Hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước trong
điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước
Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu và hoàn thành
luận văn này. Luận văn được thực hiện với mong muốn đóng góp


2
một số giải pháp nhằm góp phần khắc phục những tồn tại, hạn chế,
và nâng cao hiệu quả công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN
trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác KSC thường
xuyên NSNN qua KBNN và vấn đề ứng dụng DVC trực tuyến vào
công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN, luận văn được thực
hiện nhằm đạt được hai mục tiêu sau:
- Phân tích thực trạng KSC thường xuyên NSNN trong điều
kiện ứng dụng DVC trực tuyến tại KBNN Ngũ Hành Sơn.
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác KSC thường
xuyên NSNN qua KBNN, đặc biệt là trong điều kiện ứng dụng DVC
trực tuyến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác KSC thường xuyên NSNN
trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động chi thường xuyên NSNN trong
điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến tại KBNN Ngũ Hành Sơn giai
đoạn từ năm 2018 đến quý 1 năm 2019.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính,
phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích số liệu.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Thứ nhất, luận văn phân tích và đánh giá tình hình KSC thường
xuyên NSNN tại KBNN Ngũ Hành Sơn thông qua số liệu thực tế
trong công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN từ năm 2018
đến quý 1 năm 2019.
Thứ hai, trên cơ sở lý luận về KSC thường xuyên NSNN qua


3
KBNN và phân tích, đánh giá thực trạng của đơn vị, luận văn đề xuất
một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn công tác KSC thường xuyên
NSNN qua KBNN, đặc biệt trong điều kiện ứng dụng DVC trực
tuyến. Các giải pháp đề xuất nhằm giúp cho đơn vị tiến tới mục tiêu
cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện, hiện đại hóa công tác KSC
thường xuyên NSNN tại KBNN Ngũ Hành Sơn và tạo điều kiện
thuận lợi tối đa trong quá trình kiểm soát thanh toán, tận dụng được
lợi thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và từng tiến tới mục tiêu
KBNN điện tử từ năm 2020.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục những từ viết
tắt và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu gồm ba
chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong điều
kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến.
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện ứng dụng
dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn, thành
phố Đà Nẵng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm
soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà
nước Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu


4
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC
NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG DỊCH VỤ CÔNG
TRỰC TUYẾN
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước
Theo Luật NSNN số 85/2015/QH13 ngày 25 tháng 06 năm
2015, Ngân sách Nhà nước được định nghĩa như sau: “Ngân sách
nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán
và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước”.
1.1.2. Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối và sử dụng vốn
từ quỹ NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi của bộ máy quản lý
nhà nước (QLNN) giúp bộ máy QLNN đảm bảo duy trì, vận hành và
thực hiện nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo chi cho các hoạt
động sự nghiệp đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các
nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội.
1.1.3. Phân loại chi thường xuyên ngân sách nhà nước
Chi thường xuyên là nhóm chi đặc biệt quan trọng gồm nhiều
khoản chi và bao quát trên nhiều lĩnh vực, đối tượng chi và tính chất
chi tiêu. Cụ thể như sau:
a. Phân loại theo lĩnh vực chi trả
b. Phân loại theo đối tượng chi trả
c. Phân loại theo tính chất từng khoản chi


5
1.1.4. Đặc điểm chi thường xuyên
1.1.5. Vai trò của chi thường xuyên
1.2. KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN
ỨNG DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kho bạc Nhà nước
a. Chức năng của Kho bạc Nhà nước
b. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kho bạc Nhà nước
1.2.2. Ứng dụng dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động
kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc
Nhà nước
a. Khái niệm về dịch vụ công trực tuyến
DVC trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác
của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên
môi trường mạng.
b. Các dịch vụ được cung cấp thông qua dịch vụ công trực
tuyến trong hoạt động kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước
c. Nguyên tắc thực hiện
d. Điều kiện để tham gia dịch vụ công trực tuyến
e. Thời gian nộp và tiếp nhận hồ sơ
f. Xử lý sự cố trong quá trình thực hiện dịch vụ công
1.2.3. Thủ tục kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ
công trực tuyến
a. Hồ sơ kiểm soát chi và yêu cầu thanh toán trong điều kiện
ứng dụng dịch vụ công trực tuyến
- Thứ nhất, hồ sơ KSC


6
- Thứ hai, yêu cầu thanh toán
- Phương thức gửi qua DVC trực tuyến
b. Quy định về hồ sơ kiểm soát chi và yêu cầu thanh toán gửi
qua dịch vụ công
c. Thủ tục thực hiện gửi hồ sơ và trả kết quả qua dịch vụ công
d. Thủ tục đăng ký mở và sử dụng tài khoản qua dịch vụ công
Kho bạc Nhà nước
e. Đăng ký rút tiền mặt qua dịch vụ công trực tuyến
1.2.4. Quy trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà
nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến
1.2.5. Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện ứng dụng
dịch vụ công trực tuyến
KSC thường xuyên NSNN được tiến hành theo ba nội dung cơ
bản sau:
- Kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ chi.
- Kiểm tra các điều kiện chi theo chế độ quy định.
- Kiểm tra tồn quỹ NSNN của các cấp ngân sách tương ứng với
khoản chi.
Nội dung chi thường xuyên NSNN qua KBNN được thể hiện
qua ba giai đoạn kiểm soát:
- Kiểm soát trước khi chi
- Kiểm soát trong khi chi
- Kiểm soát sau khi chi


7
1.2.6. Trách nhiệm và quyền hạn của Kho bạc Nhà nước
trong việc quản lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi thường
xuyên ngân sách nhà nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ
công trực tuyến
Trách nhiệm và quyền hạn của KBNN được quy định tại Thông
tư 161/2012/TT-BTC ngày 02 tháng 10 năm 2012 của Bộ Tài chính.
Riêng trong trường hợp kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
KBNN thì trách nhiệm của KBNN trong điều kiện ứng dụng DVC
trực tuyến thì được quy định chi tiết hơn, cụ thể hơn tại Quyết định
2704/QĐ-BTC ngày 17/12/2015 của Bộ Tài chính về việc quy định
thí điểm thủ tục giao dịch điện tử đối với dịch vụ công trên Cổng
thông tin Kho bạc Nhà nước.
1.2.7. Vai trò và sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong
điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến.
a. Vai trò của Kho bạc Nhà nước trong kiểm soát chi thường
xuyên ngân sách nhà nước
b. Sự cần thiết phải thực hiện kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.2.8. Tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện ứng
dụng dịch vụ công trực tuyến
a. Tiêu chí đánh giá về khối lượng công tác kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
- Kinh phí chi thường xuyên NSNN qua KBNN
- Số lượng đơn vị giao dịch tại KBNN
- Số lượng tài khoản được mở tại KBNN


8
b. Tiêu chí đánh giá về chất lượng công tác kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
- KBNN thực hiện đúng quy trình và nghiệp vụ KSC thường
xuyên NSNN qua KBNN.
- Phát hiện và xử lý kịp thời, các khoản chi chưa đúng hồ sơ
thủ tục, sai chế độ, tiêu chuẩn, và định mức của Nhà nước.


9
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
TRONG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC
TUYẾN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC
NGŨ HÀNH SƠN
2.1.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy của Kho bạc Nhà nước Ngũ
Hành Sơn
KBNN Ngũ Hành Sơn là đơn vị trực thuộc KBNN Đà Nẵng,
được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 04 năm 1997;
thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định của Tổng Giám đốc
KBNN. KBNN Ngũ Hành Sơn hiện nay có 13 công chức. Trong đó,
ban lãnh đạo có hai công chức; bộ phận giao dịch có tám công chức;
và bộ phận bảo vệ có ba công chức.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, và quyền hạn của Kho bạc Nhà
nước Ngũ Hành Sơn
a. Chức năng của Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
b. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN ỨNG
DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI KHO BẠC NHÀ
NƯỚC NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.2.1. Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn trong điều
kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến


10
a. Đối tượng chịu sự kiểm soát chi thường xuyên ngân sách
nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
Hiện nay, trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn có khoảng 66
ĐVSDNS mở tài khoản giao dịch tại KBNN Ngũ Hành Sơn, sử dụng
kinh phí chi thường xuyên NSNN.
b. Hình thức chi trả:
- Thứ nhất, theo hình thức rút dự toán
- Thứ hai, theo hình thức lệnh chi tiền
c. Phương thức chi trả các khoản chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
- Phương thức tạm ứng
- Phương thức thanh toán trực tiếp
- Phương thức tạm cấp kinh phí ngân sách
d. Nguyên tắc thực hiện kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn trong điều
kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến
KSC thường xuyên NSNN trong điều kiện ứng dụng DVC trực
tuyến cũng giống như mô hình KSC thường xuyên theo phương thức
truyền thống. Đó là, Giao dịch viên (GDV) được phân công trực tiếp
giao dịch với khách hàng thực hiện tiếp nhận, xử lý, hồ sơ, chứng từ
và tham gia vào quy trình KSC, hạch toán kế toán, kế toán trưởng
(KTT) kiểm soát hồ sơ, chứng từ và kiểm soát hạch toán kế toán.
Việc tổ chức sắp xếp và phân công thực hiện nghiệp vụ đảm bảo một
ĐVSDNS chỉ giao dịch với một công chức kho bạc. Tuy nhiên, việc
tiếp nhận hồ sơ được thực hiện trên DVC trực truyến.
e. Quy trình tiếp nhận hồ sơ và thực hiện kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Ngũ
Hành Sơn trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến


11
- GDV tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, chứng từ trên DVC, in phục
hồi hồ sơ, chuyển hồ sơ, chứng từ giấy và trên DVC lên KTT.
- KTT kiểm soát hồ sơ và chứng từ giấy trên DVC; trình hồ sơ,
chứng từ giấy và trên DVC lên Giám đốc KBNN.
- Giám đốc KBNN kiểm soát, phê duyệt hồ sơ, chứng từ giấy và
trên DVC.
- Sau khi Giám đốc KBNN phê duyệt trên DVC, hệ thống tự
động giao diện bút toán vào Tabmis ở trạng thái đã phê duyệt. Đồng
thời, Tabmis sẽ trả lại trạng thái dành dự toán với yêu cầu thanh toán
cho chương trình DVC.
+ Tường hợp đủ dự toán để chi, GDV áp thanh toán theo quy
định hiện hành.
+ Trường hợp không đủ dự toán để chi, thực hiện hủy ký lần
lượt các chức danh trên DVC và phản hồi trên DVC, đồng thời DVC
tự động gửi mail thông báo cho khách hàng.
f. Nội dung kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước
qua Kho bạc Nhà nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công
trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
- Thứ nhất, kiểm soát trước khi chi: Vào đầu năm ngân sách,
ĐVSDNS trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn gửi KBNN Ngũ Hành
Sơn các hồ sơ gửi lần đầu và hồ sơ KSC bao gồm, quyết định giao
dự toán, quy chế chi tiêu nội bộ, quyết định giao quyền tự chủ. Ngoài
ra, khi có nhu cầu chi tiêu ngoài các hồ sơ gửi lần đầu, ĐVSDNS lập
và gửi KBNN Ngũ Hành Sơn các hồ sơ tài liệu có liên quan như:
Giấy rút dự toán, giấy rút tiền mặt, ủy nhiệm chi, bảng kê chứng từ
thanh toán và các hồ sơ khác có liên quan. Cán bộ KBNN tiến hành
kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ gửi đầu năm và kiểm tra
sơ bộ hồ sơ chứng từ kế toán mà đơn vị gửi tới.


12
- Thứ hai, kiểm soát trong khi chi: là việc kiểm soát các khoản
chi đảm bảo các khoản chi đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và
thỏa mãn các điều kiện chi NSNN theo quy định.
- Thứ ba, kiểm soát sau khi chi: Là việc cán bộ KBNN Ngũ
Hành Sơn thực hiện kiểm soát tồn quỹ tiền mặt, kiểm soát tiền gửi
KBNN, kiểm soát các nguồn thu khác của đơn vị và cách đơn vị sử
dụng các nguồn thu đó. Kiểm tra việc đối chiếu số liệu sử dụng dự
toán của ĐVSDNS với KBNN.
g. Ý nghĩa của việc triển khai dịch vụ công trực tuyến tại Kho
bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
- Đối với đơn vị sử dụng ngân sách
- Đối với đơn vị KBNN Ngũ Hành Sơn
h. Các rủi ro trong quá trình kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực
tuyến tại Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn
Trong tất cả các hoạt động nghiệp vụ của KBNN từ hoạt động
KSC đến hoạt động thanh toán, quản lý ngân quỹ và các chương
trình ứng dụng thì hầu như rủi ro đều hiện diện trong tất cả các hoạt
động. Đặc biệt là hoạt động KSC thường xuyên NSNN. Hoạt động
KSC thường xuyên NSNN khi chưa ứng dụng DVC trực tuyến thì
cách nhận diện rủi ro, nguyên nhân xảy ra rủi ro và các biện pháp
khắc phục rủi ro thì được hướng dẫn tại Quyết định 665/QĐ-KBNN
ngày 16/7/2013 về việc ban hành quy định tạm thời khung kiểm soát
quản lý rủi ro hoạt động kế toán ngân sách nhà nước áp dụng cho
Tabmis. Các rủi ro này được nhận diện tương ứng với từng giai đoạn
và quá trình chi NSNN. Tuy nhiên, việc nhận diện rủi ro và kiểm
soát rủi ro trong KSC thường xuyên NSNN qua KBNN trong điều
kiện ứng dụng DVC trực tuyến là một nội dung mới vì các KBNN


13
đang trong quá trình thí điểm áp dụng và cũng chưa có nghiên cứu về
vấn đề này. Vì vậy, việc nhận diện rủi ro và kiểm soát rủi ro hiện nay
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của các cá nhân tham gia vào
quá trình KSC thường xuyên NSNN trong điều kiện ứng dụng DVC
trực tuyến.
Vì vậy, qua phỏng vấn, theo sự chia sẻ của các cán bộ KBNN
Ngũ Hành Sơn thì KSC thường xuyên NSNN qua KBNN trong điều
kiện ứng dụng DVC trực tuyến đã khắc phục được hầu hết các rủi ro
mà hoạt động KSC thường xuyên NSNN theo phương thức truyền
thống. Tuy nhiên, trong hoạt động KSC thường xuyên NSNN qua
KBNN trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến lại phát sinh các
rủi ro mới như:
- Thứ nhất, kiểm soát trước khi chi: Trong giai đoạn này, theo
sự chia sẻ của các cán bộ KBNN Ngũ Hành Sơn thì các rủi ro thường
xảy ra, đó là:
+ Các đơn vị gửi hồ sơ thông qua chương trình DVC trực tuyến
nên đôi khi do lỗi đường truyền mạng internet nên hồ sơ gửi qua
KBNN Ngũ Hành Sơn chậm, KBNN không tiếp nhận được hồ sơ,
chứng từ.
+ Một số trường hợp, chủ tài khoản tin tưởng KTT đơn vị nên
giao chứng thư số cho KTT tự phê duyệt chứng từ. Từ sự lỏng lẻo,
chủ quan, tin tưởng quá mức của chủ tài khoản dễ dẫn đến tình trạng
thất thoát trong việc quản lý tài chính tại đơn vị mà cán bộ kho bạc
Ngũ Hành Sơn không thể phát hiện được.
Vì vậy, để đối phó với các rủi ro này thì trong quá trình KSC
các cán bộ KBNN Ngũ Hành Sơn đã có những biện pháp phù hợp để
xử lý như:
Biện pháp kiểm soát rủi ro đối với trường hợp do lỗi đường


14
Biện pháp kiểm soát rủi ro đối với trường hợp quản lý chứng
thư số lỏng lẻo tại ĐVSDNS.
- Thứ hai, kiểm soát trong khi chi: Trong giai đoạn này thì cũng
có các rủi ro thường xảy ra:
+ Toàn bộ chứng từ được gửi bằng file điện tử nên khó khăn
cho cán bộ kho bạc Ngũ Hành Sơn trong việc kiểm soát chứng từ
trên chương trình máy tính, trình độ tin học của một số cán bộ kho
bạc chưa đồng đều, còn lúng túng trong việc xử lý chứng từ trên máy
tính đặc biệt là cán bộ lớn tuổi. Do vậy, nhiều khi xử lý chứng từ còn
chậm ảnh hưởng tới tiến độ thanh toán; đọc hồ sơ trên máy nên nhiều
khi không phát hiện hết sai sót.
Biện pháp kiểm soát rủi ro trong trường hợp trình độ tin học của
cán bộ còn yếu.
+ Toàn bộ chứng từ được gửi bằng file điện tử nhưng do cơ sở
hạ tầng, đường truyền mạng chưa thật sự ổn định nên có một số
trường hợp vì đường truyền lỗi nên đơn vị gửi một chứng từ hai lần
và cán bộ KBNN đã không phát hiện được và đã thực hiện chuyển
tiền hai lần cho cùng một chứng từ kế toán. Điều này có nguy cơ gây
thất thoát NSNN vì nếu trường hợp ĐVSDNS không trung thực,
không thu tiền nộp lại NSNN mà sẽ lợi dụng kẽ hở này cấu kết với
người bán hàng để trục lợi.
Biện pháp kiểm soát rủi ro trong trường hợp đường truyền
không ổn định.
- Thứ ba, kiểm soát sau khi chi: Theo chia sẻ của cán bộ KBNN
Ngũ Hành Sơn, ở giai đoạn này cũng có một số rủi ro thường xảy ra
như:
+ Vì dịch vụ công thực hiện trên mạng internet nên đây là nguy
cơ dẫn đến mất an toàn thông tin, nguy cơ bị tin tặc tấn công làm phá


15
hủy dữ liệu hoặc đánh cắp dữ liệu.
Biện pháp kiểm soát rủi ro trong giai đoạn sau khi chi.
i. Điều kiện tham gia dịch vụ công của các đơn vị sử dụng
ngân sách trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn
Các ĐVSDNS trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn để tham gia
DVC trực tuyến của KBNN Ngũ Hành Sơn đều phải có đầy đủ các
điều kiện như: Các đơn vị phải có đầy đủ máy tính và được nối mạng
internet, máy scan; Có địa chỉ thư điện tử để giao dịch với KBNN
Ngũ Hành Sơn; Có chứng thư số đang còn hiệu lực của chủ tài khoản
và người được ủy quyền chủ tài khoản, KTT và người được ủy
quyền KTT; Có tài khoản đăng nhập chương trình DVC do KBNN
Ngũ Hành Sơn cấp.
2.2.2. Kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân
sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn trong điều
kiện ứng dụng dịch vụ công trực truyến.
KBNN Ngũ Hành Sơn mới triển khai thực hiện ứng dụng DVC
trực tuyến trong hoạt động KSC thường xuyên NSNN trong năm
2018 và đầu năm 2019. Trong quá trình triển khai thực hiện chỉ mới
thực hiện thí điểm ở một số ĐVSDNS, kết quả thu được như sau:


16
Bảng 2.1. Số liệu công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN
Ngũ Hành Sơn trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến 20182019
Năm 2018

Tiêu chí

Quý 1/Năm 2019

Số đơn vị tham gia (đơn vị)

4

26

Số tài khoản được mở (tài khoản)

7

99

132

1.420

1.450

4.523

42

352

621

523

- Sai tiêu chuẩn, định mức

23

150

- Chi vượt dự toán

71

0

- Thiếu hồ sơ

289

276

- Sai các yếu tố trên chứng từ

238

97

Số món chấp nhận thanh toán
(món)
Số tiền chấp nhận thanh toán (triệu
đồng)
Số món từ chối thanh toán (món)
Tổng số tiền từ chối thanh toán
(triệu đồng)
Lý do:

(Nguồn báo cáo KBNN Ngũ Hành Sơn)
Bảng 2.1 cho thấy công tác KSC thường xuyên NSNN qua
KBNN Ngũ Hành Sơn trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến đã
có những bước chuyển biến tích cực. Đặc biệt số lượng ĐVSDNS
tham gia dịch vụ công tăng lên đáng kể. Cả năm 2018, khi mới triển
khai thực hiện chỉ có 4 đơn vị tham gia. Tuy nhiên, vào quý 1 năm
2019, đã có thêm 26 đơn vị tham gia tăng gấp 6,5 lần so với năm
2018. Số tài khoản được mở thông qua dịch vụ công thì năm 2018 có
7 tài khoản; quý 1 năm 2019 có 99 tài khoản được mở thông qua
chương trình DVC trực tuyến tăng 14,14 lần so với năm 2018. Về


17
chất lượng KSC thông qua DVC trực tuyến giữa năm 2018 so với
quý 1 năm 2019 cũng tăng lên đáng kể về số món chấp nhận thanh
toán, số tiền chấp nhận thanh toán cũng như số món từ chối thanh
toán và số tiền từ chối thanh toán. Điều này cho thấy, công tác KSC
thường xuyên NSNN qua KBNN Ngũ Hành Sơn trong điều kiện ứng
dụng DVC trực tuyến đang có những có rất nhiều thuận lợi. Trong
năm 2019, KBNN Ngũ Hành Sơn đang tiếp tục triển khai thực hiện,
dự kiến đến tháng 7 năm 2019 sẽ hoàn thành.
Bảng 2.2. Số liệu các khoản chi thường xuyên (theo cấp ngân
sách) của KBNN Ngũ Hành Sơn giai đoạn 2018-2019
Đơn vị tính: triệu đồng
Ngân sách Ngân

Năm

trung ương sách tỉnh

2018
Quý 1/ 2019

Ngân
sách
huyện

Ngân

Tổng

sách xã

cộng

130.013

224.909

722.318

98.410 1.175.648

22.076

34.015

102.653

20.039

178.783

(Nguồn báo cáo KBNN Ngũ Hành Sơn)
Bảng 2.2 phản ánh kết quả công tác KSC thường xuyên NSNN
của KBNN Ngũ Hành Sơn trong năm 2018 và quý 1 năm 2019 qua 4
cấp ngân sách từ trung ương đến địa phương.
Năm 2018, tổng chi NSNN là 1.175.648 triệu đồng. Trong đó,
số chi ngân sách trung ương là 130.013 triệu đồng chiếm tỉ lệ 11%
trong tổng số chi NSNN, số chi ngân sách tỉnh là 224.909 triệu đồng
chiếm tỉ lệ 19% trong tổng số chi NSNN, số chi ngân sách quận là
722.318 triệu đồng chiếm tỉ lệ 62% trong tổng số chi NSNN, số chi
ngân sách phường là 98.410 triệu đồng chiếm tỉ lệ 8% trong tổng số
chi NSNN. Trong quý 1 năm 2019, tổng chi thường xuyên NSNN


18
của quý 1 là 178.783 triệu đồng. Trong đó, số chi ngân sách trung
ương là 22.076 triệu đồng chiếm tỉ lệ 12% trong tổng số chi NSNN
của quý 1, số chi ngân sách tỉnh là 34.015 triệu đồng chiếm tỉ lệ 19%
trong tổng số chi NSNN của quý 1, số chi ngân sách quận là 102.653
triệu đồng chiếm tỉ lệ 58% trong tổng số chi NSNN của quý 1, số chi
ngân sách phường là 20.039 triệu đồng chiếm tỉ lệ 11% trong tổng số
chi NSNN của quý 1.
Ngoài các số liệu phản ánh về kết quả công tác KSC thường
xuyên NSNN qua KBNN Ngũ Hành Sơn trong điều kiện ứng dụng
DVC trực tuyến thì các cách nhận diện rủi ro và các biện pháp kiểm
soát rủi ro cũng là một trong những kết quả to lớn của công tác KSC
thường xuyên NSNN trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến của
KBNN Ngũ Hành Sơn. Các cách nhận diện rủi ro và các biện pháp
kiểm soát rủi ro mà KBNN Ngũ Hành Sơn đã giúp cho KBNN Ngũ
Hành Sơn có cơ sở để thực hiện KSC thường xuyên NSNN hiệu quả
hơn.
2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC
NHÀ NƯỚC TRONG ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG DỊCH VỤ
CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC NGŨ
HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.3.1. Những kết quả đạt được
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
a. Những tồn tại
b. Nguyên nhân


19
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG
ĐIỀU KIỆN ỨNG DỤNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN TẠI
KHO BẠC NHÀ NƯỚC NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG
3.1. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
3.1.1. Nâng cao năng lực, trình độ tin học, khả năng ứng
dụng công nghệ thông tin vào quá trình kiểm soát chi thường
xuyên ngan sách nhà nước cho đội ngũ cán bộ Kho bạc Nhà
nước Ngũ Hành
Để triển khai thành công công tác KSC thường xuyên NSNN
qua KBNN trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến thì nhiệm vụ
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của KBNN Ngũ Hành Sơn là
hết sức quan trọng, cần phải được chú tâm, chú trọng. Vì vậy, để đáp
ứng yêu cầu cao của công tác này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức
KBNN Ngũ Hành Sơn phải có trình độ tin học, khả năng năng dụng
CNTT vào quá trình KSC thường xuyên NSNN thật vững vàng; cán
bộ KBNN Ngũ Hành Sơn phải bình tĩnh, tự tin, chủ động, linh hoạt
ứng phó với những sự cố hay lỗi xảy ra của chương trình DVC trực
tuyến.
3.1.2. Tăng cường nghiên cứu hoàn thiện các ứng dụng
trên chương trình dịch vụ công trực tuyến
Một trong những hạn chế còn tồn tại hiện nay tại đơn vị đó là
việc khai thác các báo cáo, khai thác số liệu chi thường xuyên NSNN
của các đơn vị tham gia DVC trên chương trình DVC trực tuyến còn
chậm, việc truy vấn số món, số tiền đã thanh toán của chứng từ thuộc


20
ngày quá khứ cũng còn chậm, và chương trình chưa có chức năng
tổng hợp số liệu, … Vì vậy, KBNN Ngũ Hành Sơn cần nghiên cứu
hơn nữa để hoàn thiện những nhược điểm của chương trình DVC.
3.1.3. Tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về công
tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước trong điều
kiện ứng dụng dịch vụ công trực tuyến tại Kho bạc Nhà nước
Ngũ Hành Sơn
KBNN Ngũ Hành Sơn cần phải tăng cường công tác tuyên
truyền, phổ biến thông tin về công tác KSC thường xuyên NSNN qua
KBNN Ngũ Hành Sơn trong điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến.
Công tác tuyên truyền nhằm giúp các cấp, ngành có liên quan và đội
ngũ cán bộ, công chức KBNN Ngũ Hành Sơn, các ĐVSDNS trên địa
bàn quận Ngũ Hành Sơn trước hết là biết và nhận thức đúng đắn về ý
nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của quá trình cải cách hoạt động
KBNN.
3.1.4. Hoàn thiện kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ
sơ, chứng từ chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Kho bạc
Nhà nước Ngũ Hành Sơn trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công
trực
Để hoàn thiện kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ, chứng
từ chi thường xuyên NSNN trong điều kiện ứng dụng DVC trực
tuyến thì KBNN Ngũ Hành Sơn cần nhanh chóng triển khai việc
thực hiện khai báo và giao nhận hồ sơ KSC trên chương trình DVC
trực tuyến KBNN thay cho việc giao nhận hồ sơ giấy tại quầy giao
dịch.
3.1.5. Hoàn thiện kiểm soát tính pháp lý của chữ ký điện tử
của đơn vị sử dụng ngân sách
Trong công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN trong


21
điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến thì chữ ký điện tử của ĐVSDNS
là một trong những đặc trưng của công tác này. Để đảm bảo tính
pháp lý của chữ ký điện tử thì chữ ký điện tử chứa đựng những thông
tin thể hiện đầy đủ tính pháp lý như: Họ và tên người ký, số chứng
minh thư nhân dân của người ký, đơn vị công tác của người ký, chức
vụ công tác của người ký, thời gian ký, …
Việc ứng dụng chữ ký số trong quá trình kiểm tra, kiểm soát hồ
sơ KSC điện tử, ký duyệt xử lý hồ sơ sẽ giảm thời gian đi lại của đơn
vị do không cần làm việc trực tiếp tại KBNN Ngũ Hành Sơn.
3.2. KIẾN NGHỊ
3.2.1. Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn cần nâng cấp hệ
thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công nghệ
thông tin
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng CNTT,
việc ứng dụng CNTT trong hệ thống KBNN Ngũ Hành Sơn là xu thế
tất yếu, vừa hỗ trợ, vừa thức đẩy và tác động mạnh mẽ đến việc hoàn
thiện quy trình KSC thường xuyên NSNN qua KBNN, đặc biệt trong
điều kiện ứng dụng DVC trực tuyến. Vì vậy, việc hiện đại hóa CNTT
là cấp bách và cần thiết.
3.2.2. Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn cần phối hợp chặc
chẽ với cơ quan tài chính, nâng cao trách nhiệm của cơ quan
tham gia vào quá trình kiểm soát chi thường xuyên ngân sách
nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
Phối hợp chặc chẽ với cơ quan tài chính trên địa bàn quận Ngũ
Hành Sơn là một việc làm rất cần thiết và nên thiết thực. KBNN Ngũ


22
Hành Sơn chủ động phối hớp để cơ quan tài chính cấp dự toán cho
ĐVSDNS một cách kịp thời nhằm tránh tình trạng đơn vị gửi chứng
từ đến thanh toán nhưng lại không có dự toán. Ảnh hưởng đến lòng
tin của ĐVSDNS vào chương trình DVC trực tuyến của KBNN Ngũ
Hành Sơn.


23
KẾT LUẬN
NSNN là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống
lạm phát, là công cụ định huớng phát triển sản xuất, là công cụ điều
chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. NSNN là công cụ tài chính
quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt động của bộ
máy nhà nước, là công cụ thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Chính vì vậy
NSNN có vai trò vô cùng quan trọng. Để thực hiện được vai trò đó,
NSNN phải được quản lý, kiểm soát chặc chẽ, khoa học, tiết kiệm và
hiệu quả. Vì vậy, công tác KSC NSNN nói chung và công tác KSC
thường xuyên NSNN nói riêng giữ vai trò quan trọng trong công tác
quản lý NSNN.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của đất nước, cuộc cách
mạng CNTT ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. CNTT tham gia vào
mọi hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước, trong đó có
hoạt động của KBNN, cụ thể tham gia vào hoạt động KSC thường
xuyên NSNN thông qua chương trình DVC trực tuyến. Ứng dụng
DVC trực tuyến vào công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN
đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác KSC thường
xuyên NSNN qua KBNN. Đồng thời làm lành mạnh nền tài chính,
nâng cao tính công khai, minh bạch, dân chủ, trong việc sử dụng
nguồn lực tài chính quốc gia.
Vì vậy nghiên cứu “Hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách nhà nước trong điều kiện ứng dụng dịch vụ công trực
tuyến tại Kho bạc Nhà nước Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” là
nội dung hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với KBNN
Ngũ Hành Sơn trong việc kiểm soát, quản lý các khoản chi thường
xuyên NSNN trên địa bàn trong điều kiện mới.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×