Tải bản đầy đủ

Xử lý hộ kinh doanh buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục cho phép

Phần I: MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, sản xuất nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng. Bên cạnh
đó, nước ta lại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, với điều kiện nóng ẩm, mưa
nhiều, do vậy, ngoài vấn đề tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển
cũng là tạo điều kiện cho những loài sinh vật gây hại phát triển. Trong những
năm vừa rồi, vấn đề thâm canh để tăng năng suất, cộng với vấn đề biến đổi khí
hậu dẫn đến các sinh vật gây hại phát sinh và gây hại trên diện rộng, diễn biến
phức tạp. Chính vì vậy, để bảo vệ tốt các loại cây trồng trong sản xuất nông
nghiệp, vai trò của thuốc bảo vệ thực vật chiếm một vị trí quan trọng.
Thuốc bảo vệ thực vật là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những
chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm, siêu vi trùng, tuyến trùng,
…), những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, được sử dụng để bảo vệ cây
trồng và nông sản, chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng,
nhện, tuyến trùng, chuột, chim, thú rừng, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại,…).
Chính vì vậy, thuốc bảo vệ thực vật đã góp phần hạn chế sự phát triển, phát sinh
của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm
được năng suất cây trồng, giảm thiểu thiệt hại cho nông dân. Thuốc bảo vệ thực
vật góp phần không nhỏ vào phát triển nền nông nghiệp bền vững, mang lại hiệu
quả kinh tế cao. Giải quyết hài hòa giữa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để
bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi
trường là một đòi hỏi, thách thức lớn không chỉ đối với riêng cơ quan quản lý nhà

nước và các ngành nghề liên quan mà còn đối với tất cả mọi người chúng ta.
Tuy nhiên, những năm gần đây việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong
sản xuất nông nghiệp có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn chủng loại. Một
thực tế hiện nay là nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo đúng
nguyên tắc đã và đang gây nên những hậu quả đáng lo ngại chẳng hạn như: việc
tăng nồng độ, liều lượng, tăng số lần phun thuốc, dùng thuốc bảo vệ thực vật
không rõ nguồn gốc, thuốc hết hạn sử dụng, thuốc giả, thuốc cấm và việc lạm
dụng thuốc bảo vệ thục vật đã dẫn đến hậu quả gây ra hiện tượng kháng thuốc
1


đối với một số loại sâu bệnh hại, làm mất hiệu lực của thuốc, để lại tồn dư thuốc
quá mức cho phép trong nông sản, thực phẩm đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến
sức khỏe con người và môi trường sinh thái.
Trong những năm qua, công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực bảo vệ thực
vật tại huyện BQ đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn HG quan
tâm, công tác tập huấn, cấp chứng chỉ hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
đã được thực hiện, các hộ có nhu cầu đăng ký kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
đều được tập huấn trước khi kinh doanh. Đặc biệt công tác thanh kiểm tra
chuyên ngành được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn HG chỉ đạo sát sao
đảm bảo đúng quy định. Số lượng và chất lượng kiểm tra, thanh tra ngày càng
được chú trọng. Tuy nhiên, công tác quản lý thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn
huyện BQ vẫn còn nhiều hạn chế. Còn tồn tại một số hộ kinh doanh, buôn bán
thuốc BVTV ngoài danh mục cho phép.
Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi lựa chọn đề tài: “Xử lý cửa hàng AB
tại xã XY huyện BQ bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục cho phép” để
làm tiểu luận cuối khóa lớp quản lý nhà nước chương trình chuyên viên năm
2019.

2


Phần II: NỘI DUNG
1. Mô tả tình huống
Thực hiện Quyết định số 50/QĐ-TTBVTV ngày 05 tháng 7 năm 20xx của
Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG về việc Thành lập Đoàn thanh tra
về việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ
thực vật, phân bón, giống cây trồng (04) cơ sở tại địa bàn huyện BQ tỉnh HG.
Đoàn thanh tra chúng tôi gồm có 05 thành viên đã có mặt tại xã XY huyện BQ
vào hồi 08h ngày 15 tháng 7 năm 20xx để kiểm tra 01 cửa hàng kinh doanh tại
đây. Sở dĩ đoàn thanh tra lựa chọn xã XY để thanh tra là do ở địa phương này có
diện tích trồng cam sành và các loại cây ăn trái, rau màu lớn nhất huyện. Khi
đoàn thanh tra cùng chính quyền xã đến cửa hàng của chị MPT thì chị T đi vắng,
Anh C (chồng chị T) đang bán thuốc bảo vệ thực vật và phân bón cho khách
hàng. Tại thời điểm kiểm tra là 9 giờ 20 phút. Trưởng đoàn thanh tra công bố và
đưa Quyết định số 50/QĐ-TTBVTV ngày 05 tháng 7 năm 20xx của Chi cục
Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG cho anh C và có đề nghị anh C hợp tác để
đoàn thanh tra hoàn thành nhiệm vụ. Anh C đã đồng ý, sau đó Trưởng đoàn
thanh tra có yêu cầu anh C xuất trình những giấy tờ liên quan như: Chứng chỉ
hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, giấy đăng ký kinh doanh, giấy chứng
nhận bảo vệ môi trường, giấy chứng nhận đăng ký chuyên môn về văn bản pháp
luật mới được tổ chức định kỳ hàng năm trong thời gian 3 ngày và yêu cầu anh
C cho các thành viên trong đoàn vào thanh tra các chủng loại thuốc bảo vệ thực
vật tại cửa hàng và được sự nhất trí của anh C. Sau khi thanh tra đoàn thanh tra
phát hiện 04 xô nhựa đựng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục thuốc bảo vệ
thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam gồm 2 loại thuốc có nhãn chữ nước
ngoài. Đoàn thanh tra tiến hành thống kê số lượng, chủng loại của các loại thuốc
vi phạm nêu trên và ghi vào biên bản.
Khi đoàn kiểm tra đang lập biên bản thì bố đẻ của anh C là ông N đã chạy
từ trong nhà ra và thu lại toàn bộ số thuốc trên. Ông N nói rằng: “Đây là thuốc
của tôi, tôi mua về để phun cho cam không liên quan gì đến con dâu tôi cả. Các
3


anh muốn bắt thì bắt tôi”. Sau đó anh C cũng một mực chối số thuốc đó không
phải là của cửa hàng nhà anh C bán và yêu cầu đoàn thanh tra ra khỏi nhà. Đúng
lúc đó thì chị T về. Đoàn thanh tra đã trực tiếp trao đổi với chị T (chủ cửa hàng
buôn bán thuốc bảo vệ thực vật) cùng gia đình chị T, chính quyền xã và một số
người dân trong xã về sự việc vừa diễn ra. Chị T đã mời đoàn thanh tra và chính
quyền xã vào cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật để làm việc. Tại đây, đại
diện đoàn thanh tra đã lập biên bản thanh tra về việc chấp hành pháp luật trong
hoạt động kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống cây
trồng và ghi rõ lại toàn bộ diễn biến của sự việc, số lượng, chủng loại kèm theo
mô tả rõ về đặc điểm của toàn bộ số thuốc vi phạm trên và tiến hành niêm
phong, thu giữ toàn bộ số thuốc vi phạm trên. Việc niêm phong số thuốc ngoài
danh mục trên dưới sự chứng kiến của chị T chủ cửa hàng, chính quyền xã và
một số người dân. Sau khi đã hoàn tất thủ tục thanh tra và hoàn thiện biên bản,
đại diện đoàn thanh tra tiến hành thông qua biên bản, gửi lại 1 bản cho chị T và
hẹn chị T có mặt tại Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện BQ vào 8h sáng
ngày 20 tháng 7 năm 20xx để làm việc.
Vào hồi 9h ngày 20 tháng 7 năm 20xx, chị T cùng anh C đã có mặt tại
Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện BQ để giải quyết vụ việc vi phạm
ngày 15 tháng 7 năm 20xx. Tại đây, dưới sự có mặt của đoàn thanh tra, đại diện
cán bộ xã XY, lãnh đạo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG, chị T chủ
cửa hàng và anh C chồng chị T, Ông M (đại diện đoàn thanh tra) đã thông qua
lại biên bản thanh tra được lập ngày 15 tháng 7 năm 20xx. Sau đó ông M đã lập
biên bản làm việc ghi lại toàn bộ nội dung làm việc ngày 20 tháng 7 năm 20xx
và biên bản xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ
và kiểm dịch thực vật đối với chị T.
Tại buổi làm việc chị T đã xuất trình đầy đủ giấy tờ liên quan đến hoạt
động kinh doanh của cửa hàng như:

4


- Chứng chỉ hành nghề buôn bán thuốc bảo vệ thực vật số xxx do Chi cục
trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG cấp ngày 23 tháng 6 năm
2015;
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do phòng Tài Chính - Kế hoạch
UBND huyện BQ cấp;
- Giấy chứng nhận huấn luyện chuyên môn văn bản pháp luật mới về thuốc
Bảo vệ thực vật do Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG cấp năm 2017
và năm 2018;
- Giấy chứng nhận huấn luyện chuyên môn lớp 3 tháng do Chi cục Chi cục
Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG cấp;
- Giấy chứng nhận bảo vệ môi trường do UBND huyện BQ cấp.
Về giấy tờ liên quan chị T có đầy đủ điều kiện kinh doanh thuốc Bảo vệ
thực vật. Cũng tại buổi làm việc chị T đã thừa nhận toàn bộ hành vi của cửa
hàng là buôn bán thuốc bảo vệ thực ngoài danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
phép sử dụng tại Việt Nam, đồng thời chị T cũng đã cung cấp thông tin và địa
chỉ mà chị T lấy số thuốc ngoài danh mục được phép trên. Lý giải cho hành vi vi
phạm của mình, là do chị ham lợi nhuận cao, loại thuốc chị bán trên là thuốc
dùng phun cho cam nhằm bảo quản quả cam ngay trên cây để quả cam được
tươi lâu, không bị rụng khi đã quá vụ và hầu hết các hộ trồng cam tại xã đều
mua loại thuốc này để bảo quản cam ngay tại vườn.
Theo chứng cứ thu được và đối chiếu với những quy định của pháp luật
hiện hành về bảo vệ và kiểm dịch thực vật thì cửa hàng kinh doanh của chị T chi
đã vi phạm buôn bán thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam với
khối lượng gồm 20 lít thuốc loại 500ml/chai, 20 kg thuốc loại 500g/gói. Số
lượng, chủng loại đã được mô tả đặc điểm cụ thể tại biên thanh tra tra được lập
vào ngày 15 tháng 7 năm 20xx. Hành vi vi phạm của chị T được quy định tại:
+ Khoản 6, Điều 13 của Luật số 41/2013/QH13 ngày 25/11/2013 của Quốc
hội về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, cụ thể như sau: “Sản xuất, nhập khẩu, kinh
5


doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật
cấm sử dụng tại Việt Nam; thuốc bảo vệ thực vật giả, không rõ nguồn gốc, hết
hạn sử dụng; thuốc bảo vệ thực vật không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực
vật được phép sử dụng tại Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
67 của Luật này.”
+ Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Bộ
Nông ghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ
thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam;
Trong quá trình thanh tra, phía đoàn thanh tra đã thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật. Cụ thể,
đã thanh tra về việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh, buôn bán
thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, giống cây trồng (04) cơ sở tại địa bàn huyện
BQ tỉnh HG theo đúng Quyết định số 50/QĐ-TTBVTV ngày 05 tháng 7 năm
20xx của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh HG. Khi phát hiện thấy vi
phạm thì kịp thời xử lý theo đúng quy định. Trong khi đó anh C (người bán
hàng) là chồng của chị T (chủ cửa hàng kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật) và
ông N (bố chồng của chị T) sau khi bị đoàn thanh tra phát hiện ra vi phạm đã
không chịu thừa nhận. Đồng thời không hợp tác và đã đuổi đoàn thanh tra ra
khỏi cửa hàng. Như vậy, anh C và ông N đã có hành vi chống đối người thi hành
công vụ. Còn chị T sau khi trở về nhà nắm được toàn bộ diễn biến của quá trình
thanh tra của đoàn thanh tra đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình là buôn bán
thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng
tại Việt Nam đã hợp tác để đoàn kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ được giao, đã
nhận ra những hành vi sai phạm của mình đồng thời đã cung cấp thêm nhiều
thông tin hữu ích cho đoàn thanh tra và hứa sẽ không tái phạm nữa.
Kết luận: Việc làm của chị T là vi phạm các quy định về buôn bán thuốc
bảo vệ thực vật, chỉ vì ham lợi nhuận cao mà chị T đã bán các loại thuốc bảo vệ
thực vật ngoài danh mục cho phép, dẫn đến nhiều hậu quả như: ảnh hưởng đến
sức khỏe của người dân, ảnh hưởng đến môi trường, khí hậu… mặc dù anh C và
6


ông N có hành vi chống đối người thi hành công vụ nhưng chị T đã chủ động
phối hợp, thừa nhận hành vi của mình và cũng đã xuất trình đầy đủ giấy tờ
chứng minh đủ điều kiện kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật đồng thời
chị T đã cung cấp thêm nhiều thông tin hữu ích cho đoàn thanh tra. Việc giải
quyết tình huống chị MPT đã vi phạm buôn bán thuốc ngoài danh mục được
phép sử dụng tại Việt Nam như thế nào cho đúng quy định của pháp luật và có
tính răn đe cao đồng thời phải tạo điều kiện cho chị T có điều kiện sửa chữa,
khắc phục và vẫn tiếp tục kinh doanh thuốc theo đúng quy định để giúp bà con
nông dân có mùa vụ bội thu.
2. Phân tích nguyên nhân và hậu quả
2.1. Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
+ Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho phép đối tượng đăng ký thuốc
bảo vệ thực vật vẫn trong phạm vi quá rộng. Một số quy định về quản lý, kinh
doanh và sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đã bắt đầu lỗi thời, chưa phù hợp yêu
cầu thực tiễn. Việc kiểm soát, kiểm tra tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong nông
sản chưa được thực hiện thường xuyên;
+ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật hiện nay cũng mất cân đối, chủ yếu là
thuốc bảo vệ thực vật gắn với cây lương thực, trong đó cây lúa là chủ yếu còn
các cây khác chưa được chú ý;
+ Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng và danh mục phân
bón được công nhận lưu hành tại Việt Nam hiện nay có số lượng quá lớn;
+ Thuốc bảo vệ thực vật nhái và giả thường được sản xuất ở trình độ cao,
tinh vi, rất giống hàng thật nên rất khó phân biệt, cách phân phối của các nơi làm
giả rất linh hoạt;
+ Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
hiện nay còn "lỏng lẻo" và bất cập, công tác thanh, kiểm tra chưa được thực hiện
thường xuyên.
7


- Nguyên nhân chủ quan
+ Người bán thuốc bảo vệ thực vật thiếu chuyên nghiệp, trình độ chuyên
môn của các đại lý thuốc bảo vệ thực vật còn yếu kém, thường chạy theo lợi
nhuận, bất chấp hiệu quả xấu có thể gây ra. Cụ thể vì ham lợi nhuận cao và nhu
cầu rất lớn của bà con nông dân mua thuốc về phun cho cam nên chị T đã nhập
thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam về để bán lại cho các hộ
gia đình trồng cam ;
+ Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật của bà con nông dân còn tùy tiện,
kém hiểu biết và phụ thuộc hoàn toàn vào hướng dẫn của đại lý bán hàng. Bên
cạnh đó nhận thức của nông dân còn yếu kém dẫn đến việc tiếp tay cho các đại
lý, cửa hàng buôn bán buôn bán thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng tại
Việt Nam. Các hộ trồng cam muốn bảo quản quả cam ngay tại trên cây để quả
cam được tươi lâu, không bị rụng khi đã quá vụ để chờ giá cao mới bán nên đã
sử dụng các loại thuốc do cửa hàng chị T bán để bảo quản cam.
+ Nguồn lực về con người, nhất là lực lượng thanh tra chuyên ngành thiếu
về số lượng, hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn, trong khi đó, một số nơi
các cấp chính quyền còn phó mặc cho phía ngành bảo vệ thực vật. Điều này gây
ảnh hưởng lớn đến công tác thanh, kiểm tra, nắm bắt tình hình ở các địa bàn, đặc
biệt là ở các địa bàn rộng và có nền sản xuất nông nghiệp phát triển, ví dụ như:
Huyện BQ có nền sản xuất nông nghiệp phát triển, là vùng trọng điểm cam và
chè của tỉnh do đó nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật rất lớn trong khi lực
lượng thanh tra, cán bộ làm công tác bảo vệ thực vật còn mỏng nên công tác
thanh, kiểm tra mới chỉ tập trung chủ yếu vào các cửa hàng kinh doanh thuốc
bảo vệ thực vật lớn, có quy mô mà chưa tập trung vào người sử dụng và một số
hộ buôn bán nhỏ lẻ, thời vụ nên vẫn còn xuất hiện tình trạng buôn bán, sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật không nằm trong danh mục cho phép;
2.2. Hậu quả
Việc chị T bán các loại thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử
dụng tại Việt Nam cho các hộ gia đình trồng cam nhằm bảo quản quả cam ngay
8


tại trên cây để quả cam được tươi lâu, không bị rụng khi đã quá vụ gây ra hậu
quả và hệ lụy nghiêm trọng:
- Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân ăn phải trái cam bị phun
thuốc bảo quản, ảnh hưởng đến sức khỏe của chính người phun các loại thuốc do
chị T bán ra;
- Ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của cam sành huyện BQ nói riêng và
của tỉnh HG nói chung;
- Ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, khí hậu;
- Làm thay đổi chu kỳ sinh học của cây cam nói riêng và các loại cây trồng
khác nói chung, điều này sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường.
3. Xác định mục tiêu xử lý
Trước thực trạng có nhiều cửa hàng kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ
thực vật, phân bón, giống cây tại địa bàn huyện BQ tỉnh HG bán thuốc bảo vệ
thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam để bảo quản quả cam
ngay trên cây để quả cam được tươi lâu, không bị rụng khi đã quá vụ … đã gây
xôn xao dư luận trong thời gian vừa qua và đã gây ra những hậu quả nghiêm
trọng đối vời nền sản xuất nông nghiệp BQ nói riêng và thương hiệu cam sành
Hà Giang nói chung. Vì vậy, khi phát hiện ra lỗi vi phạm trong việc kinh doanh,
buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt
Nam cần:
- Thứ nhất, Xử lý nghiêm minh, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
để ngăn ngừa các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm
dịch thực vật, giảm thiểu nguy cơ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh
mục, thuốc bảo vệ thực vật giả, thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc
ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam … góp phần vào công tác đảm
bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đang báo động hiện nay. Đồng thời là
hồi chuông cảnh báo cho những hộ kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật khác trên
địa bàn huyện BQ nói riêng và cả tỉnh HG nói chung;
9


- Thứ hai, Qua việc xử lý tình huống, Đoàn Thanh tra chỉ ra cho chị MPT
thấy được những hạn chế, hậu quả của bản thân khi kinh doanh, buôn bán thuốc
bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam, đặc biệt là
những loại thuốc tác động tiêu cực đến sức khỏe của con người;
- Thứ ba, Có ý thức răn đe, cảnh tỉnh các hộ gia đình kinh doanh thuốc bảo
vệ thực vật cũng như các hộ trồng cam đã sử dụng thuốc bảo quản cam giống
như thuốc có bán tại cửa hàng của chị T;
- Thứ tư, Xử lý đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn bảo đảm cho chị T
tiếp tục có cơ hội kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật phục vụ nhu cầu chính đáng
của bà con nông dân nói chung và các hộ trồng cam nói riêng, không gây phản
ứng, tâm lý bức xúc của chị T và một số hộ trồng cam trên địa bàn huyện BQ,
bởi chị T đã chủ động hợp tác và đưa thêm thông tin hữu ích cho đoàn thanh tra.
4. Xây dựng, phân tích các phương án xử lý tình huống và lựa chọn
phương án tối ưu để giải quyết tình huống
4.1. Xây dựng, phân tích các phương án xử lý tình huống
* Cơ sở pháp lý xây dựng phương án giải quyết tình huống
- Luật số 41/2013/QH13 ngày 25/11/2013 của Quốc hội về Bảo vệ và kiểm
dịch thực vật;
- Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Bộ
Nông ghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ
thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam;
- Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 05 năm 2016 của Chính phủ,
Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng,
bảo vệ và kiểm dịch thực vật.
Cửa hàng kinh doanh của chị T vi phạm buôn bán thuốc ngoài danh mục
được phép sử dụng tại Việt Nam với khối lượng gồm 20 lít thuốc loại
500ml/chai, 20 kg thuốc loại 500g/gói được quy định tại Khoản 6, Điều 13 của
Luật số 41/2013/QH13 ngày 25/11/2013 của Quốc hội về Bảo vệ và kiểm dịch
10


thực vật, cụ thể như sau: “Sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo
vệ thực vật trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam;
thuốc bảo vệ thực vật giả, không rõ nguồn gốc, hết hạn sử dụng; thuốc bảo vệ
thực vật không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại
Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật này.” Và
Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực
vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam. Tương ứng với mức xử phạt
được quy định tại Mục a, Khoản 3, Điều 25 của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP
ngày 06 tháng 05 năm 2016 của Chính phủ, Nghị định Quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật,
cụ thể như sau:
* Xây dựng, phân tích các phương án xử lý tình huốn
Các phương án được xây dựng và lựa chọn để giải quyết tình huống cần
phải được căn cứ mục tiêu đã xác định và cơ sở pháp lý. Do đó, tác giả đề xuất
các phương án giải quyết như sau:
- Phương án 1: Tịch thu toàn bộ số lượng thuốc bảo vệ thực vật không có
trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam đã thu
giữ tại cửa hàng chị MPT vào ngày 15 tháng 7 năm 20xx, đồng thời nhắc nhở,
kiểm điểm chị T lần sau không được tái phạm.
+ Ưu điểm:
Bảo đảm cho chị T tiếp tục có cơ hội kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
phục vụ nhu cầu chính đáng của bà con nông dân nói chung và các hộ trồng cam
nói riêng, không gây phản ứng, tâm lý bức xúc của chị T và một số hộ trồng cam
trên địa bàn huyện BQ, bởi chị T đã chủ động hợp tác và đưa thêm thông tin hữu
ích cho đoàn thanh tra.
+ Nhược điểm:

11


Xử lý chưa nghiêm minh, chưa đúng quy định của pháp luật và không có
tính răn đe, cảnh tỉnh các hộ gia đình trồng cam đã sử dụng thuốc bảo quản cam
giống như thuốc có bán tại cửa hàng của chị T, người vi phạm sẽ rất dễ tái phạm
sau khi bị xử phạt.
- Phương án 2: Xử phạt chị MPT theo hình thức là phạt tiền 5.000.000đ và
tịch thu toàn bộ số lượng thuốc bảo vệ thực vật không có trong Danh mục thuốc
bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam đã thu giữ tại cửa hàng chị
MPT vào ngày 15 tháng 7 năm 20xx cùng với đó là kiểm điểm nhắc nhở chị T
không được tái phạm. Đồng thời thông báo đến chính quyền địa phương có biện
pháp tuyên truyền đến các hộ dân không được sử dụng thuốc thuốc bảo vệ thực
vật không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt
Nam, đặc biệt là các loại thuốc bảo quản cam như cửa hàng của chị T đã bán
trước khi thanh tra.
+ Ưu điểm:
Xử lý nghiêm minh, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật để ngăn
ngừa các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực
vật, giảm thiểu nguy cơ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục, thuốc
bảo vệ thực vật giả, thuốc bảo vệ thực vật hết hạn sử dụng, thuốc ngoài danh
mục được phép sử dụng tại Việt Nam;
Chỉ ra cho chị MPT thấy được những hạn chế, hậu quả của bản thân khi
kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng
tại Việt Nam, đặc biệt là những loại thuốc tác động tiêu cực đến sức khỏe của
con người;
Có ý thức răn đe, cảnh tỉnh các hộ gia đình kinh doanh thuốc bảo vệ thực
vật cũng như các hộ trồng cam đã sử dụng thuốc bảo quản cam giống như thuốc
có bán tại cửa hàng của chị T;
Xử lý đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn bảo đảm cho chị T tiếp tục
có cơ hội kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật phục vụ nhu cầu chính đáng của bà
12


con nông dân nói chung và các hộ trồng cam nói riêng, không gây phản ứng,
tâm lý bức xúc của chị T và một số hộ trồng cam trên địa bàn huyện BQ, bởi chị
T đã chủ động hợp tác và đưa thêm thông tin hữu ích cho đoàn thanh tra.
+ Nhược điểm:
Mức phạt tiền còn thấp hơn so với quy định, chưa có tính răn đe cao.
- Phương án 3: Xử phạt chị MPT theo hình thức là phạt tiền 8.000.000đ
và tịch thu toàn bộ số lượng thuốc bảo vệ thực vật không có trong Danh mục
thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam đã thu giữ tại cửa hàng
chị MPT vào ngày 15 tháng 7 năm 20xx. Đồng thời Tước quyền sử dụng Giấy
chứng nhận đủ Điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật từ 01 tháng.
+ Ưu điểm:
Mức phạt cao đủ sức răn đe, cảnh tỉnh các hộ gia đình kinh doanh thuốc
bảo vệ thực vật cũng như các hộ trồng cam đã sử dụng thuốc bảo quản cam
giống như thuốc có bán tại cửa hàng của chị T.
+ Nhược điểm:
Xử lý theo phương án này thiếu khách quan, chưa phù hợp với mức độ vi
phạm, mức tiền phạt là mức cao nhất của khung hình phạt khiến người chịu phạt
không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngay, không thỏa đáng
dễ dẫn đến khiếu nại. Chưa có tác dụng tuyên truyền tới những hộ kinh doanh
thuốc bảo vệ thực vật khác trong địa phương cũng như người nông dân sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật.
4.2. Lựa chọn phương án tối ưu để giải quyết tình huống
Sau khi phân tích ưu điểm và nhược điểm của mỗi phướng án, căn cứ vào
các văn bản liên quan như: Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật; Thông tư số
03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Bộ Nông ghiệp và Phát
triển nông thôn; đặc biệt là Mục a, Khoản 3, Điều 25 của Nghị định số
31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 05 năm 2016 của Chính phủ, Nghị định Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm
13


dịch thực vật và đối chiếu với các mục tiêu cần đạt được khi giải quyết tình
huống thì lựa chọn phương án 2: “Xử phạt chị MPT theo hình thức là phạt tiền
5.000.000đ và tịch thu toàn bộ số lượng thuốc bảo vệ thực vật không có trong
Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam đã thu giữ tại
cửa hàng chị MPT vào ngày 15 tháng 7 năm 20xx cùng với đó là kiểm điểm
nhắc nhở chị T không được tái phạm. Đồng thời thông báo đến chính quyền địa
phương có biện pháp tuyên truyền đến các hộ dân không được sử dụng thuốc
thuốc bảo vệ thực vật không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
phép sử dụng tại Việt Nam, đặc biệt là các loại thuốc bảo quản cam như cửa
hàng của chị T đã bán trước khi thanh tra.” là phương án tối ưu nhất để xử lý
tình huống cửa hàng của bà MPT đã vi phạm bán thuốc bảo vệ thực vật không
có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, vì
phương án này đáp ứng được nhiều nhất các mục tiêu đề ra, nhược điểm của
phương án là nhỏ nhất và có thể chấp nhận được, đồng thời có tính khả thi cao.
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã được lựa chọn
Căn cứ buổi làm việc của đoàn thanh tra với chị MPT vào hồi 9h ngày 20
tháng 7 năm 20xx và từ những nhận xét, đề xuất biện pháp xứ lý tình huống nêu
trên, cần triển khai thực hiện như sau:
1. Yêu cầu cửa hàng của chị MPT chấm dứt ngay việc buôn bán, kinh
doanh thuốc bảo vệ thực vật không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật
được phép sử dụng tại Việt Nam.
2. Đoàn thanh tra sẽ có báo cáo Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh
HG để có văn bản kiến nghị UBND huyện BQ chỉ đạo một số vụ việc như sau:
- Yêu cầu UBND xã XY cũng như các xã khác cần thường xuyên theo dõi,
giám sát hoạt động kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật tại địa phương;
- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền đến các hộ sản xuất nông nghiệp
không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, thuốc bảo vệ thực vật không có
trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam để nâng
cao nhận thức cho các hộ nông dân.
14


- Kiểm điểm, rút kinh nghiệm các tập thể, cá nhân có liên quan đến việc vi
phạm của chị MPT;
- Có các biện pháp, chính sách các hộ nông dân trồng cam quảng bá
thương hiệu cam sành để các hộ trồng cam thu hoạch và bán cam đúng mùa vụ,
không sử dụng thuốc bảo quản để tránh làm ảnh hưởng đến thương hiệu cam
sành BQ nói riêng và của tỉnh HG nói chung.
3. Đối với Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện BQ
- Kiểm điểm, rút kinh nghiệm các cá nhân có lieen quan đến việc vi phạm
của chị MPT;
- Thống kê rà soát toàn bộ các hộ kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực
vật trên địa bàn huyện BQ để có hình thức kiểm tra, thanh tra, giám sát kịp thời;
- Thường xuyên kiểm tra và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm Luật
Bảo vệ và kiểm dịch thực vật và báo cáo về Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực
vật tỉnh HG.;
- Có đề xuất, kiến nghị đối với các cơ quan chức năng và đề nghị các cấp
các ngành phối hợp trong công tác quản lý việc kinh doanh thuốc bảo vệ thực
vật trên địa bàn.

15


Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Tình huống cửa hàng kinh doanh của chị MPT có kinh doanh và buôn bán
thuốc bảo vệ thực vật ngoài danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam với khối
lượng gồm 20 lít thuốc loại 500ml/chai, 20 kg thuốc loại 500g/gói được quy
định tại Khoản 6, Điều 13 của Luật số 41/2013/QH13 ngày 25/11/2013 của
Quốc hội về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật và Thông tư số 03/2018/TTBNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Bộ Nông ghiệp và Phát triển nông
thôn, Thông tư Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng,
cấm sử dụng tại Việt Nam. Tương ứng với mức xử phạt được quy định tại Mục
a, Khoản 3, Điều 25 của Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 05 năm
2016 của Chính phủ, Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật là tình huống giả định có thể
xảy ra trong tương lai. Trên cơ sở học tập và nghiên cứu những kiến thức mà tôi
được học tập thông qua lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên do Chính trị giảng dạy
và căn cứ nguyên nhân, diễn biến tình huống, tôi mạnh dạn lựa chọn phương án
2: “Xử phạt chị MPT theo hình thức là phạt tiền 5.000.000đ và tịch thu toàn bộ
số lượng thuốc bảo vệ thực vật không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật
được phép sử dụng tại Việt Nam đã thu giữ tại cửa hàng chị MPT vào ngày 15
tháng 7 năm 20xx cùng với đó là kiểm điểm nhắc nhở chị T không được tái
phạm. Đồng thời thông báo đến chính quyền địa phương có biện pháp tuyên
truyền đến các hộ dân không được sử dụng thuốc thuốc bảo vệ thực vật không
có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, đặc
biệt là các loại thuốc bảo quản cam như cửa hàng của chị T đã bán trước khi
thanh tra.”. Theo cá nhân tôi là phương án tối ưu để giải quyết tình huống này.
2. Kiến nghị
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, Ban Tổ chức – Nội vụ tỉnh Hà Giang
xem xét, tiếp tục mở thêm các lớp bồi dưỡng cho cán bộ, công chức và viên
chức trên địa bàn tỉnh. Đồng thời có chế độ khuyến khích, động viên cán bộ,
16


công chức, viên chức đi học. Bên cạnh đó cần có cơ chế quản lý nghiêm chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng...
- Đối với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Giang thường
xuyên tổ chức các lớp tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức cho
cán bộ làm công tác bảo vệ thực vật;
- Thường xuyên thành lập các đoàn kiểm tra, thanh tra để kiểm tra xử lý
kịp thời các hộ kinh doanh, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng,
phân bón trên địa bàn tỉnh Hà Giang.

17


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật số 41/2013/QH13 ngày 25/11/2013 của Quốc hội về Bảo vệ và
kiểm dịch thực vật;
2. Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09 tháng 02 năm 2018 của Bộ
Nông ghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tư Ban hành Danh mục thuốc bảo vệ
thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam;
3. Nghị định số 31/2016/NĐ-CP ngày 06 tháng 05 năm 2016 của Chính
phủ, Nghị định Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây
trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật;
4. Tài liệu Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên.

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×