Tải bản đầy đủ

Đề cương những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa MacLeenin Tư bản chủ nghĩa

Đề cương NhữngNguyên Lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác-Lênin 2
Câu 1 Hàng hóa là gì? Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa? Vì
sao hàng hóa lại có hai thuộc tính?
a) Hàng hoá: là sản phẩm cảu lao động, nó có thể thoả mãn những
nhu cầu nhất đinh nào đó của con người thông qua trao đổi mua bán.
b) Hai thuộc tính của hàng hoá
Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau, sản xuất hàng hoá có bản
chất khác nhau ,nhưng một vật phẩm sản xuất ra khi đã mang hình thái là
hàng hoá thí đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử d ụng và giá tr ị.
*) Giá trị sử dụng:
- Hàng hoá trước hết “là một vật nhờ có những thuộc tính của nó mà thoả
mãn được một loại nhu cầu nào đó của con người”, không kể nhu c ầu đó
được thoả mãn trực tiếp, nếu vật ấy là một tư liệu sinh hoạt, hay gián
tiếp, nếu vật ấy là một tư liệu sản xuất.
- Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc đã phát
hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát
triển của KH-KT
- Giá trị sử dụng hay công cụ của hàng hoá là do thuộc tính t ự nhiên c ủa
vật thể hàng hóa quyết định .Với ý nghĩa nh vậy thì giá trị s ử dụng là một
phạm trù vĩnh viễn.

- Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là
nội dung vật chất của của cải không kể hình th ức xã h ội của c ủa cai đó
như thế nào.
Một vật khi đã là hàng hoá thì nhất thiết nó phải có giá trị s ử d ụng.Nh ưng
không phải bất cứ vật gì có giá trị sử dụng là hàng hoá .Ch ẳng hạn, không
khí rất cần cho cuộc sống con người, nhưng không phải là hàng hoá.N ước
suối, quả dại cũng có giá trị sử dụng , nhưng cũng không ph ải là hàng
hoá.Như vậy, một vật muốn trở thành hàng hoá thì giá trị s ử dụng của nó
phải là vật được sản xuất ra để bán, để trao đổi, cũng có nghĩa là v ật đó
phải có giá trị trao đổi.Trong kinh tế hàng hoá, giá trị s ử d ụng là cái mang
giá trị trao đổi.
*)Giá trị hàng hoá
Muốn hiểu được giá trị hàng hoá thì phải di từ giá trị trao đ ổi.Mác vi ết:”Giá


trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một mối quan hệ về số lượng, là
một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi v ới nh ững
giá trị sử dụng loại khác”
Ví dụ: 1 mét vải =10kg thóc
Sở dĩ hai hàng hoá khác nhau là vải và thóc có thể trao đổi đ ược v ới nhau,
bởi vì giữa những hàng hoá khác nhau đó có một cái gì đó chung, cái chung
đó không phải là vải, là thóc…nhưng lại là cái mà cả v ải, thóc đều có th ể
quy về được. Mac viết :”Nét đặc trưng của quan hệ trao đ ổi hàng hoá
chính lại là việc phải tạm gạt giá trị sử dụng của hàng hoá ra một bên”
Nếu không phải là giá trị sử dụng thì nó chỉ còn lại là tính ch ất chung c ủa
các thứ khác lao động khác nhau đó là sự hao phí lao động của con ng ười.
Vậy giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của con người sản xuất k ết tinh
trong hàng hoá, còn giá trị trao đổi chẳng qua chỉ là hình thái bi ểu hiện c ủa
giá trị hàng hoá.
Đến đây ta nhận thức được, thuộc tính tự nhiên của hàng hoá là giá tr ị s ử
dụng, thuộc tính xã hôị của hàng hoá là hao phí lao đ ộng kết tinh trong nó
và là giá trị.Bất kỳ một vật nào muốn trở thành hàng hoá đều phải có đủ
hai thuộc tính :giá trị sử dụng và giá trị, nếu thiếu một trong hai thuộc tính
đó, sản phẩm không thể là hàng hoá.
* Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính vì lao động sản xuất có tính chất hai
mặt: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
- Lao động cụ thể: Là sự hao phí sức lao động giữa một ngành ngh ề chuyên
môn nhất định. Lao động này tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá
- Lao động trừu tượng: Là sự hao phí sức lao động của người sản xu ất
hàng hoá không kể đến các hình th ức cụ thể của nó. Lao động tr ừu t ượng
tạo ra giá trị của hàng hoá.


Câu 2 tại sao lượng giá tri hàng hóa phải được đo bằng th ời
gian lao động xã hội cần thiết ? sự khác nhau gi ữa năng xu ất lao
động và tăng cường độ lao động.
Tại sao lượng giá tri hàng hóa phải được đo bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết.
Vì Giá trị của hàng hóa là do lao động xã h ội, lao đ ộng tr ừu t ượng
của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Vậy, lượng giá tr ị
của hàng hóa được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng
hóa đó. Lượng lao động tiêu hao ấy được tính bằng th ời gian lao đ ộng.
Lượng giá trị của hàng hóa không phải do mức hao phí lao động cá
biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định, mà nó được đo b ởi th ời gian
lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần đ ể sản
xuất ra một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình th ường
của xã hội với một trình độ trang thiết bị trung bình, v ới m ột trình độ
thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã h ội
đó.
VD: cũng làm một đôi dép nhưng ng` A làm trong 1 giờ, ng` B làm
trong 2 giờ , ng` C làm trong 3 gio`,--> mức giá c ả do m ỗi ng` s ản xu ất A,
B ,C đó sẽ đưa ra khác nhau theo thời gian mà họ làm ra đôi dép ấy...
Chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay th ời gian lao đ ộng xã h ội
cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá tr ị
của hàng hóa ấy.
sự khác nhau giữa năng xuất lao động và tăng cường đ ộ lao
động
Trước tiên hãy xác định khái niệm:
- Năng suất lao động là số lượng sản phẩm đươc người lao đ ộng s ản
xuất ra trong một đơn vị thời gian.


- Cường độ lao động là sự hao phí sức óc(thần kinh), s ức b ắp th ịt c ủa
nguòi lao động trong sản xuất trong một đơn vị thời gian hoặc kéo dài th ời
gian sản xuất, hoặc cả hai cách đó
.Giữa năng suất lao động và cường độ lao động có sự giống nhau và
khác nhau.
Giống nhau ở chỗ tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao
động thì đều tạo ra nhiều sản phẩm hơn
Nhưng khác nhau là tăng năng suất lao động thì làm giảm hao phí
sức lao động để sản xuất ra một sản phẩm và làm giảm giá trị sản ph ẩm
giảm giá thành sản phẩm, tăng cường độ lao động thì hao phí lao đ ộng s ản
xuất ra một sản phẩm không thay đổi và không ảnh hưởng đến giá cả s ản
phẩm. Tăng năng suất lao động do thay đổi cách th ức lao động, làm gi ảm
nhẹ hao phí lao động, tăng cường độ lao động thì cách th ức lao đ ộng không
đổi, hao phí sức lao động không thay đổi.Tăng năng suất lao đ ộng là vô
hạn còn tăng cường độ lao động là có giới hạn, bị giới h ạn b ởi s ức khoẻ
của con người. Tăng năng suất lao động có tác dụng tích cực và không ảnh
hưởng đên sức khoẻ của con người còn tằng cường độ lao đ ộng n ếu tăng
quá mức sẽ gây tai nạn lao động và ảnh hưởng đến sức khoẻ c ủa con
người.


Câu 3 phân tích nội dung yêu cầu và cơ chế tác đ ộng c ủa qui
luật giá trị
Nội dung yêu cầu của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản c ủa s ản xu ất và l ưu
thông hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có s ự t ồn
tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị.
- Yêu cầu của quy luật giá trị:
+ Thứ nhất, theo quy luật này, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo
hao phí lao động xã hội cần thiết, nghĩa là cần tiết kiệm lao động (c ả lao
động quá khứ và lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì giá trị c ủa
nó phải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra hàng hóa đó, tức là giá cả thị trường của hàng hóa
+ Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa
là phải đảm bảo bù đắp được chi phí chí người sản xuất (tất nhiên chi phí
đó phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ không phải
bất kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
- Sự tác động, hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá tr ị đ ược
thể hiện thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá. Vì giá trị là c ơ s ở c ủa
giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị, nên tr ước h ết giá c ả
phụ thuộc vào giá trị.
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố
khác như: cạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tiền. S ự tác động của
các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách r ời giá tr ị và
lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả th ị tr ường
của hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó hình là cơ chế hoạt đ ộng của


quy luật giá trị. Thông qua sự vận động của giá cả th ị tr ường mà quy lu ật
giá trị phát huy tác dụng.
Tác động của quy luật giá trị
- Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các y ếu t ố s ản xu ất gi ữa
các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác lộng này c ủa quy lu ật giá tr ị
thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên th ị tr ường d ưới tác đ ộng
của quy luật cung - cầu.
* Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn h ơn giá tr ị, nghĩa là hàng hóa s ản
xuất ra có lãi, bán chạy. Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích m ở r ộng và đẩy
mạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giá tăng
* Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so v ới nhu
cầu, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuất không có lãi. Th ực
tế đó, tự người sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất; ngược
lại, giá giảm sẽ kích thích tăng cầu, tự nó là nhân tố làm cho cung tăng.
* Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá tr ị. Bề m ặt n ền
kinh tế người ta thường gọi là “bão hòa”.
Tuy nhiên nền kinh tế luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá cả và
cung cầu cũng thường xuyên biến động liên tục.
Như vậy, sự tác động trên của quy luật giá trị đã dẫn đến sự di
chuyển sức lao động và tư liệu sản xuất giữa các ngành sản xuất khác
nhau. Đây là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị.
+ Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua di ễn biến
giá cả trên thị trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng
thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho l ưu
thông hàng hoá thông suốt.
Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ
sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng
hoá.
- Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xu ất, tăng
năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã h ội phát tri ển.


Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là m ột
chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh c ủa
mình. Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao đ ộng cá bi ệt
của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá bi ệt
nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu đ ược lãi
cao. Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn h ơn hao phí lao
động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn. Để giành lợi th ế trong cạnh
tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải h ạ th ấp hao phí lao đ ộng
cá biệt của mình sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết. Muốn
vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ ch ức quản lý, th ực
hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động. Sự cạnh tranh quyết liệt
càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ h ơn, mang tính xã h ội. K ết
quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển m ạnh mẽ
- Thứ ba, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người s ản
xuất hàng hoá thành người giàu, người nghèo.
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là:
những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến th ức cao,
trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt th ấp h ơn hao phí lao
động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng. H ọ mua s ắm
thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ng ược l ại nh ững
người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong
kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn đến phá sản trở thành nghèo khó.


Câu 4 Trình bày mâu thuẫn trong công th ức chung c ủa t ư b ản,
chìa khóa để giải quyết.
Mâu thuẫn trong công thức chung tư bản
- Công thức chung của tư bản: T-H-T' (T’ = T + ∆T). Vậy ∆T xu ất
hiện từ đâu?
+ Trong lưu thông: Trong lưu thông, dù trao đổi ngang giá hay không
ngang giá thì cũng không tạo ra ∆T
* Trường hợp trao dổi ngang giá: Chỉ là sự thay đổi của hình thái giá
trị từ T-H và từ H-T nhưng tổng giá trị và phần giá trị của mỗi bên tham gia
trao đổi trước và sau đều không thay đổi. Tuy nhiên, về giá tr ị s ử d ụng thì
đôi bên đều có lợi.
* Trường hợp trao đổi không ngang giá, có thể có ba trường hợp xảy
ra:
Thứ 1, Trong trường hợp nhà tư bản bán hàng hóa cao h ơn giá tr ị,
nhưng đến lượt anh ta lại là người đi mua (vì không có ai ch ỉ bán mà không
mua) thì phải mua hàng hóa cao hơn giá trị ấy. Hành vi bán hàng hóa cao
hơn giá trị không mạng lại bất cứ chút thặng dư (∆T) nào.
Thứ 2, Trường hợp nhà tư bản cố mua hàng hóa thấp h ơn giá tr ị
cũng không mang lại chút thặng dư (∆T) nào. Vì đến khi anh ta bán cũng
buộc phải bán hàng hóa thấp hơn giá trị.
Thứ 3, nếu xã hội có một số kẻ lường gạt chuyên mua rẻ, bán đắt thì
cái ∆T hắn có là do chiếm đoạt của người khác mà có. Cái hắn đ ược là cái


người khác mất đi, nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá trị của hàng hóa là
không thay đổi.
Như vậy, trong lưu thông dù trao đổi ngang giá hay không ngang giá
đều không tạo ra giá trị thặng dư cho các nhà tư bản.
+ Ngoài lưu thông: Nếu người trao đổi vẫn đứng 1 mình v ới hàng
hóa của anh ta, thì giá trị của hàng hóa ấy không hề tăng lên.
Nếu người sản xuất muốn sáng tạo thêm thặng dư thì phải bằng lao
động của chính mình. Chẳng hạn da thuộc phải tr ở thành giày da, ở đó giày
da có giá trị lớn hơn da thuộc vì nó đã thu hút nhiều lao đ ộng vào trong
giày da. Còn giá trị của da thuộc vẫn không đổi.
Vậy là "Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không th ể
xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông, đồng
thời không phải trong lưu thông".
Đó chính là mâu thuẩn trong công th ức chung của tư bản. Để giải
quyết mâu thuẩn đó, C.Mác đã chỉ rõ: "Phải lấy nh ững quy luật n ội t ại c ủa
lưu thông hàng hoá làm cơ sở".
Chìa khóa để giải quyết:
Hàng hoá sức lao động là chìa khoá để giải quyết mâu thuẩn trong
công thức chung của tư bản:
a) Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:
“Sức lao động, đó là toàn bộ các thể lực và trí lực ở trong c ơ th ể một con
người, trong nhân cách sinh động của con người, th ể lực và trí l ực mà con
người phải làm cho hoạt động để sản xuất ra những vật có ích”[2].
Không phải sức lao động nào cũng trở thành hàng hóa. Trong xã h ội
nô lệ thì sức lao động của nô lệ không phải là hàng hóa vì b ản thân anh ta
đã thuộc sở hữu của chủ nô, anh ta không có quyền bán s ức lao đ ộng.
Người thợ thủ công tự do tuy được tùy ý sử dụng sức lao động của mình
nhưng sức lao động của anh ta cũng không phải là hàng hóa vì anh ta ch ỉ
sản xuất tự cung tự cấp nuôi sống mình, chứ chưa buộc ph ải bán s ức lao
động để kiếm sống.


Sức lao động chỉ trở thành hàng hóa khi đồng thời thỏa mãn hai điều
kiện sau: Người lao động phải được tự do về thân th ể, làm ch ủ đ ược s ức
lao động của mình và có quyền bán sức sức lao động của mình nh ư m ột
hàng hóa.; Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu s ản
xuất và tư liệu sinh hoạt trở thành “vô sản”, để tồn tại anh ta buộc phải
bán sức lao động của mình để kiếm sống.
Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để tiền
biến thành tư bản. Nhưng trước CNTB thì hàng hóa sức lao động ch ưa xu ất
hiện. Chỉ dưới CNTB thì hàng hóa sức lao động mới xuất hi ện và tr ở thành
phố biến.
b) Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Giá trị hàng hóa s ức lao
động cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái s ản
xuất sức lao động quyết định. Muốn sản xuất và tái sản xuất ra sức lao
động người công nhân phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt cần
thiết về ăn, ở, mặc, học nghề... Ngoài ra họ còn ph ải th ỏa mãn nh ững nhu
cầu của gia đình và con cái.
Giá trị của hàng hóa sức lao động được đo gián tiếp bằng giá tr ị c ủa
những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động. Giá tr ị
ấy được hợp thành bởi: Giá trị những tư liệu sinh hoạt về v ật ch ất và tinh
thần cần thiết để tái sản xuất sức lao dộng, duy trì đ ời sống c ủa b ản thân
người công nhân; Phí tổn đào tạo người công nhân; Giá tr ị nh ững t ư li ệu
sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái người công nhân.
Sự biến đổi giá trị hàng hóa sức lao động một mặt tăng lên do sự tăng lên
của nhu cầu trung bình của xã hội về hàng hóa, dịch vụ, h ọc tập, h ọc
nghề... mặt khác lại bị giảm xuống do sự tăng năng suất lao động xã h ội.
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng chỉ th ể hiện ra trong
quá trình tiêu dùng sức lao động. Nhưng khác với hàng hóa thông th ường,
quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình t ạo ra m ột giá tr ị
mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động.
Nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường một loại hàng hoá đặc biệt,
đó là hàng hoá sức lao động, mà giá trị sử dụng của nó có tính ch ất đặc
biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá tr ị m ới l ớn h ơn
giá trị của bản thân nó. Phần lớn hơn đó là giá trị th ặng d ư mà nhà t ư b ản
sẽ chiếm đoạt. Chính đặc tính này đã làm cho hàng hoá s ức lao đ ộng tr ở


thành điều kiện để tiền tệ chuyển thành tư bản. Do đó việc tìm ra và lý
giải phạm trù hàng hoá sức lao động được coi là chìa khoá đ ể gi ải quy ết
mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Nếu "T" của t ư bản không
dùng để bóc lột sức lao động của công nhân thì không th ể có "T'=T+∆T”.

Câu 5 phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao đ ộng và tính
đặc biệt của nó.
Cũng giống như mọi hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động cũng có
hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng.
-

Giá trị hàng hoá sức lao động

+ Giống như các hàng hoá khác, giá trị hàng hoá sức co đ ộng c ủng do
thời gian lao động xã hội cần thiết để xuất và tái sản xuất s ức lao đ ộng
quyết định.
+ Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sông của con người. Muốn tái
sản xuất ra năng lực đó, người công nhân phải tiêu dùng một lượng t ư liệu
sinh hoạt nhất định để mặc, ở, học nghề. V.V.. Ngoài ra người lao động còn
phải thoả mãn những nhu cầu của gia đình và con cái anh n ữa. Ch ỉ có nh ư
vậy, thì sức lao động mới được sản xuất và tái sản xuất ra m ột cách liên
tục.
Như vậy thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức
lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã h ội cần thi ết đ ể s ản


xuất ra những tư liệu sinh hoạt nuôi sống bản thân người công nhân và gia
đình anh ta; hay nói cách khác, giá trị hàng hoá s ức lao động đ ược đo gián
tiếp rằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra
sức lao động.
+ Là hàng hoá đặc biệt, giá trị hàng hoá sức lao động khác v ới hàng
hoá thông thường ở chỗ nó còn bao hàm cả yếu tố tinh th ần và l ịch s ử.
Yếu tố tinh thần: ngoài những nhu cầu về vật chất, người công nhân
còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hoá...
Yếu tố lịch sử: nhu cầu của con người phụ thuộc vào hoàn cảnh l ịch
sử của mỗi nước ở từng thời kỳ, đồng thời nó còn phụ thuộc c ả vào đi ểu
kiện địa lý, khí hậu của nước đó.
+ Mặc dù bao hàm cả yếu tố tinh thần và lịch sử nhưng đối v ới m ỗi
một nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô nh ững t ư
liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất đ ịnh, do
đó có thể xác định được lượng giá trị hàng hoá sức lao động do nh ững bộ
phận sau đây hợp thành:
Một là, giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần
thiết để tái sản xuất sức lao động, duy trì đời sống của bản thân ng ười
công nhân;
Hai là, phí tổn đào tạo người công nhân;
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cần thiết
cho con cái và gia đình người công nhân.
-

Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động

+ Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động thể hiện ra trong quá
trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình lao động c ủa ng ười công
nhân.
+ Quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hoá sức động khác v ới quá
trình tiêu dùng hàng hoá thông thường ở chỗ:
* Đối với các hàng hóa thông th ường, sau quá trình tiêu dùng hay
sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến m ất theo
thời gian.


* Đối với hàng hoá sức lao động, quá trình tiêu dùng chính là quá
trình sản xuất ra một loại hàng hoá nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra
một giá trị mới lớn hơn giá của bản thân hàng hoá sức lao động. Ph ần l ớn
hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt. Nh ư v ậy, giá
trị sử dụng của hàng hoá sức lao động có chất đặc biệt, nó là ngu ồn g ốc
sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị m ới lớn h ơn giá tr ị c ủa b ản
thân nó. Đây chính là chìa khoá để giải thích mâu thuẫn của công th ức
chung của tư bản. Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện c ủa hàng
hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuy ển hóa thành tư bản.
Tính đặc biệt của hàng hóa sức lao động
Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt. Tính ch ất đ ặc
biệt của nó thể hiện ở 2 thuộc tính:
- Giá trị hàng hóa sức lao động mang tính chất tinh th ần và lịch sử.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động khi tiêu dùng nó l ại thu
được một lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó.Cũng giống nh ư
hàng hóa khác, hàng hóa SLĐ có 2 thuộc tính: giá trị và giá tr ị s ử dụng.
- Giá trị của hàng hóa SLĐ cũng bằng lượng LĐ XH cần thiết đ ể sx và
tái sx ra nó. Nhưng việc sx và tái sx ra SLĐ ph ải đc th ực hiện b ằng cách tiêu
dùng cho cá nhân. Vì vậy, lượng hàng hóa SLĐ bằng lượng giá tr ị nh ững t ư
liệu cần thiết về vật chất và tinh thần để nuôi sống người công nhân và
gia đình của họ cùng với chi phí đào tạo công nhân theo yêu cầu c ủa sx. Giá
trị hàng hóa SLĐ phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của m ỗi quốc gia
trong từng thời kỳ nhất định.
- Giá trị sử dụng của hàng hóa SLĐ là công dụng của nó đ ể th ỏa mãn
nhu cầu tiêu dùng SLĐ của nhà TB.Khác với hàng hóa thông th ường, hàng
hóa SLĐ khi đc sử dụng sẽ tạo ra một lượng giá trị m ới lớn hơn giá tr ị b ản
thân nó. Đó chính là nguồn gốc giá trị thặng dư.


Câu 6 trình bày phương pháp sản xuất giá trị thặng d ư và ý
nghĩa của việc nghiên cứu
Giá trị thặng dư: Là một bộ phận giá trị mới do lao động của công
nhân tạo ra, dôi ra ngoài giá trị sức lao động là kết quả lao đ ộng không
công bằng của người lao động.
* Các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư dưới CNTB gồm có 02
phương pháp
. -Một là: Phương pháp sản xuất giá trị trị thặng dự tuyệt đối.
- Hai là: Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối. Hai
phương pháp trên có những điểm khác nhau đồng thời lại có nh ững đi ểm
giống nhau. Những điểm khác nhau chủ yếu:


+ Phương pháp sản xuất giá trị trị tặng dự tuy ệt đối: Một là Ph ương
pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gia lao đ ộng v ượt
qua thời gian lao động tất yếu trong khi năng suất lao động, giá tr ị xu ất lao
động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi .
VD: Ngày lao động 8h gồm thời gian lao động tất yếu là 4h và th ời
gian lao động thặng dư là 4h thì tỷ xuất thặng dư m = t/t x100%=100%.
Bây giờ kéo dài thời gian lao động lên 2h (8h lên 10h) mà th ời gian lao
động tất yếu không đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng t ừ 4h lên 6h
thì tỷ suất thặng dư m = t/t x100% =6/4x100% =150%. Gi ới h ạn của ngày
lao động không thể bằng độ dài của ngày tự nhiên vì công nhân còn ph ải
nghỉ ngơi, ngủ…Mặt khác, do sự đấu tranh của công nhân, nhà n ước t ư sản
phải ban hành luật rút ngắn ngày lao động, nhưng dù sao ngày lao đ ộng
vẫn phải dài hơn thời gian lao động tất yếu.
+ Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối:
- Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối do rút ngắn
thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị s ức lao đ ộng nh ờ đó
tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện độ dài ngày lao đ ộng,
cường độ lao động vẫn như cũ.
- Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư li ệu sinh
hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân muốn vậy ph ải tăng năng
xuất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng.
- Với lòng tham không đáy Nhà TB tìm cách kéo dài ngày lao đ ộng đ ể
nâng cao trình độ bóc lột. nhưng do với hạn về ngày t ự nhiên, v ề s ức l ực
của người lao động nên không thể kéo dài vô hạn, mặt khác do đấu tranh
quyết liệt của giai cấp công nhân rút ngắn thời gian lao động. Trước tình
hình đó các nhà TB tăng cường độ lao động, giảm th ời gian lao động t ất
yếu xuống trái lại mức độ bóc lột không giảm mà lại tăng lên rất nhiều
lần.
VD: Giả định ngày lao động 8h trong đó 4h là th ời gian lao động t ất
yếu 4h là lao động thặng dư, nhờ giảm giá trị tư liệu sinh hoạt, th ời gian
lao động tất yếu để bù lại giá trị sức lao động rút xuống 2h nên th ời gian
lao động thặng dư tặng từ 4h đến 6h. Do đó, tỷ suất giá tr ị th ặng d ư m =
4/4 x 100% = 100% tăng lên m = 6/2 x 100% = 300%. Khi năng su ất lao


động mới chỉ chỉ tăng lên ở một số DN đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ
kỷ thuật và cải tiến quản lý thì các DN ấy thu được giá trị th ặng d ư (hay
lợi nhuận) siêu ngạch. Cạnh tranh sẽ buộc mọi người sản xuất hàng hóa
phải cải tiến kỹ thuật và cải tiến quản lý dẫn đến tăng năng su ất lao đ ộng
sản xuất, hình thành giá trị thặng dư tương đối. Thời kỳ đầu của CNTB, khi
lao động thủ công còn phổ biến, năng suất lao động thấp, thì ph ương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chiếm ưu thế; trong giai đoạn cao của
CNTB, nhờ ứng dụng các thành tựu khoa học
– công nghệ hiện đại, năng suất lao động tăng cao, thì ph ương pháp
sản xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm ưu thế. Nhưng trong th ực tế,
các nhà TB thường kết hợp cả hai phương pháp ấy.
Những điểm giống nhau chủ yếu:
Thứ nhất, các phạm trù thời gian lao động tất yếu, thời gian lao
động thặng dư; giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao đ ộng; tỷ suất
giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư, tưu bản bất biến và tư bản
khả biến…hoàn toàn phù hợp với cả hai phương pháp sản xuất giá tr ị
thặng dư.
Thứ hai, cả hai phương pháp trên cùng đòi hỏi một trình độ nhất
định về năng suất lao động, về cường độ lao động và về đ ộ dài ngày lao
động. Nếu năng suất lao động và cường độ lao động quá thấp, thì dù ngày
lao động kéo dài suốt cả 24h cũng vẫn rơi vào tình cảnh làm không đủ ăn,
nói chỉ đến sản phẩm thặng dư và giá trị thặng dư tuy ệt đối. Mặt khác, dù
năng suất lao động cao nhưng cường độ lao động thấp, và thời gian lao
động quá ngắn, không đạt tới hoặc chỉ vừa đạt tới điểm đủ bù lại giá tr ị
những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động thì cũng
không có giá trị thặng dư tương đối.
Thứ ba, cá giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối
đều là một bộ phận giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra, d ư ra
ngoài giá trị sức lao động.
* Ý nghĩa - Quá trình sản xuất CNTB vì mục tiêu giá trị th ặng dư,
mặt dù sản xuất hình thức có thay đổi nhưng bản chất bóc lột giá tr ị th ặng
dư là không thay đổi.


- Giá trị thặng dư chỉ được tập trung chủ yếu cho các nhà TB để làm
công cụ bóc lột công nhân ngày càn nặng nề hơn.
- Đây là cơ sở lý luận để vạch trần bản ch ất của CNTB.
- Ý nghĩa: Qua việc nghiên cứu hai phương pháp sản xuất giá trị
thặng dư chúng ta nhận thấy rằng:
+ Phản ánh bản chất bóc lộc giá trị thặng dư, mức độ, trình đ ộ bóc
lột đối với công nhân làm thuê của các nhà TB ngày càng tinh vi h ơn.
+ Chúng ta phải học tập phương thức tổ chức quản lý, phân ph ối của
các nhà tư bản để nền sản xuất hàng hoá trong chế độ xã hội chủ nghĩa
củng phải thu được nhiều giá trị thặng dư.
+ Nếu gạt bỏ tính bốc lột thì giá trị thặng dư chính là y ếu tố quan
trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế đặc biệt là trong quá trình xây d ựng
đất nước hiện nay, kinh tế nhà nước giử vai trò chủ đạo nh ằm tạo điều
kiện và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thu ật m ới đ ể
tạo ra hàng hóa, tăng năng suất LĐ, kích thích sản xuất, ti ết ki ệm chi phí
sản xuất làm đòn bẫy để phát triển kinh tế - xã hội.
+ Chúng ta phải tạo được công ăn việc làm cho người LĐ và s ử d ụng
hết thời gian quy định của nhà nước.
+ Chúng ta phải biết điều tiết giá trị mới tạo ra một cách h ợp lý đ ể
khuyến khích người LĐ, người sử dụng LĐ

Câu 7 thực chất của động cơ tích lũy tư bản nh ững nhân t ố ảnh
hưởng tới quy mô của tích lũy tư bản.
*Thực chất của tích luỹ tư bản:
Tái sản xuất giản đơn không phải là hình thái điển hình
của chủ nghĩa tư bản, mà hình thái tái sản xuất điển hình của nó là
tái sản xuất mở rộng. Tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa là sự
lặp lại quá trình sản xuất với quy mô lớn hơn trước, v ới một t ư b ản



lớn hơn trước. Muốn vậy, phải biến một bộ phận giá trị th ặng d ư
thành tư bản phụ thêm. Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản
hay sự chuyển hoá giá trị thặng dư trở lại thành tư bản gọi là tích
luỹ tư bản. Như vậy, thực chất của tích luỹ tư bản là t ư bản hoá giá
trị thặng dư. Nói một cách cụ thể, tích luỹ tư bản là tái sản xuất ra tư
bản với quy mô ngày càng mở rộng. Sở dĩ giá trị th ặng d ư có th ể
chuyển hoá thành tư bản được là vì giá trị th ặng dư đã mang s ẵn
những yếu tố vật chất của tư bản mới.

Có thể minh hoạ tích luỹ và tái sản xuất mở rộng tư bản
chủ nghĩa bằng ví dụ: năm thứ nhất quy mô sản xuất là 80c + 20v +
20m. Giả định 20m không bị nhà tư bản tiêu dùng tất cả cho cá nhân,
mà được phân thành 10m dung để tích luỹ và 10 m dành cho tiêu
dùng cá nhân của nhà tư bản. Phần 10 m dùng để tích luỹ đ ược phân
thành 8c + 2v, khi đó quy mô sản xuất của năm sau sẽ là 88c + 22v +
22m (nếu m vẫn như cũ). Như vậy, vào năm thứ hai, quy mô tư bản
bất biến và tư bản khả biến đều tăng lên, giá trị thặng dư cũng tăng
lên tương ứng
*Động cơ của tích lũy tư bản:
Động cơ thúc đẩy tích luỹ và tái sản xuất mở rộng là
quyluật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản - quy luật giá
trịthặng dư, quy luật này chỉ rõ mục đích sản xuất của nhà t ưbản là
giá trị và sự tăng thêm giá trị. Để thực hiện mục đíchđó, các nhà t ư
bản không ngừng tích luỹ để mở rộng sảnxuất, xem đó là ph ương
tiện căn bản để tăng cường bóc lộtcông nhân làm thuê. là ph ương
tiện căn bản để tăngcường bóc lột công nhân làm thuê.

Mặt khác, cạnh tranh buộc các nhà tư bản phải không
ngừng làm cho tư bản của mình tăng lên bằng cách tăng nhanh t ư
bản tích luỹ.


*Những nhân tố ảnh hưởng tới tích lũy tư bản
Cùng vs q.trình tái sx TBCN, quy mô tích lũy tư bản cũng không
ngừng tăng lên. Việc xem xet những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích
lũy tư bản phải đc chia làm 2 TH:








Trường hợp 1 là, TH khối lượng g.trị thặng dư không đ ổi thì quy mô c ủa
tích lũy tư bản phụ thuộc vao tỷ lệ phân chia kh ối lượng giá tr ị th ặng d ư
đó thành 2 quỹ: quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùngcủa nhà TB.
trường hợp 2 là, nếu tỷ lệ phân chia đó đã đc xác định thì quy mô of tích
lũy TB phụ thuộc khối lượng g.trị thặng dư . Trong TH nàykhối l ượng g.tr ị
thặng dư bị phụ thuộc vào những yếu tố:
Trình độ bóc lột sức lao động bằng những biện pháp: tăng cường độ lao
động, kéo dài thời gian lao động, cắt giảm tiền lương công nhân.
Trình độ và năng xuất lao động xã hội: năng xuất lao động xã hội tăng lên
sẽ có them những yếu tố để biến giá trị thặng dư thành tư bản m ới nên
làm tăng quy mỗ tích lũy tư bản.
Sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và tư bản đã tiêu dung
Quy mô tư bản ứng trước

Câu 8 những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quy ền, vì
sao chủ nghĩa tư bản ngày nay vẫn là chủ nghĩa t ư bản đ ộc quy ền
Đặc điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền


Có thể khái quát một số đặc điểm kinh tế cơ bản của ch ủ nghĩa t ư
bản độc quyền như sau:
Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức đ ộc quy ền
Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ ch ức
độc quyền.
Tổ chức độc quyền là liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập
trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản ph ẩm c ủa một
ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh h ưởng quy ết định đến quá
trình sản xuất và lưu thông của ngành đó.
Những liên minh độc quyền, thoạt đầu hình thành theo sự liên kết
ngang, tức là sự liên kết những doanh nghiệp trong cùng ngành, d ưới
những hình thức cácten, xanhđica, tờrớt.
Cácten là hình thức tổ chức độc quyền dựa trên sự ký kết hiệp đ ịnh
giữa các xí nghiệp thành viên để thoả thuận với nhau về giá cả, quy mô
sản lượng, thị trường tiêu thụ, kỳ hạn thanh toán... còn việc s ản xu ất và
tiêu thụ sản phẩm vẫn do bản thân mỗi thành viên th ực hiện.
Xanhđica là hình thức tổ chức độc quyền trong đó việc tiêu th ụ sản
phẩm do một ban quản trị chung đảm nhiệm, nhưng sản xuất vẫn là công
việc độc lập của mỗi thành viên.
Cácten và xanhđica dễ bị phá vỡ khi tương quan l ực lượng thay đ ổi.
Vì vậy, một hình thức độc quyền mới ra đời là t ờrớt. Tờrớt thống nh ất cả
việc sản xuất và tiêu thụ vào tay một ban quản trị chung, còn các thành
viên trở thành các cổ đông.
Tiếp đó, xuất hiện sự liên kết dọc, nghĩa là sự liên kết không chỉ
những xí nghiệp lớn mà cả những xanhđica, tờrớt... thuộc các ngành khác
nhau nhưng có liên quan với nhau về kinh tế và kỹ thuật, hình thành các
côngxoócxiom.
Từ giữa thế kỷ XX phát triển một kiểu liên kết mới - liên kết đa
ngành - hình thành những cônglômêrat (conglomerat) hay consơn
(concern) khổng lồ thâu tóm nhiều công ty, xí nghiệp thuộc những ngành
công nghiệp rất khác nhau, đồng thời bao gồm cả vận tải, th ương m ại,
ngân hàng và các dịch vụ khác, v.v..


Nhờ nắm được địa vị thống trị trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông,
các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền. Giá cả độc
quyền là giá cả hàng hóa có sự chênh lệch rất lớn so với giá cả s ản xu ất.
Họ định ra giá cả độc quyền cao hơn giá cả sản xuất đối v ới nh ững hàng
hóa mà họ bán ra và giá cả độc quyền thấp dưới giá c ả sản xuất đ ối v ới
những hàng hóa mà họ mua, trước hết là nguyên liệu. Qua đó họ thu đ ược
lợi nhuận độc quyền.
Tuy nhiên, giá cả độc quyền không thủ tiêu được tác động c ủa quy
luật giá trị và quy luật giá trị thặng dư. Vì xét toàn bộ xã h ội thì tổng giá c ả
vẫn bằng tổng số giá trị và tổng lợi nhuận vẫn bằng tổng giá trị th ặng d ư
trong các nước tư bản chủ nghĩa. Những thứ mà các tổ chức độc quy ền
kếch xù thu được cũng là những thứ mà các tầng lớp tư sản vừa và nhỏ,
nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa và nhân dân ở các n ước
thuộc địa và phụ thuộc mất đi.
Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
Tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng dẫn đến sự hình thành các
tổ chức độc quyền trong ngân hàng. Từ chỗ làm trung gian trong việc
thanh toán và tín dụng, nay do nắm được phần lớn t ư bản ti ền tệ trong xã
hội, ngân hàng đã trở thành người có quyền lực vạn năng chi ph ối các hoạt
động kinh tế - xã hội.
Các tổ chức độc quyền ngân hàng cho các tổ chức độc quyền công
nghiệp vay và nhận gửi những số tiền lớn của các tổ ch ức đ ộc quy ền công
nghiệp trong một thời gian dài, nên lợi ích của chúng xoắn xuýt v ới nhau,
hai bên đều quan tâm đến hoạt động của nhau, tìm cách thâm nh ập vào
nhau. Từ đó hình thành một loại tư bản mới gọi là tư bản tài chính.
Tư bản tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vào nhau giữa tư bản
độc quyền ngân hàng và tư bản độc quyền trong công nghiệp.
Bọn đầu sỏ tài chính (trùm tư bản tài chính) thiết lập sự th ống tr ị
của mình thông qua "chế độ tham dự". Thực chất của chế độ tham d ự là
một nhà tư bản tài chính hoặc một tập đoàn tài chính, nh ờ n ắm đ ược s ố
cổ phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc hay "công ty m ẹ", r ồi
qua công ty mẹ chi phối các công ty phụ thuộc hay các "công ty con", các
công ty này lại chi phối các "công ty cháu" v.v.. B ởi v ậy, v ới m ột số t ư b ản


nhất định, một trùm tư bản tài chính có thể chi phối được nh ững lĩnh v ực
sản xuất rất lớn.
Xuất khẩu tư bản
Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hóa ra nước ngoài để th ực hiện
giá trị và giá trị thặng dư, còn xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra
nước ngoài (đầu tư tư bản ra nước ngoài) nhằm mục đích chiếm đo ạt giá
trị thặng dư ở các nước nhập khẩu tư bản đó.
Xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu, vì trong những nước tư bản ch ủ
nghĩa phát triển đã tích luỹ được một khối lượng tư bản lớn và n ảy sinh
tình trạng "thừa tư bản". Tình trạng thừa này không phải là th ừa tuy ệt
đối, mà là thừa tương đối, nghĩa là không tìm đ ược n ơi đầu t ư có l ợi nhu ận
cao ở trong nước. Tiến bộ kỹ thuật ở các nước này đã dẫn đ ến tăng cấu
tạo hữu cơ của tư bản và hạ thấp tỷ suất lợi nhuận; trong khi đó, ở nh ững
nước kém phát triển về kinh tế, nhất là ở các nước thuộc địa, dồi dào
nguyên liệu và nhân công giá rẻ nhưng lại thiếu vốn và kỹ thuật.
Do tập trung trong tay một khối lượng tư bản khổng lồ nên việc
xuất khẩu tư bản ra nước ngoài trở thành một nhu cầu tất yếu của các tổ
chức độc quyền.
Xét về hình thức đầu tư, có thể phân chia xuất kh ẩu tư bản
thành xuất khẩu tư bản trực tiếp và xuất khẩu tư bản gián tiếp. Xuất
khẩu tư bản trực tiếp là đưa tư bản ra nước ngoài để trực tiếp kinh doanh
thu lợi nhuận cao. Xuất khẩu tư bản gián tiếp là cho vay đ ể thu l ợi t ức.
Việc xuất khẩu tư bản là sự mở rộng quan hệ sản xuất tư bản ch ủ
nghĩa ra nước ngoài, là công cụ chủ yếu để bành trướng s ự thống trị của
tư bản tài chính ra toàn thế giới. Tuy nhiên, việc xuất kh ẩu t ư b ản, v ề
khách quan có những tác động tích cực đến nền kinh tế các n ước nh ập
khẩu, như thúc đẩy quá trình chuyển kinh tế tự cung tự cấp thành kinh t ế
hàng hóa, thúc đẩy sự chuyển biến từ cơ cấu kinh tế thuần nông thành c ơ
cấu kinh tế nông - công nghiệp, mặc dù cơ cấu này còn què quặt, l ệ thu ộc
vào kinh tế của chính quốc.
Sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các liên minh độc
quyền quốc tế


Việc xuất khẩu tư bản tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất
yếu dẫn đến việc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh
vực đầu tư tư bản, phân chia thị trường thế giới gi ữa các tổ ch ức độc
quyền. Cuộc đấu tranh giành thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu và
lĩnh vực đầu tư có lợi nhuận cao ở nước ngoài trở nên gay gắt. Nh ững cu ộc
đụng đầu trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quy ền có sức m ạnh
kinh tế hùng hậu dẫn đến các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chúng, t ất
yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp, ký kết hiệp định để củng cố địa v ị độc
quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trường nhất định. T ừ
đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế, các tập đoàn xuyên qu ốc
gia…
Sự phân chia thế giới về mặt lãnh thổ giữa các cường quốc đế
quốc
Khi đầu tư ra nước ngoài, đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ
thuộc, tư bản độc quyền không chỉ thu được lợi nhuận đ ộc quy ền không
thôi mà là “siêu lợi nhuận độc quyền” do có những điều kiện thuận l ợi mà
tại chính quốc không có được như nguồn nguyên liệu dồi rào giá rẻ hoặc
lấy không, giá nhân công rẻ mạt…Do đó luôn diễn ra sự cạnh tranh kh ốc
liệt giữa các tổ chức độc quyền thuộc các quốc gia khác nhau. Đi ều này đòi
hỏi có sự can thiệp của nhà nước nhằm giúp cho các tổ ch ức đ ộc quy ền
của nước mình giành giật thị trường và môi trường đầu tư nhằm thu đ ược
siêu lợi nhuận độc quyền ở ngoại quốc. Sự can thiệp đó của nhà n ước đã
biến nó thành một nước đế quốc chủ nghĩa.
Như vậy, chủ nghĩa đế quốc là sự kết hợp giữa yêu cầu vươn ra và
thống trị ở nước ngoài của tư bản độc quyền với đường lối xâm lăng c ủa
nhà nước.
Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc
quyền biểu hiện trong đường lối xâm lược nước ngoài, biến những nước
này thành hệ thống thuộc địa của các cường quốc nh ằm đáp ứng yêu c ầu
thu siêu lợi nhuận độc quyền của tư bản độc quyền.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×