Tải bản đầy đủ

GIÁ TRỊ VĂN HÓA - QUYỀN LỰC ĐƯỢC ĐÁNH DẤU QUA HÀNH ĐỘNG NGÔN TỪ TRONG GIAO TIẾP GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT

GIÁ TRỊ VĂN HÓA - QUYỀN LỰC ĐƯỢC ĐÁNH DẤU QUA HÀNH ĐỘNG
NGÔN TỪ TRONG GIAO TIẾP GIA ĐÌNH NGƯỜI VIỆT
Ths. Lương Thị Hiền (K.Văn- ĐHSPHN)
I. MỞ ĐẦU
Mỗi nền văn hoá có một hệ thống giá trị văn hóa riêng. Dựa trên kết
quả điều tra các doanh nghiệp đa quốc gia (IBM) ở 64 nước, giáo sư
Geert Hofstede (1991) thuộc trường Đại học Limburg tại Maastricht, Hà
Lan đã đưa ra 5 tiêu chí nhằm chỉ ra sự khác biệt văn hóa giữa các quốc
gia, bao gồm: 1- Khoảng cách quyền lực gần hay xa trong các thứ bậc. 2-
Chỉ số cá nhân/ tập thể chỉ mức độ phụ thuộc và độc lập của cá nhân đối với
tập thể. 3- Tính nam và tính nữ liên quan đến sự phân bố vai trò giới trong
xã hội. 4- Tính cẩn trọng chỉ mức độ lo lắng, hồi hộp mà các thành viên
trong nền văn hóa cảm thấy khi bị đe dọa bởi các tình huống không rõ
ràng hoặc không chắc chắn. 5- Định hướng dài hạn gắn với sự bền chí và
tính tiết kiệm; và định hướng ngắn hạn gắn với sự tôn trọng truyền thống,
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ xã hội và giữ thể diện.
Những kết quả nghiên cứu của G. Hofstede được sử dụng làm khung
cho những nghiên cứu về ứng xử ngôn ngữ trong các ngữ cảnh giao tiếp
văn hóa và giao tiếp giao văn hóa. Vận dụng thước đo của G. Hofstede,
trong phạm vi ngữ liệu hội thoại gia đình người Việt, chúng tôi tập trung
vào giá trị văn hóa- xã hội thường được nói đến với tư cách tiêu chí đầu

tiên: sự phân cấp về quyền lực (power hierachy). Theo G. Hofstede , sự
phân cấp quyền lực chỉ mức độ phân bố và chấp nhận quyền lực theo
định chế trong các tổ chức có thứ bậc như: gia đình (bố mẹ và con cái),
trường học (thầy và trò), nơi làm việc (chủ và thợ), các hình thức tổ chức
chính trị tập trung hoặc phân chia quyền lực… Sự bất bình đẳng quyền
lực là nhân tố nền tảng trong bất cứ xã hội nào, và các mối quan hệ quyền
lực khác nhau trong xã hội đã điều chỉnh các quyết định lựa chọn các
phương tiện ngôn ngữ ở những cách thức và mức độ khác nhau.
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi bước đầu xem xét các hành động
ngôn từ trong mối quan hệ với giá trị văn hóa – quyền lực ở phạm vi
hội thoại gia đình người Việt. Số lượng cuộc thoại được khảo sát là 114,
dựa trên một số quan hệ cơ bản như ông, bà- cháu; cậu, mợ, dì...- cháu;
bố, mẹ- con; vợ- chồng… trong các tác phẩm văn học, bao gồm “Tuyển
tập Nam Cao” - tập 1, tập 2, NXB Văn học, H. 2004, “Nguyễn Công
Hoan- truyện ngắn chọn lọc”- NXB Văn học, H, 2004, và tiểu thuyết “Số
đỏ” của Vũ Trọng Phụng, NXB Văn học, H, 2004.
Về quan điểm để nhận diện “hành động ngôn từ”, chúng tôi đồng ý
với tác giả Mai Xuân Huy (2005) cho rằng: Để nhận diện các hành vi
ngôn ngữ nói chung, cần phải nhận ra được đích giao tiếp hay đích ngôn
trung của lời nói. Nói cách khác, chính đích ngôn trung hoặc mục đích
giao tiếp của lời nói khi phát ra có một giá trị xác định đặc điểm và bản
chất, hay “danh tính của hành vi ngôn ngữ”.
Về quan hệ quyền lực trong giao tiếp gia đình, xét dưới góc độ lý
thuyết, chúng tôi cho rằng có thể phân chia thành ba loại tương quan chủ
yếu căn cứ vào nguồn gốc của quyền lực- vị trí của nhân vật giao tiếp
trong tổ chức gia đình, họ tộc: (1) Giao tiếp với người trên quyền (Con với bố,
mẹ; cháu với ông, bà, chú, bác...), (2) Giao tiếp với người bằng quyền (vợ và
chồng), (3) Giao tiếp với người dưới quyền (bố, mẹ với con; ông, bà với
cháu…).
Giá trị của tham biến quyền lực trong việc lựa chọn các hành động
ngôn từ được hiểu như là sự huy động các nguồn lực ngôn từ của các chủ
thể giao tiếp nhằm tạo những ảnh hưởng đến đối tượng giao tiếp, cụ thể là
gây ra sự tác động, thay đổi, biến chuyển, chỉ đạo… hành động hay thái
độ của đối tượng giao tiếp. Nhằm thiết lập một tương quan quyền lực phù
hợp với vị trí của mình, người tham gia hội thoại phải tiến hành lựa chọn
các hành động ngôn từ thích hợp để xây dựng chiến thuật giao tiếp,
hướng tới một mục tiêu giao tiếp nhất định.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1. Phạm vi hoạt động của các hành động ngôn từ
Thống kê sự xuất hiện của các hành động ngôn từ trong phạm vi 114
cuộc thoại giao tiếp gia đình, chúng tôi nhận thấy có một sự biến thiên đi
từ cực này đến cực khác, từ “không” đến “có”. Mức chênh lệch trong sử
dụng hành động ngôn từ của các nhân vật giao tiếp thuộc địa vị quyền lực
khác nhau: ông, bà- cháu; cậu, mợ, dì..- cháu; bố, mẹ- con; vợ- chồng…
là điều dễ dàng nhận ra. Cụ thể là:
1. Có những hành động ngôn từ xuất hiện cả trong lời nói của nhân vật
giao tiếp ở giao tiếp với người trên, giao tiếp với người dưới và giao tiếp
ngang bằng: Bàn, Cam kết, Cảm thán, Đe dọa, Đoán, Đồng ý, Giải thích,
Gọi, Kể, Khen, Khoe, Nhận xét, Phàn nàn, Phủ nhận, Thông báo, Thuyết
phục, Đề nghị.
2. Có những hành động ngôn từ chỉ xuất hiện trong giao tiếp với người
trên mà không xuất hiện trong giao tiếp với người dưới: Giải trình, Mách,
Thanh minh, Thỉnh cầu, Van lạy, Xin phép, Xin lỗi.
3. Có những hành động ngôn từ chỉ xuất hiện trong giao tiếp với người
dưới mà không xuất hiện trong giao tiếp với người trên: Cấm, Cảnh báo,
Cho phép, Chê, Chế giễu, Chửi, Chỉ đạo, Khuyên can, Mắng, Mắng
“yêu”, Mỉa, Nhắc nhở, Ra lệnh, Rủa, Sai bảo, Trách, Yêu cầu.
4. Có những hành động ngôn từ chỉ xuất hiện trong giao tiếp vợ chồng:
Thách thức, Tố cáo; ngược lại có những hành động ngôn từ hoàn toàn
không có mặt trong giao tiếp vợ chồng: Cho phép, Xin phép, Giải trình,
Mách, Rủa.
Như vậy, trong số các hành động ngôn từ xuất hiện ở 114 cuộc thoại
gia đình được khảo sát, một số nhóm hành động ngôn từ có phạm vi hành
chức rất hạn chế. Thông thường những hành động ngôn từ này chỉ xuất
hiện trong những tương quan quyền lực dường như được dành riêng cho
chúng. Sự có mặt của chúng ở địa hạt khác sẽ làm biến đổi hoàn toàn tính
chất mối quan hệ quyền lực giữa các nhân vật giao tiếp. Điều này cho
thấy sự lựa chọn các nhóm hành động ngôn từ trong giao tiếp gia đình
chịu một tác động mang tính năng động của áp lực quyền lực; tuy nhiên,
tác động đó không đồng đều. Yếu tố quyết định sự có mặt hay vắng mặt
của một số hành động ngôn từ là do sự thay đổi tương quan quyền giữa
chủ thể giao tiếp và đối tượng giao tiếp.
Căn cứ vào áp lực quyền lực đối với các hành động ngôn từ và tính
loại biệt, đặc trưng của từng hành động ngôn từ trong hội thoại gia đình,
chúng tôi tạm phân thành hai loại:
• Hành động ngôn từ được đánh dấu;
• Hành động ngôn từ không được đánh dấu.
Trong một số trường hợp, khi chủ thể giao tiếp thực hiện hành động
ngôn từ nào đó, ngay lập tức tương quan quyền lực của chủ thể giao tiếp
và đối tượng giao tiếp được xác lập, chúng ta có “các hành động ngôn từ
được đánh dấu”. Ngược lại, các hành động ngôn từ không có tính loại
biệt, đặc trưng cho bất kì tương quan quyền lực nào được gọi là “các
hành động ngôn từ không được đánh dấu”. Với loại hành động ngôn từ
này cần phải căn cứ vào nhiều yếu tố ngôn ngữ khác mới có thể đưa ra
kết luận cuối cùng được.
Chúng tôi quan tâm đến các hành động ngôn từ được đánh dấu. Đây
là các hành động ngôn từ chỉ xuất hiện trong một quan hệ giao tiếp nhất
định, trong tương quan quyền lực một chiều (người dưới với người trên;
hoặc người trên với người dưới) có thể coi là “hằng số” của trường giao
tiếp. Nó cho thấy bản chất hay “bản sắc” của những quan hệ bất bình
đẳng về quyền lực.
2. Phân loại các nhóm hành động ngôn từ đánh dấu quyền lực
Các nhóm hành động ngôn từ được chúng tôi nhận diện, miêu tả và
phân loại sau đây là những hành động ngôn từ được đánh dấu điển hình,
có giá trị như là những “hằng số” luôn luôn đúng trong những tương quan
quyền lực đặc trưng của nó. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng có tính
chất tương đối nhằm phục vụ cho mục đích khoa học. Sự chuyển dịch từ
phạm vi “hành động ngôn từ không được đánh dấu” sang “hành động
ngôn từ được đánh dấu” và thế cân bằng động của các nhóm hành động
ngôn từ dưới áp lực quyền lực bất bình đẳng chưa phải là vấn đề được
bàn đến trong bài viết này.
Các nhóm hành động ngôn từ đánh dấu tương quan quyền lực bất
bình đẳng có thể phân thành hai nhóm lớn:
• Nhóm hành động ngôn từ đánh dấu quyền lực cao;
• Nhóm hành động ngôn từ đánh dấu quyền lực thấp.
2.1. Nhóm hành động ngôn từ đánh dấu quyền lực cao
Nhóm hành động ngôn từ đánh dấu tương quan quyền lực cao trong
các cuộc thoại gia đình có thể phân thành 7 tiểu nhóm dựa trên cơ sở tính
chất gần gũi về ngữ nghĩa, bao gồm:

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×