Tải bản đầy đủ

xác định quyền nuôi con của cha mẹ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
KHOA LUẬT

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
NGÀNH LUẬT KINH TẾ

XÁC ĐỊNH QUYỀN NUÔI CON CỦA CHA VÀ MẸ TRONG
CÁC VỤ ÁN LY HÔN - THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảg viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. NGUYỄN NGỌC ANH TIÊN

CHUNG VĂN THÔNG
Mã số SV: 1511542773
Lớp: 15DLK2A

TP. Hồ Chí Minh - 2019



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
KHOA LUẬT
⎯⎯⎯

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
NGÀNH LUẬT KINH TẾ

XÁC ĐỊNH QUYỀN NUÔI CON CỦA CHA VÀ MẸ TRONG
CÁC VỤ ÁN LY HÔN - THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN
DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện

ThS. NGUYỄN NGỌC ANH TIÊN

CHUNG VĂN THÔNG
Mã số SV: 1511542773
Lớp: 15DLK2A

TP. Hồ Chí Minh - 2019


LỜI CÁM ƠN
⎯⎯&⎯⎯
Báo cáo thực tập là kết quả của một quá trình học tập suốt bốn năm ở giảng đường
Đại học, quá trình rèn luyện và áp dụng tại cơ quan, đơn vị thực tập.
Qua bài báo cáo này, tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu, Quý thầy cô
trường Đại học Nguyễn Tất Thành, đặc biệt là các thầy cô khoa Luật đã tận tâm dạy
bảo và truyền đạt kiến thức quý bau trong thời gian tôi theo học tại trường. Trường
Đại học Nguyễn Tất Thành là nơi đã tạo nền tảng kiến thức quý báu để tôi có thể vận
dụng cho cuộc sống và công việc tương lai.
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cám ơn chánh án, thẩm phán và các anh, chị
trong Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình thực tập tại Tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh. Trong quá trình thực hiện khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý
từ Quý thầy cô, anh, chị để bài báo được hoàn chỉnh hơn.
Một lần nữa, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến toàn thể Quý thầy cô và các
anh chị trong Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Ngày

tháng

năm 2019

Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên)

Chung Văn Thông

i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết
quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên
cứu khoa học nào.

Ngày

tháng

năm 2019

Sinh viên thực hiện
(ký và ghi họ tên)

Chung Văn Thông

ii


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
• Họ và tên người nhận xét: Nguyễn Ngọc Anh Tiên.
• Học vị: Thạc sĩ.

NỘI DUNG NHẬN XÉT
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
…………………………………………………………………………………………...
TP.HCM, ngày

tháng

năm 2019

NGƯỜI NHẬN XÉT

iii


MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU .....................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................................1
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .............................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................2
5. Kết cấu bài báo cáo ...............................................................................................2
PHẦN II. NỘI DUNG ................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP .....................................1
1.1. Thông tin chung.....................................................................................................1
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh...........1
1.3. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân Bình Chánh ................................................1
1.4. Chức năng, nhiệm vụ Tòa án nhân dân Bình Chánh .............................................2
1.5. Thẩm quyền của tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ...........................................2
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH QUYỀN NUÔI CON TRONG
CÁC VỤ ÁN LY HÔN...............................................................................................4
2.1. Khái niệm và các trường hợp ly hôn.....................................................................4
2.1.1.

Khái niệm ly hôn ............................................................................................4

2.1.2. Các trường hợp ly hôn ......................................................................................5
2.1.2.1. Ly hôn khi thuận tình ly hôn ..........................................................................5
2.1.2.2. Ly hôn theo yêu cầu của một bên ...................................................................6
2.2. Giải quyết tranh chấp quyền nuôi con trong các vụ án ly hôn ............................10
2.2.1. Tranh chấp quyền nuôi con đối với con dưới 36 tháng tuổi ............................11
2.2.2. Tranh chấp quyền nuôi con đối với con trên 36 tháng tuổi .............................12
2.2.3. Tranh chấp quyền nuôi con đối với con trên 07 tuổi .......................................12
2.2.4. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn ...........................13
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI
CON TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
BÌNH CHÁNH .........................................................................................................15
3.1. Báo cáo thống kê số liệu ly hôn qua từng năm ...................................................15
iv


3.2. Một số vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có tranh chấp về
quyền nuôi con ...........................................................................................................16
3.2.1. Vụ án số 1: Bản án hôn nhân và gia đình thụ lý số 682/2018/TLST-HNGĐ
ngày 12 tháng 6 năm 2018 .........................................................................................16
3.2.1.1. Tóm tắt nội dung vụ án .................................................................................16
3.2.1.2. Nhận định và quyết định của tòa án ..............................................................17
3.2.1.3. Bình luận vụ án .............................................................................................18
3.2.2.

Vụ án số 2: bản án hôn nhân và gia đình thụ lý số 350/2018/TLST-HNGĐ

ngày 10 tháng 4 năm 2018. ........................................................................................19
3.2.2.1.

Tóm tắt nội dung vụ án .............................................................................19

3.2.2.2.

Nhận định và quyết định của tòa án ..........................................................20

3.2.2.3.

Bình luận vụ án .........................................................................................21

3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử về việc xác định quyền nuôi con
trong các vụ án ly hôn ................................................................................................21
PHẦN III. KẾT LUẬN ............................................................................................24

v


DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

HNGĐ

Hôn nhân và gia đình

TAND

Tòa án nhân dân

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

vi


PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình Việt Nam được xây dựng dựa trên cơ sở đạo đức và truyền thống tốt đẹp
của dân tộc ta thể hiện ở sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa
các thành viên. Trong gia đình, mọi quan hệ đều dựa trên cơ sở tình cảm. Tuy nhiên,
nếu như quan hệ vợ chồng là quan hệ dựa trên cơ sở hôn nhân thì quan hệ giữa cha mẹ
đối với con lại dựa trên quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng mà ở đó chứa đầy tình
cảm yêu thương gắn bó, mang trong đó là ý thức và trách nhiệm. Người ta có quyền ly
hôn vợ hoặc chồng bằng một bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án nhưng không ai
có quyền chối bỏ trách nhiệm đối với con của mình, ngay cả khi hôn nhân không còn
tồn tại.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con được quy định đầy đủ và chi tiết trong
Luật Hôn Nhân và Gia Đình và một số văn bản pháp luật hiện hành khác có liên quan.
Tuy nhiên trong điều kiện xã hội hiện nay, khi mà trong xã hội có nhiều sự thay đổi do
tác động của nhiều yếu tố; Lối sống và nhân cách cá nhân chịu những áp lực, thách
thức bởi nhiều loại thang bậc giá trị; Sự đề cao giá trị vật chất; sự thờ ơ, thiếu trách
nhiệm của các bậc cha mẹ đối với con cái diễn ra ngày càng phổ biến. Thì các quyền
và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong thường hợp ly hôn theo quy định của Luật
Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam có thực sự được thực thi một cách triệt để? Nội dung
cụ thể của những quy định này như thế nào? Có những vướng mắc bất cập gì trong
thực tiễn thực hiện? Phương hướng hoàn thiện nó ra sao? Đi tìm câu trả lời cho những
vấn đề đó chính là lý do tôi chọn đề tài “Xác định quyền nuôi con của cha và mẹ
trong các vụ án ly hôn - Thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành
phố Hồ Chí Minh” là đề tài báo cáo thực tập.

2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về mối quan hệ về
quyền và nghĩa vụ cha mẹ đối với con trong trường hợp ly hôn; Trên cơ sở phân tích,
đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định của Luật Hôn Nhân và
Gia Đình hiện hành về quyền nuôi con trong trường hợp ly hôn, đề xuất một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về vấn đề này.

1


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện
hành về tranh chấp quyền nuôi con trong ly hôn (những quy định của pháp luật nội
dung) và thực trạng giải quyết tranh chấp này trong giải quyết án ly hôn qua công tác
xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
 Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào nghiên cứu các quy định về thủ tục giải quyết
tranh chấp quyền nuôi con trong việc giải quyết án ly hôn tại Tòa án với đối tượng
nghiên cứu bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của
BLTTDS trong thủ tục giải quyết các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh. Tác giả chỉ đi sâu, tìm hiểu các quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết
qua công tác xét xử thực tiễn ở giai đoạn xét xử sơ thẩm.

4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và
phép biện chứng Mac-Lênin.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng một số phương pháp cụ thể như:
 Phương pháp phân tích: Các vấn đề mà đề tài đặt ra sẽ được phân tích về mặt lý
luận để thấy rõ tính khoa học của việc điều chỉnh các thủ tục giải quyết quan hệ hôn
nhân và gia đình nói chung và vấn đề ly hôn nói riêng.
 Phương pháp tổng hợp: Áp dụng phương pháp này nhằm rút ra những vấn đề cơ
bản về mặt lý luận, từ đó tìm ra những ưu điểm và hạn chế trong việc quy định về nội
dung quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề về thủ tục giải quyết các tranh chấp về
ly hôn.
 Phương pháp so sánh: so sánh nội dung các quy định pháp luật hiện hành với
những vấn đề lý luận pháp luật nhằm rút ra những điểm đã và chưa phù hợp trong quy
định của pháp luật so với lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật.

5. Kết cấu bài báo cáo
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
báo cáo gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về cơ quan thực tập
Chương 2: Các trường hợp tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền nuôi con trong các vụ án ly hôn tại
tòa án nhân dân huyện Bình Chánh

2


PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP
1.1. Thông tin chung
Tên cơ quan: Tòa án Nhân dân Huyện Bình Chánh.
Địa chỉ: A13 Nguyễn Hữu Trí, thị trấn Tân Túc, Bình Chánh, Tp. Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 7602252- 7602251
Website: http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh
Có thể nói, lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án Việt Nam nói
chung, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh nói riêng gắn liền với lịch sử xây dựng,
củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước trong đó, các cơ quan tư pháp. Sau Cách mạng
tháng 8/1945 thành công, cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, ngày 13/9/1945, Tòa án quân sự trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam đã được thành
lập dựa trên sắc lệnh số 33, Tòa án Quân sự là tiền thân, đánh dấu sự ra đời của ngành
Tòa án Việt Nam ngày nay.
Ngành Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thành lập vào tháng 9 năm
1976, hệ thống tổ chức bộ máy lúc bấy giờ gồm Tòa án nhân dân thành phố và 11 Tòa
án nhân dân quận - huyện trong đó có bao gồm Tòa án huyện Bình Chánh TP.HCM.
Trải qua hơn 40 năm xây dựng và trưởng thành, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh
đã từng bước lớn mạnh, xứng đáng với sự tin tưởng của nhân dân trong công cuộc bảo
vệ công lý.

1.3. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân Bình Chánh
Cơ cấu của tổ chức TAND huyện Bình Chánh gồm:
Toà hình sự, tòa dân sự, tòa gia đình và người chưa thành niên, tòa xử lý hành chính.
Bộ máy giúp việc gồm: 01 chánh án, 02 phó chánh án, 27 thẩm phán, 20 thư ký tòa,
công chức khác và người lao động.

1


1.4. Chức năng, nhiệm vụ Tòa án nhân dân Bình Chánh
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp chuyên xét xử tại địa bàn huyện Bình
Chánh của thành phố.
Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ
quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã
hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành
chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật. Xem xét đầy đủ, khách
quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng. Căn cứ
vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng
hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về
tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ
chức, cá nhân tôn trọng; Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành.

1.5. Thẩm quyền của tòa án nhân dân huyện Bình Chánh
Tòa án huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại
Điều 26, 28 BLTTDS 2015, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26.
Tòa án huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về kinh doanh,
thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS 2015.
Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.
Tòa án thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:
+ Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27
của BLTTDS 2015;
+ Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10
và 11 Điều 29 của BLTTDS 2015;

2


+ Yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 31
của BLTTDS 2015;
+ Yêu cầu về lao động quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 33 của BLTTDS
2015.
Ra các quyết định hoãn, miễn, tạm đình chỉ, đình chỉ,... Khi thấy cần thiết trong quá
trình thụ lý giải quyết vụ án.
Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có
thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ
Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; Cơ
quan có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời Tòa án kết quả xử lý văn bản pháp luật bị
kiến nghị theo quy định của pháp luật làm cơ sở để Tòa án giải quyết vụ án.

3


CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÁC ĐỊNH QUYỀN NUÔI CON TRONG
CÁC VỤ ÁN LY HÔN
2.1. Khái niệm và các trường hợp ly hôn theo quy định của pháp luật hiện

hành
2.1.1. Khái niệm ly hôn
Quan hệ hôn nhân được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng
và tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người. Tuy nhiên, trong cuộc
sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến
mức họ không thể chung sống với nhau nữa. Ly hôn được đặt ra để giải phóng cho vợ
chồng và thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình.
Ly hôn là sự chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo
yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng (Điều 3, khoản 14, Luật Hôn Nhân
và Gia Đình năm 2014). Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, đây là biện pháp
cuối cùng mà luật cho phép thực hiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào
tình trạng khủng hoảng mà không thể khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào. Ly hôn
thực chất là mặt trái của quan hệ hôn nhân cũng là mặt không thể thiếu khi quan hệ
hôn nhân đó thực sự tan vỡ. Nói cách khác, ly hôn chỉ là giải pháp sau cùng khi không
còn khả năng hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng – mục đích hôn nhân không đạt được.
Trước đây, do ảnh hưởng của tư tưởng lạc hậu việc ly hôn được xem là bất bình
thường, bị xã hội lên án và bị hạn chế tối đa đặc biệt là đối với người phụ nữ, việc chủ
động xin ly hôn là điều khó chấp nhận được. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay cách
nhìn nhận về ly hôn đã thay đổi, có phần thoáng hơn, ly hôn được xem là một hiện
tượng bình thường của xã hội hiện đại. Tức là khi xã hội thừa nhận quyền tự do kết
hôn thì cũng đương nhiên cho phép tự do trong ly hôn.
Ly hôn là một trong những quyền cơ bản của con người, việc Nhà nước thừa nhận
chế định ly hôn trong pháp luật là thể hiện sự đảm bảo cũng như tôn trọng quyền tự do
định đoạt của vợ chồng, giúp họ giải quyết những bế tắc, xung đột trong đời sống hôn
nhân. Nhà nước kiểm soát ly hôn bằng pháp luật, mặc dù Nhà nước thừa nhận ly hôn
là quyền dân sự gắn liền với nhân thân vợ chồng song cũng cần phải hiểu rõ về bản

4


chất rằng đây không phải là quyền tuyệt đối. Nhà nước sẽ thực hiện quyền là kiểm soát
đối với hôn nhân nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực mà ly hôn để lại. Tòa án
chấp nhận yêu cầu ly hôn của vợ chồng phải dựa vào thực chất quan hệ vợ chồng và
phải phù hợp với các căn cứ ly hôn mà pháp luật quy định. Nhà nước ban hành các quy
định pháp luật về căn cứ ly hôn, trường hợp ly hôn, về trình tự thủ tục ly hôn, về việc
giải quyết hậu quả ly hôn. Do đó nếu vợ chồng muốn được ly hôn phải tuân thủ các
điều kiện, căn cứ ly hôn và các trình tự thủ tục ly hôn theo luật định. Mọi trường hợp
vợ chồng xin ly hôn chỉ xét thất có căn cứ ly hôn theo luật định là quan hệ vợ chồng đã
đến mức “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được” thì tòa án mới giải quyết ly hôn.
Luật hôn nhân và gia đình 2014 khoản 3 điều 51 quy định “chồng không có quyền
yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12
tháng tuổi” trong trường hợp vợ có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng
tuổi thì chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn. Quy định ly hôn đã tạo nền tảng
vững chắc cho việc giải quyết các hậu quả pháp ly phát sinh sau khi quan hệ hôn nhân
chấm dứt. Đó là các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, quan hệ cấp dưỡng giữa vợ
chồng và quan hệ cấp dưỡng nuôi con.

2.1.2. Các trường hợp ly hôn
2.1.2.1. Ly hôn khi thuận tình ly hôn
Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân
được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng.
Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp
vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa
thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ
sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly
hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi
chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.
Muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân một cách hợp pháp, các bên còn phải thỏa thuận
được về các hậu quả của việc ly hôn, đặc biệt là về phần liên quan đến việc phân chia
tài sản chung và về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Nếu
xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, thì Tòa án công nhận sự thuận tình ly

5


hôn và sự thỏa thuận về tài sản và con trên cơ sở bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng
của vợ và con; nếu không thỏa thuận được hoặc tuy có thỏa thuận, nhưng không bảo
đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con, thì Tòa án quyết định.
Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 điều 54 có quy định “sau khi đã thụ lý đơn yêu
cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”, khi
giải quyết ly hôn đồng thuận, tòa án vẫn phải tiến hành hòa giải đoàn tụ. Nếu hòa giải
đoàn tụ không thành, Tòa án lập biên bản về việc đồng thuận ly hôn và hòa giải không
thành.

2.1.2.2. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng, hoặc
cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn
nhân. Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu
của một bên như sau:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa
án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình
hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu
ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật
này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo
lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của
người kia.”
Theo đó, khi ly hôn theo yêu cầu của một bên thì Tòa án cần dựa vào một trong ba
căn cứ sau đây:
* Thứ nhất: Đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại
Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng
có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng
làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích của hôn nhân không đạt được.

6


Trước tiên, khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng, Toà án phải tiến hành điều tra và hoà
giải, nếu hoà giải không thành thì Toà án cần xác định tình trạng của quan hệ hôn
nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết. Việc giải quyết ly hôn cần phải chính
xác. Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, bảo vệ
quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình. Ngược lại, nếu việc giải quyết
không chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh phúc gia đình, phá huỷ một cuộc hôn nhân còn
có thể cứu vãn được và gây ra hậu quả không đáng có. Mặt khác, giải quyết ly hôn
cũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ
thể.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung điểm mới khi cho ly hôn khi có
hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng.
Như vậy, luật hiện hành quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giải quyết cho
ly hôn. Bởi qua tổng kết thực tiễn giải quyết các án kiện ly hôn của Toà án cho thấy số
vụ ly hôn có hành vi ngược đãi, đánh đập chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nguyên nhân
dẫn đến ly hôn ở nước ta trong đó thì đa phần phụ nữ là nạn nhân của tình trạng này.
Tình trạng bạo lực trong gia đình ngày càng gia tăng và thể hiện tính chất nghiêm
trọng của nó. Tình trạng bạo lực trong gia đình xảy ra do nhiều lý do khác nhau. Có
trường hợp do cuộc sống vật chất quá khó khăn. Có trường hợp do ghen tuông, nghi
ngờ một bên ngoại tình nên đã đánh đập nhau. Cờ bạc, nghiện ngập cũng là lý do dẫn
đến tình trạng vợ chồng đánh đập, ngược đãi nhau. Đa phần bạo lực trong gia đình dẫn
đến tình trạng vợ chồng ly hôn, có trường hợp dẫn đến án mạng. Bên cạnh đó, đối với
những vi phạm khác, những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng trong đời sống vợ chồng...
là lý do để ly hôn thì luật cũng quy định rõ ràng phải có cơ sở nhận định chung rằng
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được thì mới giải quyết cho ly hôn.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật phòng chống bạo lực gia đình thì “ Bạo lực
gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn
hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.” Các hành vi
bạo lực gia đình bao gồm:
“Điều 2. Các hành vi bạo lực gia đình
1. Các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

7


a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính
mạng;
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm
trọng;
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và
cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản
riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia
đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả
năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ
thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng được áp dụng đối với thành
viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung
sống với nhau như vợ chồng.”
Còn tình trạng vợ chồng trầm trọng được hiểu như sau:
Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ
biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì
sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải
nhiều lần.
Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh
đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã
được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải
nhiều lần.
Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ
hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở,
khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

8


Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì
phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã nêu ở
trên. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có
quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có
hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống
chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng không
bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng. Không tôn trọng danh dự, nhân phẩm,
uy tín của vợ, chồng; Không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng;
Không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.
Như vậy, nếu tình trạng vợ chồng thỏa mãn các điều kiện trên tòa án sẽ quyết định
cho vợ chồng được ly hôn, tuy nhiên trường hợp ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ chăm
sóc, nuôi dưỡng…sẽ không được được Tòa án chấp nhận.
* Thứ hai: Đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất
tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Tuyên bố một người mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người cụ
thể “hoàn toàn không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết. Theo quy định
tại Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên,
mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp
luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống
hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên
bố người đó mất tích..” Khoản 2 Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng
quy định về căn cứ cho ly hôn có đề cập tới trường hợp yêu cầu ly hôn khi một trong
hai người mất tích như sau: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án
tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”.
Trường hợp đồng thời yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích và yêu cầu Tòa án giải
quyết ly hôn, cần lưu ý Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn có bằng chứng chứng minh
được chồng hoặc vợ đã biệt tích từ hai năm trở lên kể từ ngày có tin tức cuối cùng về
chồng (vợ), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy
định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người
đó còn sống hay đã chết. Việc tuyên bố cá nhân mất tích có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Nó góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân cũng như các chủ thể có liên quan. Việc

9


xác định đúng điều kiện và hậu quả pháp lí của các tuyên bố này là cơ sở đảm bảo
quyền lợi cho các chủ thể, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả nhưng quy định
của pháp luật trong tuyên bố các cá nhân mất tích.
* Thứ ba: Đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51
của Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2014 thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ
về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính
mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
Theo đó, theo quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình thì có thể xin ly hôn thay
cho người thân và luật cũng quy định cụ thể về lý do xin ly hôn, trong đó bạo lực gia
đình là một lý do, căn cứ để người chồng hoặc người vợ có quyền yêu cầu tòa án cho
ly hôn. Cụ thể tại Khoản 2, Điều 51 trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy
định như sau: "Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly
hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể
nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình
do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh
thần của họ."
Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa án giải
quyết ly hôn như trước đây thì kể từ nay, căn cứ để cha, mẹ, người thân thích khác
cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm
thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình,
đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng
nghiêm trọng.

2.2. Giải quyết tranh chấp quyền nuôi con trong các vụ án ly hôn
Về nguyên tắc, các đương sự có thể thỏa thuận người trực tiếp nuôi con và thỏa
thuận này được Tòa án ghi nhận trong Bản án. Nếu các đương sự không thỏa thuận
được người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của
Luật HNGĐ (Điều 92) và các văn bản liên quan để ra quyết định.
Pháp luật quy định về người trực tiếp nuôi dưỡng con quy định tại điều 81 Luật hôn
nhân và gia đình số 52/2014/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2015:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

10


hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định
của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên
sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định
giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con
từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp
người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”.
Như vây, khi hai bên không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con, Tòa án sẽ căn
cứ vào độ tuổi để giải quyết. Các mốc quan trọng như sau:

2.2.1. Tranh chấp quyền nuôi con đối với con dưới 36 tháng tuổi
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ
không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc
cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Cụ thể tại khoản 3 điều 81
luật HNGD năm 2014 có quy định như sau “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ
trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi
ích của con”. Như vậy đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi người mẹ được giao
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, nếu người mẹ không đủ điều kiện nuôi con thì người
cha có thể yêu cầu tòa án được giành quyền nuôi con. Trong trường hợp này người cha
vừa phải chứng minh được người mẹ không đủ điều kiện nuôi còn vừa phải chứng
minh được khả năng nuôi con của mình.
* Ý nghĩa:
Đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi sẽ ưu tiên quyền nuôi con cho người mẹ:
Để bảo đảm cho sự phát triển tốt nhất về cả sức khỏe, tâm sinh lý cho trẻ em dưới 36
tháng tuổi thì pháp luật có sự ưu tiền quyền nuôi con cho người mẹ. Trong thời gian
này đứa trẻ cần sự chăm sóc của người mẹ, điều này người cha khó có thể mà thay thế
được. Vì vậy với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi người mẹ luôn được ưu tiên nuôi
con.

11


2.2.2. Tranh chấp quyền nuôi con đối với con trên 36 tháng tuổi
Con trên 03 tuổi nhưng chưa đủ 07 tuổi: Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con,
cụ thể tại khoản 2 điều 81 luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014 thì “Vợ, chồng thỏa
thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với
con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên
trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên
thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Như vậy Đối với trường hợp con trên 03 tuổi
đến dưới 07 tuổi nếu có tranh chấp thì Tòa án sẽ xác định dựa trên cơ sở người cha
hoặc mẹ có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái về mọi mặt cho con. Điều kiện về
kinh tế, vật chất để chăm con, như thu nhập hàng tháng bao nhiêu? Với thu nhập đó có
đảm bảo cho việc phát triển cho con không. Ngoài ra thì Tòa án sẽ còn xem xét về thời
gian chăm sóc nuôi dưỡng con, có phù hợp với việc đưa đón con đi học hay không,
thời gian chăm sóc con có hay không?
Bên cạnh đó Tòa án sẽ còn xem xét đến yếu tố nơi cư trú để thực hiện việc chăm
con có thuận lợi hay không, thuận lợi cho sự phát triển của con về môi trường sống,
thuận lợi cho con học hành, vui chơi, giải trí của con. Một yếu tố không thể thiếu mà
Tòa án họ vẫn xem xét đến đó là thái độ chăm sóc con cái của bố mẹ, có giành nhiều
thời gian cho con hay không, có chơi với con, chia sẻ cùng con hay không.
Hành vi chăm sóc con, đới xử với con của bố mẹ, có tốt hay không, có quan tâm, chăm
chút đến con hay không, không chỉ là yếu tố vật chất mà còn quan tâm đến tâm lý, cảm
xúc của con.
Khi bố hoặc mẹ tổng hợp được những yếu tố đó thì Tòa án sẽ xẽ xem xét người trực
tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, con cái.
* Ý nghĩa:
Đối với trường hợp con trên 36 tháng tuổi đến dưới 07 tuổi sẽ ưu tiên quyền nuôi
con cho người nào có đủ điều kiện và đản bảo được tốt nhất quyền và lợi ích về mọi
mặt cho đứa trẻ để bảo đảm cho sự phát triển tốt nhất về cả sức khỏe, tâm sinh lý cho
trẻ.

2.2.3. Tranh chấp quyền nuôi con đối với con trên 07 tuổi
Con trên 07 tuổi: Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, cụ thể tại khoản 2 điều
81 luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2014 thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp
nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; Trường hợp không

12


thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào
quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện
vọng của con”. Như vậy Đối với trường hợp con trên 07 tuổi ngoài những việc người
cha hoặc mẹ có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái về mọi mặt cho con. Điều
kiện về kinh tế, vật chất để chăm con, như thu nhập hàng tháng bao nhiêu? Với thu
nhập đó có đảm bảo cho việc phát triển cho con không. Ngoài ra thì Tòa án sẽ còn xem
xét về thời gian chăm sóc nuôi dưỡng con, có phù hợp với việc đưa đón con đi học hay
không, thời gian chăm sóc con có hay không? Nơi cư trú để thực hiện việc chăm con
có thuận lợi hay không, thuận lợi cho sự phát triển của con về môi trường sống, thuận
lợi cho con học hành, vui chơi, giải trí của con. Một yếu tố không thể thiếu mà Tòa án
họ xem xét đến đó là thái độ chăm sóc con cái của bố mẹ, có giành nhiều thời gian cho
con hay không, có chơi với con, chia sẻ cùng con hay không thì việc xem xét nguyện
vọng của đứa trẻ sẽ là một trong những căn cứ quan trọng để tòa quyết định về việc
trao quyền nuôi con cho ai.
Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con
thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.
* Ý nghĩa:
Đối với trường hợp con trên 07 tuổi ngoài những việc xem xét nhiều yếu tố, thì lấy
ý kiến để xét nguyện vọng của con về việc sống với cha hay mẹ sau khi cha, mẹ ly hôn
khi con đạt độ tuổi nhất định với mức độ nhận thức nhất định là thủ tục tố tụng có tính
ràng buộc. Đây cũng là cơ chế nhân văn, có ý nghĩa cả ở góc độ lý luận lẫn thực tiễn.
Bởi lẽ, khi cha mẹ ly hôn, các con sẽ mất đi điểm tựa quan trọng là mái ấm gia đình có
đủ cả cha lẫn mẹ, nên việc tạo cơ chế để các con nói lên tâm tư, nguyện vọng, vì lợi
ích của chính mình là hoàn toàn cần thiết.

2.2.4. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
Sau khi thủ tục ly hôn được giải quyết xong, người trực tiếp nuôi con mà không
chăm lo được tốt cho đứa trẻ, thì người cha mẹ không trực tiếp nuôi hoặc các cá nhân
tổ chức được quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình 2014 về thay đổi người trực
tiếp sau khi ly hôn thì trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức bao
gồm người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà
nước về trẻ em, hội liên hiệp phụ nữ thì tòa án sẽ xem xét và có thể ra quyết định thay
đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên quyền lợi của con. Như vậy, cha mẹ không trực

13


tiếp nuôi con hoặc các cá nhân tổ chức được quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân gia
đình 2014 có quyền được yêu cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, tuy nhiên
cha mẹ không trực tiếp nuôi con phải chứng minh được một trong các căn cứ sau đây:
Thứ nhất: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp
với lợi ích của con. Như vậy hai bên có thể thỏa thuận với nhau về việc ai là người
trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng. Việc thỏa thuận này phải xuất phát từ sự tự
nguyện của hai bên, xuất phải từ lợi ích của con và được thể hiện bằng văn bản.
Thứ hai: Trường hợp hai bên không thỏa thuận được với nhau thì cần chứng minh
được người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con. Nghĩa là người không trực tiếp nuôi con phải chứng minh
được người trực tiếp nuôi con không thể trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dạy con
chung được trong khi người không trực tiếp nuôi con có điều kiện để nuôi dạy con tốt
hơn, ngoài ra người không trực tiếp nuôi con cần chứng minh được hiện tại bạn có chỗ
ở ổn định, có công việc ổn định, có thu nhập, có mức lương cao hơn người trực tiếp
nuôi con.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem
xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.
* Ý nghĩa:
Như vậy, vì lợi ích của trẻ việc quy định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con
nhằm tạo điều kiện cho trẻ được chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và trưởng thành với
những đảm bảo về vật chất và tinh thần tốt nhất có thể vì vậy các bên có quyền yêu
cầu tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của trẻ.

14


CHƯƠNG 3.
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN NUÔI CON
TRONG CÁC VỤ ÁN LY HÔN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
3.1. Báo cáo thống kê số liệu ly hôn qua từng năm
Hiện nay số lượng các vụ án ly hôn mà tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã thụ
lý, giải quyết ngày càng tăng về số lượng và càng đa dạng, phức tạp hơn về nội dung
tranh chấp. Khác với những gì từng dự đoán các trường hợp khi vợ, chồng ly hôn đều
ít có tranh chấp việc chia tài sản nhưng thay vào đó họ lại tranh chấp về quyền nuôi
con.
ĐVT: vụ, việc
Năm

2016

2017

2018

Thụ lý

920

1107

1474

Giải quyết

914

1071

1295

443

568

543

Vụ, việc

Yêu cầu giải quyết
về quyền nuôi con

Bảng 1: Thống kê số vụ, việc hôn nhân và gia đình qua các năm.
Nguần: Báo cáo tổng kết năm 2016, 2017, 2018 của tòa án nhân dân huyện Bình
Chánh.
Qua bảng số liệu trên đã cho thấy, số lượng về các vụ việc HNGĐ và tòa án thụ lý
tăng qua các năm, cụ thể năm 2016 số vụ việc được thụ lý 920 vụ việc; đến năm 2017
tăng lên 1107 vụ việc, tăng 20% so với năm 2016; đến năm 2018 số vụ việc được tòa
án thụ lý là 1474 vụ việc, tăng 60% so với năm 2016 và tăng 33% so với năm 2017.
Nhận thấy, tại địa bàn huyện Bình Chánh, tình trạng ly hôn luôn ở mức cao theo từng
năm, chính quyền địa phương cần quan tâm hơn tới công tác tiến hành hòa giải tại Ủy
ban hoặc trực tiếp tại tòa cần đạt hiệu quả cao hơn.

15


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×