Tải bản đầy đủ

Giao an

PHẦN ĐỌC HIỂU
BÀI 1. PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Lê Anh Trà

Nội dung: Bài Phong cách Hồ Chí Minh của tác giả Lê Anh Trà nói về phong cách
làm việc, phong cách sống tuyệt vời, thanh cao mà giản dị của Bác Hồ. Nền tảng cơ
bản tạo nên vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền
thống và hiện đại, giữa tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, giữa
vĩ đại và giản dị. => Góp phần khẳng định tầm vóc văn hóa của chủ tịch HCM –
lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, danh nhân văn hóa TG
Bố cục: 1. Từ đầu – rất mới, rất hiện đại: Sự tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại của
Hồ Chí Minh
2. Còn lại: Nét đẹp trong lối sống giản dị, thanh cao của Hồ Chí Minh.
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN:
1. Hồ Chí Minh có một vốn tri thức văn hoá nhân loại sâu rộng. Đó là những hiểu
biết uyên thâm về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoá thế giới từ Đông sang
Tây, từ văn hoá các nước châu Á, châu Âu cho đến châu Phi, châu Mĩ. Để có được
vốn tri thức văn hoá sâu rộng ấy, Người đã:
- Học tập để nói và viết thạo nhiều thứ tiếng nước ngoài như: Pháp, Anh, Hoa,
Nga…;
- Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề - tức là học hỏi từ thực tiễn và lao động;

- Tìm hiểu văn hoá, nghệ thuật của các khu vực khác nhau trên thế giới một cách
sâu sắc, uyên thâm;
=> Phương châm đúng đắn: “đã tiếp thu mọi cái đẹp và cái hay đồng thời với việc
phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản,…
=> Ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hoá dân tộc không gì lay
chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất
bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện
đại”.


=> Nói một cách tổng quát: là sự chủ động lựa chọn, tiếp thu những thành tựu văn
hoá của nhân loại một cách có phê phán dựa trên nền tảng căn bản của văn hoá dân
tộc. Nói ở Bác Hồ có sự thống nhất giữa dân tộc và nhân loại
2. Những biểu hiện chứng tỏ lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông
của Hồ Chí Minh:
- Nơi ở và nơi làm việc rất mộc mạc đơn sơ: “chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh
chiếc ao”, chiếc nhà sàn “chỉ vẻn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị,
làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc đơn sơ”;
- Trang phục hết sức giản dị: bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp
thô sơ;
- Ăn uống rất đạm bạc: cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa…
3. Lối sống của Hồ Chí Minh giản dị mà thanh cao một cách tự nhiên:
- Giản dị mà không kham khổ;
- Không phải là một cách tự thần thánh hoá, tự làm cho khác đời, hơn đời mà xuất
phát từ cốt cách, từ trong quan niệm thẩm mĩ thuần thục, tự nhiên của nhân cách
Hồ Chí Minh.
4. Những biện pháp được sử dụng nhằm làm nổi bật phong cách Hồ Chí Minh
trong bài văn:
- Sử dụng lập luận: tiêu biểu là ở đoạn nói về vốn tri thức văn hoá sâu rộng và
phương châm học hỏi của Hồ Chí Minh;
- Phân tích thực tế: những biểu hiện cụ thể trong lối sống của Bác;
- Thủ pháp tương phản: chủ tịch nước - bình dị, mộc mạc; tri thức văn hoá phương
Đông - tri thức văn hoá phương Tây; rất truyền thống, rất Việt Nam - rất hiện đại,
nhân loại.
- So sánh: Hồ Chủ Tịch - vị tiên siêu phàm, các hiền triết ngày xưa (Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm). “ Thu ăn măng trúc đông ăn giá – Hạ tắm ao sen, hè tắm ao”
II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG:


- Hiểu về văn bản nhật dụng: Là loại văn bản đề cập, bàn luận, thuyết minh đến
những, tường thuật, miêu tả, đánh giá về những vấn đề, hiện tượng gần gũi, bức
xúc với cuộc sống của con người và cộng đồng (tính cập nhật, thời sự: báo chí)
- Qua bài văn có những suy ngẫm, liên tưởng đến các vấn đề hoặc bài học về cuộc
sống và XH”
+ Hiểu hơn về chủ tịch HCM => Giới thiệu cho bạn bè quốc tế, lòng tự hào dân tộc
+ Rút ra được những bài học cho chính bản thân mình:





Lối sống giản dị của Bác
Học tập, tiếp thu kiến thức một cách có chọn lọc
Tính phê phán với cái xấu, không phù hợp trong quá trình tiếp nhận tri thức
Chủ động tìm hiểu kiến thức XH,VH, đi nhiều học nhiều,…

Câu chuyện bên ngoài: Ở Paris có 1 bức tường đặc biệt có hình ảnh của những
con người đã làm nên thế kỉ 20, trong đó có Bác Hồ của chúng ta. Những câu
chuyện khác về Bác Hồ: bài học về tiết kiệm,


BÀI 2: ĐẤU TRANH CHO MỘT THẾ GIỚI HÒA BÌNH
(G. G. Mác-két)
Nội dung: Nói về nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn bộ sự sống trên
Trái Đất, do vậy nhiệm vụ cấp bách của toàn thể nhân loại là ngăn chặn nguy cơ đó
chính là Đấu tranh cho một thế giới hòa bình
Bố cục:
1. Từ đầu – sống tốt đẹp hơn: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đè nặng lên toàn
trái đất
2. Tiếp theo – xuất phát của nó: Những chứng cứ cho sự nguy hiểm và phi lý của
chiến tranh hạt nhân ( có thể chia thành 2 đoạn nhỏ chiến tranh hạt nhân ngược lí trí
nhân loại và lí trí tự nhiên)
3. Còn lại: Nhiệm vụ của nhân loại và lời đề nghị khiêm tốn của tác giả.
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Luận điểm và hệ thống luận cứ của văn bản:
- Luận điểm: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ toàn thể loài người và sự
sống trên trái đất, vì vậy đấu tranh cho hoà bình, ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ
chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thân và cấp bách của mỗi người, toàn thể loài
người.
- Hệ thống luận cứ:
+ Số lượng vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh
đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh khác nữa và phá huỷ thế thăng
bằng của hệ Mặt Trời;
+ Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân làm mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn của toàn
thế giới. Dẫn chứng: so sánh giữa chi phí cho các lĩnh vực xã hội, cứu trợ y tế, hỗ
trợ phát triển sản xuất lương thực, thực phẩm, giáo dục… với chi phí khổng lồ cho
việc chạy đua vũ trang, vũ khí hạt nhân từ đó chứng tỏ tính chất điên cuồng, phi lí
của các hoạt động này;


+ Chạy đua vũ trang không những là đi ngược lại lí trí của loài người mà còn đi
ngược với quy luật tiến hoá của tự nhiên, phi văn minh, phản lại sự tiến bộ của xã
hội loài người;
+ Vì vậy phải chống lại chạy đua vũ trang, đấu tranh vì một thế giới không có vũ
khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng.
2. Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ loài người và toàn bộ sự sống trên
Trái Đất. Tác giả đã làm rõ tính nghiêm trọng của nguy cơ này bằng cách:
- Xác định thời điểm cụ thể của thông tin: ngày 8 - 8 - 1986;
- Đưa ra số liệu cụ thể về trữ lượng đầu đạn hạt nhân: 50 000 đầu đạn hạt nhân trên
khắp hành tinh;
- Giải thích về khả năng huỷ diệt của nó: mỗi người như đang ngồi trên 4 tấn thuốc
nổ, có khả năng huỷ diệt 12 lần toàn bộ sự sống trên Trái Đất, có khả năng tàn phá
tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn hành tinh khác nữa
và phá huỷ thế thăng bằng của hệ Mặt Trời.
Tác giả đã sử dụng phương pháp nêu số liệu, giải thích dựa trên những tính toán lí
thuyết khoa học, chính xác, cụ thể hoá để thuyết minh về nguy cơ của vũ khí hạt
nhân.
3. Bằng lập luận chặt chẽ, chứng cứ rõ ràng, xác thực, tác giả đã chỉ ra sự tốn kém
và tính chất phi lí của chạy đua vũ trang. Cụ thể:
- Lí lẽ: “Chỉ sự tồn tại của nó không thôi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ
phóng cái chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn.”
+ Dẫn chứng về chương trình không thực hiện được của UNICEF vì thiếu kinh phí;
+ Dẫn chứng về y tế;
+ Dẫn chứng về tiếp tế thực phẩm;
+ Dẫn chứng về giáo dục.
- Điều quan trọng là: trong mỗi dẫn chứng, tác giả đã đưa ra sự so sánh cụ thể để
làm nổi bật tính phi lí của chạy đua vũ trang. Những số liệu cụ thể trong mỗi sự so
sánh tự nó có sức thuyết phục mạnh mẽ.


4. Mác-két đã cảnh báo về nguy cơ huỷ diệt sự sống và nền văn minh một khi chiến
tranh hạt nhân xảy ra, rằng chiến tranh hạt nhân không những đi ngược lại lí trí con
người mà đi ngược lại cả lí trí tự nhiên. Để hiểu được nội cảnh báo này, cần phải
cắt nghĩa được “lí trí con người” và “lí trí tự nhiên” ở đây là gì. Có thể hiểu “lí trí
con người” là quy luật phát triển của văn minh loài người và “lí trí tự nhiên” là quy
luật tiến hoá tất yếu của tự nhiên, sự sống. Từ đó để hiểu: chiến tranh hạt nhân xảy
ra sẽ phá huỷ, xoá sạch những thành quả tiến hoá của văn minh loài người cũng
như tiến trình tiến hoá của sự sống, tự nhiên trên Trái Đất. Luận cứ cảnh báo này
được làm sáng tỏ bằng những chứng cứ với số liệu cụ thể về thời gian tiến hoá của
sự sống con người và tự nhiên trong thế đối sánh với sức tàn phá của chiến tranh
hạt nhân.
5. Nhan đề Đấu tranh cho một thế giới hoà bình thể hiện chủ đề của bài văn. Lời
kêu gọi đấu tranh cho một thế giới hoà bình được rút ra sau những luận cứ rõ ràng,
nó như luận điểm kết luận của toàn bộ lập luận mà tác giả đã xây dựng rất thuyết
phục. Như vậy, vấn đề là muốn ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân thì
phải xác định một thái độ hành động tích cực, đấu tranh cho hoà bình vì sự sống
của chính con người. Thông điệp này của Mác-két mang ý nghĩa thời đại, có tính
nhân văn sâu sắc.
II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
1. Đây là văn bản nhật dụng thuộc loại nghị luận chính trị, xã hội. Tác giả nêu ra
hai luận điểm cơ bản có liên quan mật thiết với nhau :
- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đe doạ cuộc sống trên trái đất.
- Nhiệm vụ cấp bách của nhân loại là phải ngăn chặn nguy cơ đó, đồng thời đấu
tranh cho một thế giới hoà bình.
Để làm sáng tỏ hai luận điểm trên, tác giả đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ,
đặc biệt là những dẫn chứng rất cụ thể, xác thực, giàu sức thuyết phục.
2. Tính cập nhật, tính phản biện, tranh luận rất cao => Văn học không chỉ là cảm
xúc hoặc những cái gì lãng mạn đôi khi văn học còn là công cụ để tạo ra những
thay đổi về nhận thức của con người và XH đối với những vấn đề cụ thể.
3. Đặc điểm của văn nghị luận xh: tính cấp thiết, luận điểm rõ ràng, luận cứ chặt
chẽ, có sức thuyết phục => thường thấy trong các bài diễn giải, kêu gọi,…


Câu chuyện bên ngoài: Thế kỉ XX đánh đấu sự phát triển nhảy vọt tiến bộ về công
nghệ khoa học với phát minh đầu tiên về nguyên tử hạt nhân, đồng thời là phát
minh loại vũ khí hủy diệt loài người ghê gớm nhất. Bằng chứng cụ thể: Tháng
8/1945 2 quả bom nguyên tử của Mĩ ném xuống 2 thành phố Hirôsima và Nagasaki
đã hủy diệt 2 triệu người Nhật Bản mà đến bây giờ còn để lại nhiều di chứng
thương tâm
Đoạn 1: Thế kỉ XX đánh đấu sự phát triển nhảy vọt tiến bộ về công nghệ khoa học
với phát minh đầu tiên về nguyên tử hạt nhân, đồng thời là phát minh loại vũ khí
hủy diệt loài người ghê gớm nhất. Bằng chứng cụ thể: Tháng 8/1945 2 quả bom
nguyên tử của Mĩ ném xuống 2 thành phố Hirôsima và Nagasaki đã hủy diệt 2 triệu
người Nhật Bản mà đến bây giờ còn để lại nhiều di chứng thương tâm
Đoạn 2: Ngăn chặn nguy cơ chiến tranh là nhiệm vụ của nhân loại: Năm 2006 Liên
hợp quốc, Nga và nhân dân thế giới phản đối kịch liệt vụ thử thành công hạt nhân
của CH nhân dân Triều Tiên (sau 4 năm chuẩn bị dưới lòng đất) bất chấp mọi sức
ép của cộng đồng thế giới.
Tháng 4/2003, IRan đã từng bị thế giới trừng phạt vì sử dụng vũ khí hạt nhân
Tháng 11/2007, IRan vẫn sử dụng chất phóng xạ Uranium để phát triển vũ khí hạt
nhân hiện đang bị lên án kịch liệt về vấn đề này.
=> Rõ ràng hiện nay cả thế giới rất căm phận và lên án một số nước còn đối đầu sự
sống của loài người trong việc sử dụng vì khí hạt nhân để thực hiện mục đích lợi
nhuận của mình làm ảnh hưởng đến hòa bình của nhân loại.


BÀI 3:
TUYÊN BỐ THẾ GIỚI VỀ SỰ SỐNG CÒN,
QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
Nội dung: Nói lên phần nào cuộc sống của trẻ em trên thế giời hiện nay và tầm
quan trọng của vấn đề chăm sóc trẻ em. Đó là vấn đề thuộc về mục tiêu hàng đầu
của toàn cầu vì tương lai của trẻ em và nhân loại
Bố cục: 3 phần
1. Phần thách thức: Nêu lên những thực tế,những con số về cuộc sống khổ cực trên
nhiều mặt,về tình trạng bị rơi vào hiểm họa của nhiều trẻ em trên thế giới hiện nay.
+Phần Cơ hội: Khẳng định những điều kiện thuận lợi cơ bản để cộng đồng quốc tế
có thể đẩy mạnh việc chăm sóc,bảo vệ trẻ em.
+Phần Nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cụ thể mà từng quốc gia và cả cộng
đồng quốc tế cần làm vì sự sống còn,phát triển của trẻ em.Những nhiệm vụ này
được nêu lên một cách hợp lí và tính cấp bách bởi trên cơ sở tình trạng,điều kiện
thực tế
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Văn bản Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của
trẻ em gồm 17 mục, ngoài phần tuyên bố về mục đích tham dự Hội nghị cấp cao
thế giới về trẻ em và nhận thức về nhu cầu, quyền được chăm sóc, phát triển của trẻ
em, văn bản được bố cục thành ba phần:
- Phần Sự thách thức: phân tích thực trạng cuộc sống của trẻ em trên thế giới (trẻ
em trước hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, trẻ em trong thảm hoạ đói nghèo, khủng
hoảng kinh tế, dịch bệnh, ma tuý…);
- Phần Cơ hội: Chỉ ra những điều kiện thuận lợi của bối cảnh quốc tế trong việc
thúc đẩy việc chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em;
- Phần Nhiệm vụ: Xác định những nhiệm vụ cần phải thực hiện của từng quốc gia
và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em.
Ba phần của văn bản này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hai phần trước là cơ sở,
căn cứ để rút ra những nội dung ở phần sau.


2. Thực tế cuộc sống của trẻ em trên thế giới đã được nêu lên ở phần Sự thách thức.
Thực trạng này được khái quát theo những nội dung:
- Trẻ em trở thành nạn nhân của hiểm hoạ chiến tranh và bạo lực, của sự phân biệt
chủng tộc, của sự xâm lược, chiếm đóng và thôn tính của nước ngoài;
- Trẻ em là nạn nhân của đói nghèo và khủng hoảng kinh tế, của nạn vô gia cư, dịch
bệnh, mù chữ, môi trường xuống cấp;
- Tình trạng trẻ em chết do suy dinh dưỡng và bệnh tật, ma tuý.
Những nội dung về thực trạng cuộc sống của trẻ em đặt ra những nhiệm vụ cấp
bách cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế.
3. Bối cảnh quốc tế hiện nay có những điều kiện thuận lợi cơ bản để thực hiện
nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Những điều kiện thuận lợi này được chỉ ra trong
phần Cơ hội, cụ thể là:
- Mối liên kết về phương tiện, kiến thức giữa các quốc gia: công ước về quyền trẻ
em;
- Sự hợp tác và đoàn kết quốc tế mở ra những khả năng giải quyết những vấn đề về
phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ngăn chặn dịch bệnh, giải trừ quân bị, tăng
cường phúc lợi trẻ em.
4. Dựa trên tình hình thực tế, trong phần Nhiệm vụ, bản Tuyên bố đã đề ra những
nhiệm vụ cụ thể cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế vì sự sống còn, quyền
được bảo vệ và phát triển của trẻ em. Những nội dung này thể hiện tính toàn diện
trong việc định hướng hành động. Mỗi một mục tương ứng với một phương diện
cần quan tâm: từ việc chăm sóc sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, giảm tỉ lệ tử vong,
quan tâm đến trẻ em tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bình đẳng trai - gái, xoá
mù chữ, quan tâm đến sức khoẻ sinh sản của phụ nữ, kế hoạch sinh nở đến việc chú
ý tạo môi trường văn hoá xã hội lành mạnh, phát triển kinh tế…
5. Bản tuyên bố cho chúng ta thấy được tầm quan trọng, tính cấp bách, toàn cầu của
nhiệm vụ vì sự sống còn, quyền được bảo vệ, phát triển của trẻ em. Trên tinh thần
vì tương lai của nhân loại, bản Tuyên bố đã đưa ra những nhiệm vụ cũng là chiến
lược hành động một cách toàn diện cho từng quốc gia và cộng đồng quốc tế. Công
việc này còn đòi hỏi sự quan tâm của từng gia đình, từng cá nhân trong mỗi cộng
đồng.


II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
Tuy chỉ là một trích đoạn nhưng bài viết này có thể coi là một văn bản khá hoàn
chỉnh về hiện thực và tương lai của trẻ em cũng như những nhiệm vụ cấp thiết mà
cộng đồng quốc tế phải thực hiện nhằm đảm bảo cho trẻ em có được một tương lai
tươi sáng.
Ngoài hai ý mở đầu, bài viết được chia thành ba phần rất rõ ràng:
Phần một (sự thách thức): thực trạng cuộc sống khốn khổ của rất nhiều trẻ em trên
thế giới - những thách thức đặt ra với các nhà lãnh đạo chính trị.
Phần hai (cơ hội): những điều kiện thuận lợi đối với việc bảo vệ và phát triển cuộc
sống, đảm bảo tương lai cho trẻ em.
Phần ba (nhiệm vụ): những nhiệm vụ cụ thể, cấp thiết cần thực hiện nhằm bảo vệ
và cải thiện đời sống, vì tương lai của trẻ em.
Câu chuyện bên ngoài:
Trẻ em là tương lai của đất nước: chăm sóc, bảo vệ và tạo điều kiện cho trẻ em phát
triển chính là bảo vệ tương lai của đất nước và rộng hơn là tương lai nhân loại.
Ví dụ về những trẻ em ở các nước phát triển được hưởng một nền giáo dục tiên tiến
=> thần đồng
Ví dụ những trẻ em ở những nước nghèo đói, chiến tranh => tình trạng vô gia cư,
thất học, chết đối, nạn nhân chiến tranh
Theo em thì ở Việt Nam có những chính sách gì bảo vệ và chăm sóc trẻ em?


BÀI 4: CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
(Truyền kì mạn lục)
Nguyễn Dữ
Nội dung: Nói về vẻ đẹp truyền thống của người Phụ nữ VN và số phận nhỏ nhoi bi
thảm của họ dưới chế độ thực dân phong kiến. Người con gái Nam Xương là một
truyện phóng tác dựa trên câu chuyện xảy ra và lưu truyền trong dân gian từ thế kỉ
trước. Tác giả muốn mượn chuyện xưa để nói chuyện nay. Thông qua truyện ông
đã tố cáo xã hội phong kiến suy tàn với bao cuộc chiến tranh liên miên, gây đau
thương tang tóc cho dân lành. Đồng thời, nhà văn cả ngợi người phụ nữ đảm đang,
hiếu nghĩa, kiên trinh, Truyện Người con gái Nam xương có giá trị hiện thực, nhân
đạo lớn và giá trị nghệ thuật đặc sắc.
Bố cục:
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Có thể hình dung bố cục của truyện Chuyện người con gái Nam Xương thành ba
phần. Phần thứ nhất (từ đầu cho đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”) kể về
cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh, biến cố chia li và phẩm hạnh của
Vũ Nương khi chồng đi chiến trận. Phần thứ hai (từ “Qua năm sau, giặc ngoan cố”
cho đến “nhưng việc trót đã qua rồi!”) kể về nỗi oan khuất và cái chết thương tâm
của Vũ Nương. Phần cuối (từ “Cùng làng với nàng” cho đến hết) kể về cuộc gặp gỡ
tình cờ giữa Phan Lang và Vũ Nương trong động của Linh Phi vợ vua biển Nam
Hải và việc Vũ Nương được giải oan.
2. Vũ Nương là nhân vật trung tâm của truyện. Để khắc hoạ vẻ đẹp tâm hồn của Vũ
Nương, tác giả đã đặt nhân vật này vào những hoàn cảnh khác nhau để miêu tả.
Trước hết, tác giả đặt nhân vật vào mối quan hệ vợ chồng trong cuộc sống hằng
ngày: “Trương Sinh có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.”; trong hoàn
cảnh này, Vũ Nương đã “giữ gìn khuôn phép, không từng lần nào vợ chồng phải
đến thất hoà.”.
Tiếp đến, tác giả đặt Vũ Nương vào trong tình huống chia li để nhân vật này bộc lộ
tình nghĩa thắm thiết của mình với chồng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám
mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang
theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. […] Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn


áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người
đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.”.
Hoàn cảnh thứ ba: xa chồng, nuôi con nhỏ, chăm sóc mẹ già; trong hoàn cảnh này,
Vũ Nương là một người vợ thuỷ chung, yêu chồng tha thiết: “Ngày qua tháng lại,
thoắt đã nửa năm, mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn
góc bể chân trời không thể nào ngăn được.”, một người mẹ hiền, dâu thảo, ân cần,
hết lòng chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau: “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần
phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn.”, thương yêu, lo lắng chu toàn:
khi mẹ chồng mất “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như
đối với cha mẹ đẻ mình.”.
Một hoàn cảnh quan trọng khác, đó là tình huống Vũ Nương bị chồng nghi oan.
Trong tình huống này, khí tiết, phẩm hạnh của Vũ Nương được bộc lộ một cách rõ
nét. Chú ý phân tích các lời thoại của Vũ Nương với chồng và lời nói trước khi tự
vẫn để thấy được tính cách tốt đẹp của nhân vật này. Qua những lời tự minh oan
cho mình, thuyết phục chồng, lời than thở đau đớn vì oan nghiệt, Vũ Nương đã bộc
lộ khao khát về tình yêu, hạnh phúc gia đình như thế nào? Tại sao Vũ Nương lại
phải trẫm mình tự vẫn? Hành động này cho thấy lòng tự trọng, ý thức giữ gìn danh
dự, tiết hạnh ở người phụ nữ này ra sao?
Tóm lại, bằng cách đặt nhân vật vào những hoàn cảnh, tình huống khác nhau, tác
giả đã khắc hoạ đậm nét một nhân vật Vũ Nương hiền thục, một người vợ thuỷ
chung, yêu thương chồng con hết mực, một người con dâu hiếu thảo, hết lòng vì
cha mẹ, gia đình, đồng thời cũng là người phụ nữ coi trọng danh dự, phẩm hạnh,
quyết bảo vệ sự trong sạch của mình.
3. Tác giả đã xây dựng nhân vật Trương Sinh với tính cách rõ nét: “đa nghi, đối với
vợ phòng ngừa quá sức.”, nghe lời con trẻ mà không suy xét đúng sai: “Tính chàng
hay ghen, nghe con nói vậy, đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày càng sâu, không
có gì gỡ ra được.”, hồ đồ, độc đoán không đếm xỉa đến những lời thanh minh của
vợ, đối xử tệ bạc, vũ phu với Vũ Nương: “chỉ lấy chuyện bóng gió này nọ mà mắng
nhiếc nàng, và đánh đuổi đi”. Chính Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương đến tình cảnh
bi kịch, không lối thoát và phải chọn cái chết để giải thoát. Qua đây cũng thấy được
thân phận nhỏ nhoi, bèo bọt của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến, họ không
được làm chủ cuộc sống của mình, luôn luôn là kẻ bị động, hứng chịu những oan
khiên, cay đắng.


4. Trên cơ sở cốt truyện có sẵn trong kho tàng truyện cổ tích (Vợ chàng Trương),
tác giả đã sáng tạo lại, sắp xếp, đưa thêm những yếu tố mới để câu chuyện trở nên
hấp dẫn, đầy tính bất ngờ, mang ý nghĩa mới sâu sắc. Tác giả đã dẫn dắt câu
chuyện có mở đầu, diễn biến, cao trào, thắt nút, cởi nút, kết thúc, kết hợp với nghệ
thuật xây dựng lời thoại nhân vật sinh động, giàu kịch tính và lời dẫn chuyện giàu
tính biểu cảm. Trong đó, các đoạn đối thoại, độc thoại của nhân vật có một vai trò
hết sức quan trọng, chứng tỏ nghệ thuật dựng truyện đặc sắc của tác giả. Chú ý các
lời thoại:
- Lời của Vũ Nương nói với Trương Sinh khi từ biệt;
- Lời của mẹ Trương Sinh nói với Vũ Nương;
- Đoạn đối thoại giữa hai cha con Trương Sinh;
- Ba lời thoại của Vũ Nương khi bị nghi oan.
Phân tích các lời thoại để thấy được tác dụng của chúng trong việc thể hiện tính
cách nhân vật, diễn biến tâm lí nhân vật, tạo kịch tính cho câu chuyện.
5. Truyền kì được hiểu là những điều kì lạ vẫn được lưu truyền. Yếu tố kì ảo trong
truyện truyền kì có một vai trò rất quan trọng. Nó khiến câu chuyện được kể trở
nên lung linh, hư ảo. Chẳng hạn: chuyện nằm mộng của Phan Lang, Chuyện Phan
Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi,… chuyện lập đàn giải oan, Vũ
Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc
hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”. Đó là đặc điểm
chung của thể loại truyền kì trung đại. Hơn nữa, Nguyễn Dữ đã sử dụng cách đưa
yếu tố truyền kì vào câu chuyện kết hợp với các yếu tố tả thực để tạo hiệu quả nghệ
thuật về tính chân thực của truyện (các yếu tố tả thực: địa danh, thời điểm lịch sử,
sự kiện lịch sử, miêu tả chân dung nhân vật, khung cảnh…). Ngoài ra, sự có mặt
của các yếu tố kì ảo đã tạo ra một thế giới ước mơ, khát vọng của nhân dân về sự
công bằng, bác ái.
II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
Đây là truyện có dạng truyền kỳ: các yếu tố hiện thực đan xen với những yếu tố kì
ảo tạo nên sự hấp dẫn đối với bạn đọc. Chủ đề của truyện cũng khá rõ ràng: đề cao,
ca ngợi phẩm hạnh của người phụ nữ, đồng thời thể hiện niềm cảm thương cho số
phận bất hạnh của họ dưới chế độ phong kiến.


Có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nương nhảy xuống sông
tự tử:
Đoạn 1 (từ đầu đến "và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ"): bị chồng nghi oan. Vũ
Nương tự vẫn.
Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan được giải, Vũ Nương được cứu sống nhưng vẫn không trở
về đoàn tụ cùng gia đình.
- Cách phân tích nội dung và thông điệp của truyện thông qua hình ảnh nhận vật và
những sự kiện được xây dựng:
+ Có thể nói, hiện thực được nhà văn phản ánh trong truyện chính là hiện thực của
xã hội phong kiến đương thời. Giai cấp thống trị lục dục, mâu thuẫn gay gắt, chiến
tranh xảy ra liên miên dẫn đến tình cảnh cơ cực, đau thướng của số đông dân
chúng. Cũng như bao trai tráng khác trên khắp đất nước, Trương Sinh phải từ biệt
mái ấm gia đình để tham gia chinh chiến. Cảnh chia li buồn đến tê lòng. Mẹ già
khuyên con giữ gìn nơi trận mạc, vợ trẻ chỉ mong chổng được bình yên cho đến
ngày trở về đoàn tụ. Trương Sinh ra đi, để lại bao vất vả cho người vợ trẻ. Vũ
Nương thay chổng quần quật làm lụng nuôi mẹ, nuôi con. Sau khi mẹ chồng mất,
chĩ còn hai mẹ con Vũ Nương trong căn nhà xơ xác, tiêu điều. Đọc đến những dòng
tả cảnh đêm đêm, người vợ trẻ chỉ biết san sẻ buồn vui với đứa con thơ dại, chúng
ta không khỏi chạnh lòng thương xót cho mẹ con nàng. Cảnh loạn lạc lan tràn khắp
chốn. Dân chúng chạy giặc, tan tác, chết chóc nhiều vô kể. Tiếng than, tiếng, khóc
thấu tận trời cao. Nguyễn Dữ miêu tả lại những cảnh này với nỗi xúc động thật sự.
Ẩn chứa sau từng dòng chữ là thái độ bất mãn trước thời cuộc đảo điên và nỗi xót
xa, thương cảm cho những người cùng khổ của tác giả. => Lên án chế độ phong
kiến hà khắc
+ Nổi lên trên hiện thực tăm tối ấy là hình ảnh Vũ Nương, người phụ nữ phải chịu
bao đau khổ, oan ức nhưng vẫn một mực giữ gìn phẩm hạnh trong sáng và cao quý.
Vũ Nương là một hình tượng đẹp. Dường như tác giả đã dành rất nhiều ưu ái cho
người phụ nữ đáng thương, đáng quý này. => ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ VN
đồng thời thương cảm cho số phận của họ
+ Cái chốt oan ức củạ Vũ Nương là lời kết án chố độ phong kiến trọng nam khỉnh
nữ đầy áp bức bất công. Nó cũng là cái giá quá đắt cho những kẻ ghen tuông vô lối
như chàng Trương nọ


+ Giá trị tố cáo và giá trị nhân đạo của tác phẩm được thể hiện dưới một hình thức
nghệ thuật đặc sắc, ngôn ngữ uyển chuyển, linh hoạt lột tả được bề dày tâm trạng
phức tạp của nhân vật chính là Vũ Nương. Phần sau của truyện, tác giả đã khéo léo
kết hợp cái thực và cái ảo để tạo nên không khí riêng rất hấp dẫn. Nhà văn ngầm
khẳng định những người trong sạch, tốt đẹp như Vũ Nương sẽ mãi mãi sống trong
cõi bất tử và giai thoại về nàng là một giai thoại đau thương nhưng đẹp đẽ biết bao!
+ Người con gái Nam Xương là một tác phẩm hay, mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Nó hàm chứa một lời khuyên chân tình của người xưa: Tình cảm vợ chồng phải
được xây dựng trên nền tảng của lòng tin cậy, tồn trọng và thương yêu chân thành
đối với nhau. Đừng để những thói xấu như nghỉ ngờ, ghen tuông làm tan vỡ hạnh
phúc gia đình, gây ra bi kịch không cách nào cứu vãn được.
=> Khi phân tích một tác phẩm văn học cần phải khái quát được nội dung chính,
giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của một tác phẩm.


BÀI 5 : CHỊ EM THÚY KIỀU
Nguyễn Du
Nội dung: Chị em Thúy Kiều là đoạn trích nằm ở phần mở đầu Truyện Kiều của
Nguyễn Du, nhà thơ xuất sắc cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX. Truyện Kiều có giá
trị rất lớn về nội dung tư tưởng và nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nhân
vật mà đoạn trích này là một ví dụ tiêu biểu.
Sau khi giới thiệu sơ qua về gia cảnh của Vương viên ngoại, nhà thơ tập trung thể
hiện vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều
I. KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Tìm hiểu kết cấu đoạn trích:
- Bốn câu thơ đầu: giới thiệu về khái quát về hai chị em Thuý Kiều;
- Bốn câu thơ tiếp: vẻ đẹp của Thuý Vân;
- Mười sáu câu thơ còn lại: vẻ đẹp của Thuý Kiều.
Trình tự miêu tả các nhân vật theo kết cấu đoạn trích là miêu tả từ khái quát đến cụ
thể.
Kết cấu của đoạn trích cho thấy trình tự miêu tả nhân vật của tác giả:
+ Bốn câu đầu khái quát được vẻ đẹp chung ( mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười
phân vẹn mười ) và vẻ đẹp riêng ( mỗi người một vẻ ) của từng người. Sau đó, tác
giả mới đi sâu gợi tả vẻ đẹp của từng nhân vật.
+ Bốn tiếp khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, mái tóc,
làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quý
phái của người thiếu nữ.
* Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên
vẻ đẹp của bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo.
+ Mười hai câu thơ tiếp khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình. Kiều là
một tuyệt thế giai nhân "nghiêng nước nghiêng thành". Kiều "sắc sảo" về trí tuệ và
"mặn mà" về tâm hồn. Vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt: "Làn thu thủy nét
xuân sơn". Tài năng của Kiều đạt tới mức lí tưởng, gồm cả cầm (đàn), kì (cờ), thi
(thơ), họa (vẽ).


+ Bốn câu cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp, đức hạnh, trẻ trung của hai
chị em Thúy Kiều.
* Một kết cấu như trên vừa chặt chẽ, hợp lí, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chung
và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Kiều.
a. Giới thiệu khái quát nhân vật:
- Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giời thiệu
cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sáng:
Đầu lòng hai ả tố nga
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
- Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em trong một nhận xét mang
tính chất lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa ( đẹp một cách hoàn thiện):
Mai cốt cách tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
+ Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao,
trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều: “Mai cốt cách, tuyết tinh
thần”. Vóc dáng mảnh mai, tao nhã như mai; tâm hồn trắng trong như tuyết. => Đó
là vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mĩ cả hình thức lẫn tâm hồn, cả dung nhan và đức
hạnh.
+ Hai chị em đều tuyệt đẹp, không tì vết “mười phân vẹn mười”, song mỗi người
lại mang nét đẹp riêng khác nhau “mỗi người một vẻ”.
-> Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm
ngưỡng sắc đẹp của từng người.
2. Với Thuý Vân tác giả đã hình ảnh ước lệ (trăng, cười, ngọc, mây, tuyết), để miêu
tả nhan sắc và đức hạnh của nàng trong bốn câu thơ:
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.


- Câu thơ mở đầu: “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp
của Thúy Vân: một vẻ đẹp cao sang, quí phái.
- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ, nhân hoá: “khuôn trăng”, “nét ngài”,
“hoa cười ngọc thốt, “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”
-> Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy
mị: khuôn mặt đầy đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm;lông mày sắc nét như mày
ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc
ngà là những lời đoan trang, thùy mị. Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng
mịn màng hơn tuyết.
-> Vân đẹp hơn những gì mỹ lệ của thiên nhiên – một vẻ đẹp tạo sự hòa hợp, êm
đềm với xung quanh. Cũng là hương sắc của tạo hóa, báu vật của nhân gian. -> Dự
báo về một cuộc đời bình lặng, suôn sẻ.
Dưới ngòi bút của tác giả, Thuý Vân hiện lên với vẻ đẹp sang trọng, quý phái, đầy
đặn, nở nang… về nhan sắc; đoan trang, trung thực, phúc hậu… về tính cách. Hình
ảnh chân dung, tính cách còn có tác dụng gợi tả số phận: cuộc đời bình lặng, yên ổn
3. Thúy Vân đã đẹp thế, Thúy Kiều càng nổi bật hơn, vẻ đẹp ấy được nói đến ở
những câu thơ giới thiệu khái quát mở đầu đoạn:
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn:
Nguyễn Du đã không miêu tả vẻ đẹp của Kiều kĩ như Thúy Vân, nhưng vẫn làm
người đọc nhận thấy vẻ đẹp của giai nhân tuyệt thế. Đặc biệt là việc gợi tả vẻ đẹp
của đôi mắt: “làn thu thuỷ”; đôi mắt trong sáng như nước mùa thu, gợi vẻ lanh lợi,
sắc sảo hơn người.
* Sắc:
- Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân trước để làm nổi bật Thúy Kiều theo thủ pháp
nghệ thuật đòn bẩy. Tả kĩ, tả đẹp để Vân trở thành tuyệt thế giai nhân, để rồi khẳng
định Kiều còn hơn hẳn: “Kiều càng sắc sảo mặn mà”. Từ “càng”đứng trước hai từ
láy liên tiếp “sắc sảo”, “mặn mà” làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều: sắc sảo về trí tuệ,
mặn mà về tâm hồn.


- Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ: “Làn thu thủy nét xuân sơn” gợi đôi mắt
trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu; hàng lông mày thanh tú như dáng núi
mùa xuân. Vẻ đẹp của Kiều hội tụ ở đôi mắt – cửa sổ tâm hồn thể hiện phần tinh
anh của tâm hồn và trí tuệ.
- Vẻ đẹp của Kiều khiến “hoa ghen”, “liễu hờn”, nước phải nghiêng, thành phải đổ.
Thi nhân không tả trực tiếp vẻ đẹp mà tả sự đố kị, ghen ghét với vẻ đẹp ấy; tả sự
ngưỡng mộ, mê say trước vẻ đẹp ấy. “Nghiêng nước nghiêng thành” là cách nói
sáng tạo điển cố để cực tả giai nhân. Rõ ràng, cái đẹp của Kiều có chiều sâu, có sức
quyến rũ làm mê mẩn lòng người. Vẻ đẹp ấy như tiềm ẩn phẩm chất bên trong cao
quý – tài và tình rất đặc biệt của nàng.
* Tài:
Kiều không chỉ đẹp mà còn hội tụ đầy đủ mọi tài năng theo quan niệm của tư tưởng
phong kiến: cầm - kì - thi - hoạ, đặc biệt là tài đánh đàn (Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm
một trương) và gợi tả về tính cách đa sầu, đa cảm của Kiều qua khúc nhạc nàng tự
sáng tác - một thiên “bạc mệnh”. Qua cách miêu tả của tác giả, những nét riêng về
tài và sắc của Thuý Kiều gợi ra những dự cảm về số phận nghiệt ngã, éo le.
- Trí tuệ thông minh tuyệt đối
- Kiều là người con gái đa tài mà tài nào cũng đạt đến độ hoàn thiện, xuất chúng:
đủ cả cầm, kì, thi, họa.
- Đặc biệt, tài đàn của nàng vượt trội hơn cả. Nàng đã soạn riêng một khúc bạc
mênh mà ai nghe cũng não lòng. Khúc nhạc thể hiện tâm hồn,tài năng, trái tim đa
sầu đa cảm.
=> Chân dung Thúy Kiều mang tính cách số phận. Ngòi bút Nguyễn Du nhuốm
màu định mệnh. Sắc đẹp và tài năng của Kiều nổi trội quá mà thiên nhiên, tạo hóa
thì:
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen
-> Cuộc đời của nàng sẽ gặp nhiều éo le, đau khổ.
d. Nhận xét chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều.


- Thúy Vân, Thúy Kiều dưới ngòi bút của Nguyễn Du không chỉ nhan sắc tuyệt vời
mà còn đức hạnh khuôn phép. Dù đã đến tuổi “cài trâm, búi tóc” nhưng hai chị em
vẫn giữ gìn nề nếp, gia phong :
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
5. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu xoay quanh miêu tả tài năng nghệ thuật của
Kiều. Vẻ đẹp của Thuý Vân được tác giả chú ý về nhan sắc, tính tình còn vẻ đẹp
của Thuý Kiều được gợi tả cả về nhan sắc, tài trí, và tâm hồn. Tác giả đã tả Thuý
Vân trước như để tạo ra một phông nền làm nổi bật chân dung của Kiều.
- Ngợi ca vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã trân trọng, đề cao giá trị,
phẩm giá của con người như nhan sắc, tài hoa, phẩm hạnh;qua đó, dự cảm về kiếp
người tài hoa bạc mệnh. Sự ngưỡng mộ, ngợi ca người phụ nữ trong xã hội “trọng
nam khinh nữ” chính là biểu hiện sâu sắc của cảm hứng nhân văn trong ngòi bút
Nguyễn Du
II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG
Bằng ngòi bút tài hoa của mình Nguyễn Du đã giúp bạn đọc hình dung được những
chuẩn mực về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội xưa, đó cũng có thể coi là
chuẩn mực của cái đẹp trong của văn học trung đại.
Bút pháp tả người của Nguyễn Du là bút pháp ước lệ thường thấy trong thơ cổ
điển : lấy những nét đẹp trong thiên nhiên để so sánh với vẻ đẹp của con người. Ở
các nhà thơ khác, nếu theo cách tả này thì chân dung nhân vật thường trở nên
chung chung, mờ nhạt, song vào tay Nguyễn Du lại biến hoá khôn lường và đầy tài
hoa sáng tạo, khiến nhân vật của ông rất có hồn.
Tác giả vừa miêu tả vẻ đẹp, vừa cho người đọc thấy được số phận đã được dự báo
của từng người, điều này cho thấy khả năng miêu tả nhân vật khá sắc sảo của ông.
Bài tập” Câu 1:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,


Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da,
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thủy,nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm,liễu hờn kém xanh”
( “Truyện Kiều”,Nguyễn Du).
a, Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên.
Bút pháp ước lệ lấy vẻ đẹp thiên nhiên gợi tả vẻ đẹp con người, Thủ pháp liệt kê,
Thủ pháp đòn bẩy
Biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ
Câu 2: Cho câu thơ sau:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà”
a, Cách nói “làn thu thủy”.”nét xuân sơn” dùng biện pháp tu từ ẩn dụ hay hoán dụ?
Vì sao? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
b, Nói: khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã dự báo trước cuộc đời và
số phận của nàng có đúng không? Hãy làm rõ ý kiến của em.
Câu 3: Đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” thể hiện cảm hứng nhân đạo nào của
Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”?
A – Thương cảm trước bi kịch của con người
B – Lên án tố cáo tội các những thế lực xấu xa, tàn bạo
C – Trân trọng, đề cao vẻ đẹp con người
D – Khát vọng công lí, chính nghĩa.
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Trải qua một cuộc bể dâu,


Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.
Cảo thơm lần giở trước đèn,
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.
Rằng: Năm Gia-tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh chữ vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng nho gia.
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thủy nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,


Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
£m đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
BÀI 6: CẢNH NGÀY XUÂN
I. Tìm hiểu chung:
1. Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần đầu “Truyện Kiều”. Sau khi giới thiệu
gia cảnh và tài sắc chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du trình bày bối cảnh Thúy Kiều
gặp nấm mồ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng. Đó là cảnh ngày xuân trong tiết Thanh
minh,chị em Kiều đi chơi xuân. Cảnh ngày xuân cứ hiện dần ra theo trình tự cuộc
“bộ hành chơi xuân” của chị em Thúy Kiều.
2. Bố cục đoạn trích:
- Bốn câu đầu: Khung cảnh mùa xuân
- Tám câu tiếp: Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh
- Sáu câu cuối: Cảnh chị em Kiều du xuân trở về.
II. Đọc – hiểu văn bản:
1. Khung cảnh mùa xuân:
- Hai câu thơ đầu vừa gợi tả thời gian, vừa gợi tả không gian mùa xuân:


+ Câu thơ thứ nhất “Ngày xuân con én đưa thoi” vừa tả không gian: ngày xuân,
chim én bay đi bay lại,chao liệng như thoi đưa; vừa gợi thời gian: ngày xuân trôi
nhanh quá, tựa như những cánh én vụt bay trên bầu trời.
+ Câu thơ thứ hai “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi” vừa gợi thời gian:
chín chục ngày xuân mà nay đã ngoài sáu mươi ngày (tức là đã qua tháng giêng,
tháng hai và đã bước sang tháng ba); vừa gợi không gian: ngày xuân với ánh sáng
đẹp, trong lành (thiều quang)
- Hai câu thơ sau là một bức họa tuyệt đẹp về mùa xuân với hai sắc màu xanh và
trắng:
+ Chữ “tận” mở ra một không gian bát ngát, thảm cỏ non trải rộng đến tận chân trời
làm nền cho bức tranh xuân.
+ Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông hoa lê trắng . Không gian
như thoáng đạt hơn, trong trẻo, nhẹ nhàng và thanh khiết hơn. Chỉ bằng một từ
"điểm", nhà thơ đã tạo nên 1 bức tranh sinh động hơn, cảnh vật có hồn hơn, chứ
không tĩnh tại, chết đứng.Cách thay đổi trật tự từ trong câu thơ làm cho màu trắng
hoa lê càng thêm sống động và nổi bật trên cái nền màu xanh bất tận của đất trời
cuối xuân.
=> Mùa xanh của cỏ non và sắc trắng của hoa lê làm cho màu sắc có sự hài hòa tới
mức tuyệt diệu. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi,
tràn trề sức sống (cỏ non); khoáng đạt, trong trẻo (xanh tận chân trời); nhẹ nhàng,
thanh khiết (trắng điểm một vài bông hoa).
=> Bằng một vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã phác họa nên 1 bức tranh xuân sinh
động, tươi tắn và hấp dẫn lòng người.
2. Khung cảnh lễ hội trong tiết Thanh minh:
- Trong tiết Thanh minh có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: đi tảo mộ ( lễ) và đi
chơi xuân ở chốn đồng quê (hội).
- Tác giả sử dụng một loạt các từ hai âm tiết ( cả từ ghép và từ láy) để gợi lên
không khí lễ hội thật tưng bừng, rộn rã:
+ Các danh từ: “yến anh”,”chị em”,”tài tử”,”giai nhân”,”ngựa xe”,”áo quần”… ->
Gợi tả sự đông vui, nhiều người cùng đến hội.


+ Các động từ: “sắm sửa”,”dập dìu”,… -> Gợi tả sự rộng ràng, náo nhiệt của ngày
hội.
+ Các tính từ: “gần xa”,”nô nức”… -> Tâm trạng của người đi hội.
- Cách nói ẩn dụ: “Gần xa nô nức yến anh” gợi lên hình ảnh những nam thanh nữ
tú, những tài tử giai nhân, từng đoàn người nhộn nhịp đi chơi xuân như chim én,
chim oanh bay ríu rít.
- Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, Nguyễn Du đã gợi lên một tập tục, một
nét đẹp truyền thống của văn hóa lễ hội xa xưa. Cáctrang tài tử giai nhân vui xuân
mở hộinhưng không quên những người đã mất:
Ngổn ngang gò đống kéo lên
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
c. Cảnh chị em Kiều du xuân trở về:
- Cuộc vui rồi cũng đến hồi kết thúc. Sáu câu thơ cuối là cảnh chị em Thúy Kiều ra
về khi trời đã xế chiều và hội đãn tan.
- Cảnh vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng nhạt,khe nước nhỏ, một
nhịp cầu nhỏ bắc ngang.Mọi chuyển động đều nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng
về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Tuy nhiên, không khí
nhộn nhịp , rộn ràng của lễ hội không còn nữa, tất cả đang nhạt dần, lặng dần.
- Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,”nao nao”… không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh
vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một
ngày vui xuân đang còn mà sự linh cảm về điều sắp xảy ra đã xuất hiện. “Nao nao
dòng nước uốn quanh” báo trước ngay sau lúc này, Kiều sẽ gặp nấm mồ Đạm Tiên
và chàng thư sinh Kim Trọng.
III. Tổng kết:
1.Nội dung:
- Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên lễ hội, mùa xuân tươi đẹp trong sáng, là một
trong những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp nhất trong "Truyện Kiều" của Nguyễn
Du.
2.Nghệ thuật:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×