Tải bản đầy đủ

MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong những năm gần
đây, tốc độ tăng trưởng luôn đạt ở mức cao và có sự mở rộng của nhiều thành
phần kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt rất phát triển,đã và đang tạo ra được những thị
trường sôi nổi trong hầu hết các ngành nghề kinh doanh.
Khi nền kinh tế thị trường càng phát triển, tạo ra sự khác biệt giữa quyền
sở hữu và quyền quản lý tài sản. Sự cách biệt đó tạo nên một mối quan hệ ràng
buộc lẫn nhau, phát sinh những mối quan tâm bên ngoài cũng như trong đơn vị
về công việc kinh doanh của đơn vị. Từ đó, yêu cầu đặt ra đối với sự minh bạch
của các thông tin tài chính đối với toàn bộ nền kinh tế cũng như đối với các
doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
Ngành kiểm toán là một ngành mới ra đời ở Việt Nam, tuy nhiên nó lại có
tác dụng to lớn trong thực tiễn. Kiểm toán đã khẳng định được vai trò to lớn của
mình trong nền kinh tế các nước. Kiểm toán đảm bảo các nguyên tắc và chuẩn
mực kế toán được chấp hành nghiêm chỉnh, thông tin tài chính được trình bày
một cách trung thực và hợp lý…Từ đó giúp các nhà quản lý hiểu rõ công ty mình
hơn rồi đi đến các quyết định chiến lược kinh doanh hợp lý hay nó giúp nhà đầu
tư có cái nhìn khách quan, đúng đắn về công ty mình định đầu tư...
Yếu tố làm nên sự thành công của một cuộc kiểm toán là nhận định chính

xác rủi ro kiểm toán và thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán cả về mặt chất
lượng và số lượng làm cơ sở cho kiểm toán viên đưa ra ý kiến đúng đắn. Trên
thực tế, rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán có mối quan hệ mật thiết với
nhau, rủi ro kiểm toán quyết định bằng chứng kiểm toán. Nhận thức được tầm
quan trọng của vấn đề đó, em chọn đề tài “Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán
và bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty
kiểm toán độc lập tại Việt Nam” với hy vọng tìm hiểu chi tiết hơn về rủi ro và
bằng chứng kiểm toán cũng như mối quan hệ giữa rủi ro và bằng chứng kiểm
toán.

Vũ Hữu Tú

1

Lớp Kiểm Toán 51A


Tuy đây là một đề tài tương đối rộng nhưng dưới sự hướng dẫn của cô Tạ
Thu Trang cộng với sự hiểu biết, tìm tòi cá nhân em đã hoàn thành sơ lược về đề
án này.
Đề án của em gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm
toán
Chương 2: Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán
Chương 3: Nhận xét và giải pháp

Vũ Hữu Tú

2

Lớp Kiểm Toán 51A


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO KIỂM TOÁN
VÀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
1.1 Lý luận chung về rủi ro kiểm toán và các yếu tố ảnh hưởng trong kiểm
toán báo cáo tài chính
1.1.1 Khái niệm rủi ro kiểm toán
Rủi ro luôn tồn tại trong kinh doanh. Không nằm ngoài quy luật đó, kiểm
toán cũng là một nghề mà trong đó chứa đựng những loại rủi ro khác nhau. Cụ
thể trong kiểm toán tài chính, do những hạn chế về mặt pháp lý đối với kiểm toán
viên hoặc hạn chế của hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc do
những hành vi thông đồng của nhà quản lý và nhân viên …mà gian lận và sai sót
luôn tồn tại ở các mức độ khác nhau. Chính điều này là nguyên nhân tạo ra các
loại rủi ro khác nhau trong kiểm toán nói chung cũng như trong kiểm toán báo
cáo tài chính nói riêng.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400), rủi ro kiểm toán
là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không
thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng
yếu.
Rủi ro kiểm toán, theo cách tiếp cận của Alvin. Arens (Auditing – An
integrated approach), là rủi ro mà kiểm toán viên kết luận báo cáo tài chính được
trình bày trung thực và hợp lý và do đó một ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa
ra trong khi thực tế báo cáo tài chính vẫn còn có những sai phạm trọng yếu.
Cả hai khái niệm về kiểm toán đều cho thấy rủi ro kiểm toán là yếu tố rất
quan trọng mà kiểm toán viên phải xem xét trước mỗi cuộc kiểm toán. Rủi ro
kiểm toán luôn luôn tồn tại, ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu
đáo và được thực hiện một cách thận trọng bởi đội ngũ kiểm toán viên lành nghề.
Trên thế giới đã có không ít những trường hợp các công ty kiểm toán lớn phải đối
mặt với nguy cơ phá sản do thất bại trong việc đưa ra ý kiến đúng đắn về sự
trung thực và hợp lý trong việc trình bày các báo cáo tài chính.

Vũ Hữu Tú

3

Lớp Kiểm Toán 51A


Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai
đoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác
định tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: Rủi ro tiềm tàng (IR), rủi ro
kiểm soát (CR), rủi ro phát hiện (DR).
1.1.2 Các thành phần của rủi ro kiểm toán
1.1.2.1 Rủi ro tiềm tàng
Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ,
từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính
riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ.
Rủi ro tiềm tàng trong mối quan hệ với các loại rủi ro khác của mô hình
rủi ro kiểm toán là một trong những khái niệm quan trọng nhất của kiểm toán.
Điều này thể hiện ở việc kiểm toán viên nên cố gắng dự đoán sai sót dường như
có nhiều khả năng xảy ra nhất hoặc hiếm khi xảy ra trong các phần hành khác
nhau của các báo cáo tài chính. Thông tin về rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đển số
lượng bằng chứng kiểm toán viên cần thu thập và cách thức cũng như nỗ lực của
kiểm toán viên trong việc thu thập đầy đủ các bằng chứng cần thiết với các phần
hành khác nhau.
Khi lập kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán chi tiết, kiểm toán
viên phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ báo cáo tài chính của đơn vị
được kiểm toán và từ đó xác định cụ thể mức độ rủi ro tiềm tàng cho các số dư
hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng cơ sở dẫn liệu. Mức độ đánh giá rủi ro
tiềm tàng là căn cứ quan trọng để dự kiến các công việc, thủ tục kiểm toán sẽ
được thực hiện cho các nghiệp vụ, các khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài
chính, hoặc các nghiệp vụ, các khoản mục mà kiểm toán viên cho là có rủi ro
tiềm tàng cao.
Trong thực tế, kiểm toán viên dựa vào các xét đoán chuyên môn của mình
khi đánh giá rủi ro tiềm tàng trên các phương diện báo cáo tài chính và số dư tài
khoản hay loại nghiệp vụ.

Vũ Hữu Tú

4

Lớp Kiểm Toán 51A


Trên phương diện báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải xem xét các yếu
tố sau khi đánh giá rủi ro tiềm tàng: Sự liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết cuả
Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán;
trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của Kế toán trưởng, của các nhân viên kế
toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ; những áp
lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với Kế toán trưởng, nhất là những
hoàn cảnh thúc đẩy Ban giám đốc, Kế toán trưởng phải trình báo cáo tài chính
không trung thực; đặc điểm hoạt động của đơn vị, như quy trình công nghệ, cơ
cấu vốn, các đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ; các nhân
tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị, như các biến động về kinh tế, về
cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và sự thay đổi về hệ
thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị.
Trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ, rủi ro tiềm tàng bị
ảnh hưởng đáng kể bởi các yếu tố như Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những
sai sót như: Báo cáo tài chính có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước,
báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có nhiều
thay đổi liên quan đến chính sách kế toán; việc xác định số dư và số phát sinh của
các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế như số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ
kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay
tính tăng nguyên giá TSCĐ…; mức độ dễ mất mát, biển thủ tài sản như phát sinh
nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh
toán dài…; mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi
phải có ý kiến của chuyên gia; việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức
tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ; các nghiệp vụ kinh tế tài chính bất
thường khác.
1.1.2.2 Rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ,
từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà nếu hệ

Vũ Hữu Tú

5

Lớp Kiểm Toán 51A


thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không
phát hiện và sửa chữa kịp thời.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) về đánh giá rủi ro và
kiểm soát nội bộ đã nêu rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa hệ thống kế toán và hệ
thống kiểm soát nội bộ với mức độ rủi ro kiểm soát. Dựa trên hiểu biết về hệ
thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên và công ty kiểm toán
phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư
tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu.
Trên thực tế, bất kỳ một hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
nào dù được thống kiểm soát nội bộ không được vượt quá những lợi ích mà hệ
thống đó mang lại; phần lớn các thủ tục kiểm soát nội bộ thường được thiết lập
cho các nghiệp vụ thường xuyên, lặp đi, lặp lại, hơn là các nghiệp vụ không
thường xuyên; khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện được sự
thông đồng của thành viên trong Ban quản lý hoặc nhân viên với những người
khác trong hay ngoài đơn vị hoặc khả năng người chịu trách nhiệm thực hiện thủ
tục kiểm soát nội bộ lạm dụng đặc quyền của mình…Chính vì lý do này mà rủi
ro kiểm soát luôn tồn tại dù ở mức độ cao hay không cao.
Rủi ro kiểm soát và rủi ro tiềm tàng có liên hệ chặt chẽ với nhau đồng thời
là hai bộ phận quan trọng cấu thành nên mô hình rủi ro kiểm toán và có tác động
trực tiếp đến các thủ tục kiểm toán cũng như bằng chứng kiểm toán cần thu thập
nên kiểm toán viên cần kết hợp cùng một lúc việc đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát.
Việc đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầu dựa trên kiến thức và hiểu biết mà
kiểm toán viên thu thập được về hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ
của đơn vị được kiểm toán. Rủi ro kiểm soát thường được đánh giá ở mức độ cao
đối với cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính trong trường hợp hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ không đầy đủ hoặc không hiệu quả hoặc kiểm toán
viên bị hạn chế trong việc thu thập thông tin cơ sở cho việc đánh giá sự đầy đủ và
hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Ngược lại, rủi ro kiểm
soát được đánh giá ở mức độ không cao đối với cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài

Vũ Hữu Tú

6

Lớp Kiểm Toán 51A


chính trong trường hợp kiểm toán viên có đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa
chữa các sai sót trọng yếu hoặc kiểm toán viên có kế hoạch thực hiện thủ tục
kiểm soát làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát. Đánh giá cuối
cùng về rủi ro kiểm soát dựa trên những thử nghiệm cơ bản và các bằng chứng
kiểm toán khác được thực hiện sau khi kiểm toán viên tiến hành các thử nghiệm
kiểm soát để thu thập đầy đủ bằng chứng về tính hiệu quả của hệ thống kế toán
và hệ thống kiểm soát nội bộ trên các phương diện thiết kế và thực hiện.
1.1.2.3 Rủi ro phát hiện
Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ,
từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà
trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát
hiện ra được.
Alvin A.Arens đưa ra khái niệm về rủi ro phát hiện (trong cuốn Auditing –
An integrated Approach) như sau: rủi ro phát hiện là rủi ro kiểm toán viên thất
bại trong việc phát hiện ra các sai phạm trọng yếu trên các báo cáo tài chính sau
khi áp dụng các thủ tục kiểm toán với giả định hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng cũng không có khả năng phát hiện và sửa chữa các sai phạm đó.
Mức độ rủi ro phát hiện có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát trong mô hình rủi ro kiểm toán. Việc đánh giá mức
độ rủi ro phát hiện dựa trên cơ sở các đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát. Tuy nhiên, ngược lại với hai loại rủi ro này, kiểm toán viên phải có trách
nhiệm thực hiện các thủ tục kiểm toán và thu thập các bằng chứng kiểm toán
nhằm mục đích quản lý và kiểm soát đối với rủi ro phát hiện.
Trong kiểm toán báo cáo tài chính, rủi ro phát hiện có ý nghĩa rất quan trọng,
có liên quan trực tiếp đến thử nghiệm cơ bản của kiểm toán viên và qua đó quyết
định đến bằng chứng mà kiểm toán viên lập kế hoạch thu thập trong suốt quá
trình thực hiện kiểm toán. Mức độ rủi ro phát hiện là khác nhau đối với các
khoản mục và nghiệp vụ khác nhau, nhưng khó có thể loại bỏ hoàn toàn loại rủi

Vũ Hữu Tú

7

Lớp Kiểm Toán 51A


ro này ngay cả khi kiểm toán viên kiểm tra chi tiết toàn bộ các nghiệp vụ và số
dư tài khoản.
1.1.3 Mô hình rủi ro kiểm toán
Quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và các thành phần của rủi ro kiểm toán có
thể được phản ánh qua mô hình rủi ro sau đây:
AR = IR x CR x DR
Trong đó:

AR là rủi ro kiểm toán
IR là rủi ro tiềm tàng
CR là rủi ro kiểm soát
DR là rủi ro phát hiện

Mô hình này cũng cho kiểm toán viên thấy được mối quan hệ giữa các loại
rủi ro kiểm toán khác nhau và mối quan hệ của chúng với bằng chứng kiểm toán
cần thu thập cả về chất lượng và số lượng.
Tuy nhiên mô hình trên ít được sử dụng do rủi ro kiểm toán thường được
kiểm toán viên xác định trước và khó thay đổi trong quá trình kiểm toán.Vì vậy,
kiểm toán viên mong muốn xác định rủi ro phát hiện (DR) để lập kế hoạch kiểm
toán hơn là điều chỉnh rủi ro phát hiện theo rủi ro kiểm toán (AR) đã định trước.
Mặt khác, rủi ro tiềm tàng (IR) và rủi ro kiểm soát (CR) có tính chất cố hữu,
kiểm toán viên chỉ có thể đánh giá chứ không thể tác động vào nó. Vì vậy, mô
hình rủi ro kiểm toán ở trên không thể hiện được tính chất “tác động được” của
kiểm toán viên vào rủi ro phát hiện. Do vậy, để phục vụ tốt hơn cho việc lập kế
hoạch kiểm toán và xét trong mối quan hệ với bằng chứng kiểm toán, mô hình rủi
ro kiểm toán thường được sử dụng ở dạng sau:
DR 

Vũ Hữu Tú

AR
IR CR

8

Lớp Kiểm Toán 51A


Với mô hình này, rủi ro phát hiện (DR) là đối tượng chính cần quan tâm của
kiểm toán viên. Mô hình này thể hiện rõ nhất mối quan hệ trực tiếp giữa rủi ro
phát hiện (DR) với rủi ro kiểm toán (AR) cũng như tính chất “tác động được” của
rủi ro phát hiện. Mặt khác, nó còn biểu hiện được mối quan hệ giữa rui ro phát
hiện (DR) với số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập trong quá trình kiểm
toán. Sau khi tính được ra rủi ro phát hiện (DR) kiểm toán viên sẽ xác định được
khối lượng công việc và số lượng bằng chứng cần thu thập để thỏa mãn rủi ro
phát hiện trên.
1.1.4 Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn
Trong mỗi cuộc kiểm toán, rủi ro kiểm toán thường được kiểm toán viên xác
định từ trước hay chính là rủi ro kiểm toán mong muốn. Nên mô hình kiểm toán
ở trên sẽ thành:
DR 

DAR
IR CR

Rủi ro kiểm toán được đánh giá phụ thuộc vào tính chủ quan của kiểm toán
viên. Vì vậy, năng lực, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của kiểm toán viên
là rất quan trọng. Trong một cuộc kiểm toán, rủi ro kiểm toán mong muốn là
bằng 0 nhưng đây chỉ là trường hợp lý tưởng-báo cáo tài chính của công ty
không có bất kỳ một sai phạm nào. Trên thực tế, rủi ro luôn luôn tồn tại trên các
lĩnh vực, vì vậy rủi ro kiểm toán luôn chạy từ 1%-100%. Rủi ro chỉ đạt 100% khi
kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính của khách hàng đã bị làm sai lệch hết
các khoản mục trọng yếu.
Trình độ của kiểm toán viên hay chi phí của cuộc kiểm toán là 2 yếu tố chính
ảnh hưởng tới việc đánh giá rủi ro kiểm toán mong muốn. Nhưng dù thế nào
kiểm toán viên cũng phải xác định mức rủi ro đủ thấp để khi báo cáo kiểm toán
phát hành, những người quan tâm có thể tin tưởng và sử dụng nó.

Vũ Hữu Tú

9

Lớp Kiểm Toán 51A


1.2. Lý luận chung về bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài
chính
1.2.1 Bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính
A, Khái niệm bằng chứng kiểm toán
Bằng chứng là một thuật ngữ xuất hiện trong rất nhiều lĩnh vực khác
nhau, đặc biệt là trong các hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về một vấn đề cụ
thể. Bằng chứng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức như văn bản, lời nói hoặc
hành động…
Trong Luật học, bằng chứng được xem là các loại chứng cớ khác nhau đưa ra
trước tòa nhằm mục đích hỗ trợ bên nguyên đơn hoặc người bào chữa trong một
vụ kiện, bằng chứng được đưa ra đòi hỏi phải có tính xác đáng, phù hợp và có giá
trị pháp lý (Evidence law in the trial process – Margaret T.Stopp).
Xét trên góc độ hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính, trước hết có thể thấy
thực chất của hoạt động này là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng về
các báo cáo tài chính của một tổ chức kinh tế cụ thể nhằm mục đích xác nhận và
báo cáo về mức độ phù hợp của các báo cáo này với các chuẩn mực đã được thiết
lập. Bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài liệu, thông tin mà kiểm toán viên thu
thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán
viên hình thành nên ý kiến của mình (chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500).
Bằng chứng kiểm toán có một vai trò quan trọng, là cơ sở hình thành nên
ý kiến kết luận kiểm toán. Đối với các tổ chức kiểm toán độc lập hoặc cơ quan
kiểm toán nhà nước, cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để
giám sát, đánh giá chất lượng hoạt động của kiểm toán viên trong quá trình thực
hiện kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán có tính đa dạng và có thể được thu thập từ
nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài
chính và các tài liệu, thông tin từ những nguồn khác.
B, Ý nghĩa và vai trò của bằng chứng kiểm toán
Bằng chứng kiểm toán có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đưa ra ý kiến,
quyết định của kiểm toán viên về hoạt động được kiểm toán. Bằng chứng kiểm

Vũ Hữu Tú

10

Lớp Kiểm Toán 51A


toán là một trong những yếu tố quyết định độ chính xác, rủi ro trong quyết định
của kiểm toán viên.
Bằng chứng kiểm toán là cơ sở giám sát và đánh giá chất lượng của cuộc kiểm
toán.Vì vậy, đòi hỏi kiểm toán viên phải thu thập thông tin đầy đủ và thích hợp
làm cơ sở để đưa ra các ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị được
kiểm toán. Sự thành công của toàn bộ cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào
việc thu thập và sau đó là đánh giá bằng chứng của kiểm toán viên. Một khi kiểm
toán viên không thu thập đầy đủ và đánh đúng các bằng chứng thích hợp thì kiểm
toán viên khó có thể đưa ra một nhận định xác đáng về đối tượng đựơc kiểm
toán. Kết luận của kiểm toán viên khó có thể đúng với thực trạng đối tượng được
kiểm toán nếu như bằng chứng thu được là quá Ýt hay bằng chứng không phù
hợp, có độ tin cậy không cao.
C, Phân loại bằng chứng kiểm toán
Do thực tế có rất nhiều loại bằng chứng, để giúp cho việc sử dụng và thu thập
được tiện lợi thì viêc phân loại bằng chứng là rất cần thiết. Có thể tiến hành phân
loại bằng chứng theo các cách sau:
Phân loại bằng chứng theo nguồn hình thành:
Phân loại bằng chứng theo nguồn hình thành là việc phân loại dùa nguồn gốc
của thông tin, tài liệu có liên đến báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thập được
trong quá trình kiểm toán. Trong cách phân loại này bằng chứng lại bao gồm:
Bằng chứng do đơn vị kiểm toán phát hành và luân chuyển nội bộ đó là bảng
chấm công, sổ thanh toán tiền lương, sổ tổng hợp, sổ số dư sổ chi tiết, phiếu kiểm
tra sản phẩm, vận đơn......Nguồn cung cấp này là bằng chứng phổ biến vì nó cung
câp bằng chứng với tốc độ nhanh và chi phí thấp. Do bằng chứng này có nguồn
gốc từ nội bộ của doanh nghiệp nên bằng chứng này chỉ thực sự đủ tin cậy, khi
kiểm soát nội bộ có hiệu lực thực sự, do vậy tính thuyết phục của chúng không
cao.
Bằng chứng do các dối tượnh khác phát hành, lưa trữ tại đơn vị như: hoá đơn
bán hàng, biên bản bàn giao tài sản, hoá đơn mua hàng...

Vũ Hữu Tú

11

Lớp Kiểm Toán 51A


Bằng chứng có tính thuyết cao bởi nó được tạo từ bên ngoài.Tuy nhiên, loại
bằng chứng này vẫn có khả năng bị tẩy xoá, thêm bớt ảnh hưỏng đến độ tin cậy
của đối với hoạt động kiểm soát trong nội bộ của doanh nghiệp.
Bằng chứng do đơn vị phát hành nhưng lại được lưu chuyển ở bên ngoài như:
các uỷ nhiệm chi, thu, hoá dơn bán hành. Bằng chứng này mang tính thuyết phục
cao.
Bằng chứng do dơn vị bên ngoài phát hành và lưa giữ. Bằng chứng này thu
thập được do gửi thư xác nhận. Đây là bằng chứng thu thập được có chất lượng
cao, vì được thu thập trực tiếp bởi các kiểm tóan viên. Nó bao gồm một số loại
sau: Bảng xác nhân nợ, xác nhận các khoản phải thu, xác nhận của ngân hàng về
số dư tiền gửi.....
Bằng chứng kiểm toán do kiểm toán viên trực tiếp khai thác và phát hiện như
tự kiểm kê kho, bãi đong,đo, đếm, kiểm kê tài sản, quan sát về hoạt động của hệ
thống nội bộ.
Phân loại bằng chứng theo tính thuyết phục.
Do bằng chứng kiểm toán được sử dụng trực tiếp để đưa ra ý kiến khác nhau
về tính trung thực của các báo tài chính do đơn vị kiểm toán phát hành. Vì vậy,
khi kiểm toán kiểm toán viên cần xem xét đến độ tin cậy của chúng. Các loại ý
kiến mà kiển toán viên đưa ra trong báo cáo kiểm toán sẽ có độ tương ứng với
mức độ thuyết phục của bằng chứng. Ở cách phân loại này bằng chứng kiểm toán
có thể chia thành:
Bằng chứng có tính thuyêt phục hoàn toàn, thường là những bằng chứng do
kiểm toán viên tiến hành tù kiểm kê đánh giá và quan sát. Bằng chứng này
thừơng được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ. Dùa vào những bằng
chứng này kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.
Bằng chứng thuyết phục từng phần như bằng chứng thu được từ phỏng vấn
cần phải phân tích và kiểm tra lại. Các bằng chứng này thường được bảo đảm bởi
hệ thống nội bộ, khi sử dụng các bằng chứng này kiểm toán chỉ có thể đưa ra ý
kiến chấp nhận từng phần.

Vũ Hữu Tú

12

Lớp Kiểm Toán 51A


Bằng chứng không có tính thuyết phục đó là những bằng chứng không có giá
trị cho kiểm toán viên đưa ra các ý kiến, quyết định. Bằng chứng đó có thể do
phỏng vấn ở người quản lí, ban quản trị.
1.2.2 Đặc trưng của bằng chứng kiểm toán
Vấn đề quan trọng nhất đối với kiểm toán viên và các công ty kiểm toán là
thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để hình thành nên ý kiến của
minh về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Do vậy bằng chứng kiểm
toán có ảnh hưởng trực tiếp đến các kết luận kiểm toán. Điều này đòi hỏi bằng
chứng kiểm toán phải có tính thuyết phục.
Các yếu tố quyết định tính thuyết phục của bằng chứng kiểm toán là tính
hiệu lực, tính đầy đủ và tính đúng kỳ.
A, Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán
Hiệu lực là khái niệm dùng để chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng
chứng kiểm toán. Tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán không thể được cải
thiện bằng cách chọn một quy mô mẫu lớn hơn hoặc các khoản mục ở các tổng
thể khác nhau, nó chỉ có thể được cải thiện bằng cách lựa chọn các thủ tục kiểm
toán phù hợp và có chứa một hoặc nhiều hơn sáu đặc điểm sau đây của một bằng
chứng đáng tin cậy.
Thứ nhất là tính thích đáng, bằng chứng phải gắn liền hoặc thích hợp với
mục tiêu mà kiểm toán viên đang khảo sát trước khi nó có tính thuyết phục. Tính
thích đáng chỉ có thể được xem xét trong mối quan hệ với các mục tiêu kiểm toán
đặc thù. Một bằng chứng có thể phù hợp với mục tiêu này nhưng lại không phù
hợp với mục tiêu khác.
Thứ hai là tính độc lập của nguồn cung cấp, bằng chứng có nguồn gốc
càng độc lập với đối tượng được kiểm toán thì càng có hiệu lực. Ví dụ, bằng
chứng thu được từ các nguồn độc lập bên ngoài (như bảng sao kê ngân hàng, xác
nhận cuả ngân hàng về số dư tiền gửi và các khoản công nợ, hóa đơn mua
hàng…) có độ tin cậy cao hơn bằng chứng kiểm toán có được nhờ khách hàng

Vũ Hữu Tú

13

Lớp Kiểm Toán 51A


cung cấp (tài liệu kế toán, tài liệu thống kê ban đầu liên quan đến hoạt động kiểm
toán).
Thứ ba là tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ, bằng chứng thu
được trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt có độ tin cậy cao
hơn so với bằng chứng kiểm toán thu được trong điều kiện hệ thống này hoạt
động kém hiệu quả.
Thứ tư là về kiến thức trực tiếp của kiểm toán viên, bằng chứng do kiểm
toán viên thu được một cách trực tiếp thông qua quá trình quan sát thực tế, tính
toán và điều tra có giá trị hơn các thông tin thu được một cách gián tiếp.
Thứ năm là trình độ cũng như phẩm chất của các cá nhân cung cấp thông
tin, mặc dù nguồn cung cấp thông tin là độc lập, bằng chứng chỉ đáng tin cậy khi
mà người cung cấp có đủ trình độ. Vì lý do này mà xác nhận từ ngân hàng và luật
sư bao giờ cũng đáng tin cậy hơn từ phía những cá nhân không thông thạo việc
kinh doanh.
Thứ sáu là mức độ khách quan, những bằng chứng khách quan đáng tin
cậy hơn so với những bằng chứng đòi hỏi những xét đoán chủ quan để xác định
xem chúng có chính xác hay không.
B, Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán
Đầy đủ là khái niệm chỉ số lượng hay quy mô cần thiết của bằng chứng
kiểm toán để đưa ra ý kiến kết luận cho cuộc kiểm toán. Số lượng và chủng loại
bằng chứng kiểm toán cần thu thập ảnh hưởng đến tính đầy đủ của nó. Với một
thủ tục kiểm toán đã định bằng chứng thu được từ một mẫu có nhiều cá thể hơn
sẽ đầy đủ hơn khi thu được từ một mẫu có ít cá thể hơn. Kiểm toán viên phải cân
nhắc những yếu tố sau khi xem xét tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán.
Thứ nhất là tính hiệu lực của bằng chứng kiểm toán, bằng chứng có độ tin
cậy càng thấp thì càng cần thu thập nhiều. Một (một số ít) bằng chứng có độ tin
cậy thấp chưa đủ để có thể nhận định một cách xác đáng về đối tượng kiểm toán
cụ thể.

Vũ Hữu Tú

14

Lớp Kiểm Toán 51A


Thứ hai là tính trọng yếu, đối tượng cụ thể được kiểm toán càng trọng yếu
thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập càng nhiều. Nhiệm vụ của kiểm
toán viên là phát hiện mọi sai phạm có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính. Các đối tượng cụ thể được xem là trọng yếu thường là các khoản mục có
giá trị lớn. Nếu sai sót xảy ra ở những đối tượng này có thể sẽ ảnh hưởng trọng
yếu tới báo cáo tài chính. Ngược lại, ở các khoản mục có quy mô nhỏ nếu có sai
phạm thì khó ảnh hưởng trọng yếu tới báo cáo tài chính.
Thứ ba là mức độ rủi ro, những đối tượng cụ thể (khoản mục, bộ phận,
nghiệp vụ…) được đánh giá là khả năng rủi ro lớn thì lượng bằng chứng kiểm
toán phải thu thập càng nhiều và ngược lại. Khoản mục có mức độ rủi ro cao khi
hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động yếu thường là khoản mục vốn bằng tiền. Để
phát hiện được đa số sai phạm, cần tăng cường kiểm toán chi tiết đối với khoản
mục và lượng bằng chứng thu được. Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ
hoạt động tốt, khoản mục dễ có sai phạm là khoản mục hàng tồn kho và để giảm
thiểu rủi ro, kiểm toán viên cần tăng cường kiểm tra chi tiết, và do đó tăng lượng
bằng chứng thu thập được.
C, Tính đúng kỳ của bằng chứng kiểm toán
Tính đúng kỳ của bằng chứng kiểm toán thể hiện ở hoặc thời gian bằng
chứng được thu thập hoặc thời kỳ các báo cáo tài chính được kiểm toán. Đối với
các tài khoản trên bảng cân đối kế toán, bằng chứng kiểm toán sẽ thuyết phục
hơn nếu được thu thập gần ngày lập bảng cân đối. Ví dụ sự kiểm kê của kiểm
toán viên đối với các loại chứng khoán vào ngày lập bảng cân đối kế toán sẽ có
tính thuyết phục hơn nếu kiểm tra vào hai tháng trước đó. Tương tự với các tài
khoản trên báo cáo kết quả kinh doanh, bằng chứng sẽ có tính thuyết phục hơn
nếu mẫu được lấy trong suốt thời kỳ kiểm toán so với mẫu được lấy từ một phần
của cả kỳ. Ví dụ mẫu ngẫu nhiên được lấy từ các nghiệp vụ bán hàng của cả năm
sẽ có tính thuyết phục hơn mẫu được lấy từ sáu tháng đầu năm.
Như vậy sức thuyết phục của bằng chứng kiểm toán chỉ có thể được đánh
giá sau khi xem xét tổng hợp tính hiệu lực, tính đầy đủ và tính đúng kỳ. Một mẫu
gồm các bằng chứng có hiệu lực cao chỉ có tính thuyết phục khi nó được thu thập

Vũ Hữu Tú

15

Lớp Kiểm Toán 51A


đúng lúc. Tương tự, một mẫu lớn nhưng gồm các bằng chứng không đáng tin cậy
cũng không có tính thuyết phục.
Mức độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán có thể được đánh giá theo nguyên tắc sau:


Bằng chứng có nguồn gốc từ bên ngoài đơn vị đáng tin cậy
hơn bằng chứng có nguồn gốc từ bên trong;



Bằng chứng có nguồn gốc từ bên trong đơn vị có độ tin cậy cao hơn
khi hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả;



Bằng chứng do kiểm toán viên tự thu thập có độ tin cậy cao hơn bằng
chứng do đơn vị cung cấp;



Bằng chứng dưới dạng văn bản, hình ảnh đáng tin cậy hơn bằng chứng
ghi lại lời nói.

1.2.3 Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán
Thực chất của giai đoạn thực hành kiểm toán là kiểm toán viên dùng các
phương pháp kỹ thuật để thu thập các bằng chứng kiểm toán thích hợp và đầy đủ.
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 500, bằng chứng kiểm toán được thu
thập từ sự phối hợp hài hòa giữa phương pháp kiểm tra các thủ tục kiểm soát và
phương pháp kiểm tra số liệu, trong một số trường hợp, bằng chứng kiểm toán có
thể được thu thập duy nhất từ phương pháp kiểm tra chi tiết số liệu. Cụ thể các
phương pháp kỹ thuật thường được vận dụng trong kiểm toán tài chính bao gồm:
Kiểm tra, Quan sát, Điều tra, Xác nhận, Tính toán, Quy trình phân tích.
1.2.3.1 Các phương pháp thu thập bằng chứng
A, Phương pháp kiểm tra
Kiểm tra là việc soát xét chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài
liệu có liên quan hoặc việc kiểm tra các tài sản cố định hữu hình. Việc kiểm tra
nói trên cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao hay thấp tùy thuộc vào nội dung,
nguồn gốc của các bằng chứng và tùy thuộc vào hiệu quả của hệ thống kiểm soát
nội bộ đối với quy trình xử lý tài liệu đó. Bốn nhóm tài liệu chủ yếu sau đây cung
cấp cho kiểm toán viên các bằng chứng với độ tin cậy khác nhau:

Vũ Hữu Tú

16

Lớp Kiểm Toán 51A




Tài liệu do bên thứ ba lập và lưu trữ;



Tài liệu do bên thứ ba lập và đơn vị được kiểm toán lưu trữ;



Tài liệu do đơn vị được kiểm toán lập và bên thứ ba lưu trữ;



Tài liệu do đơn vị được kiểm toán lập và lưu trữ.
Ưu điểm của kỹ thuật kiểm tra vật chất là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy

cao nhất vì kiểm kê là quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản,mang tính
khách quan. Hơn nữa cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, phù hợp với chức
năng xác minh của kiểm toán.
Tuy nhiên, kỹ thuật này có những hạn chế nhất định. Việc kiểm tra tài sản hữu
hình cung cấp bằng chứng tin cậy về tính hiện hữu của tài sản, nhưng không hẳn
là bằng chứng đủ tin cậy về quyền sở hữu và giá trị của tài sản đó.
B, Phương pháp lấy xác nhận
Lấy xác nhận là quá trình thu thập thông tin do bên thứ ba độc lập cung cấp
để xác minh tính chính xác của thông tin mà kiểm toán viên nghi vấn (Ví dụ:
Kiểm toán viên yêu cầu đơn vị gửi thư cho khách hàng xác nhận trực tiếp đối với
số dư các khoản phải thu của khách hàng…)
Phương pháp này được áp dụng hầu như trong tất cả các cuộc kiểm toán. Ưu
điểm của kỹ thuật xác nhận là bằng chứng thu được có độ tin cậy cao nếu kiểm
toán viên thực hiện đúng quy trình và đảm bảo các yêu cầu:


Thông tin cần phải được xác nhận theo yêu cầu của kiểm toán viên;



Sự xác nhận phải được thực hiện bằng văn bản;



Sự độc lập của người xác nhận thông tin;



Kiểm toán viên phải kiểm soát được toàn bộ quá trình thu thập thư xác
nhận.

Vũ Hữu Tú

17

Lớp Kiểm Toán 51A


Tuy nhiên kỹ thuật này có hạn chế là chi phí thực hiện khá lớn và do đó phạm
vi áp dụng tương đối giới hạn, nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn,
quan hệ rộng, đa quốc gia… Hơn nữa kiểm toán viên cũng cần quan tâm đến khả
năng các xác nhận của bên thứ ba đã qua sự dàn xếp trước của đối tượng được
kiểm toán.
C, Phương pháp quan sát
Quan sát là việc theo dõi một hiện tượng, một chu trình hoặc một thủ tục
do người khác thực hiện (Ví dụ: Kiểm toán viên quan sát việc kiểm kê thực tế
hoặc quan sát các thủ tục kiểm soát do đơn vị tiến hành…)
Kỹ thuật này rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán; bằng
chứng thu được đáng tin cậy. Tuy nhiên bản thân bằng chứng thu được từ kỹ
thuật quan sát chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần đi kèm với kỹ thuật khác. Kỹ
thuật này chỉ cung cấp bằng chứng về phương pháp thực thi công việc ở thời
điểm quan sát, không chắc chắn có được thực hiện ở các thời điểm khác hay
không. Bằng chứng thu được từ kỹ thuật này gọi là kiểu mẫu quan sát.
D, Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp kiểm toán viên thu thập thông tin viết tay hoặc thông tin
bằng lời của khách hàng cho các câu hỏi của kiểm toán viên. Việc phỏng vấn có
thể thực hiện thông qua dưới dạng vấn đáp hay bằng văn bản. Kĩ thuật và kinh
nghiệm phỏng vấn đóng vai trò rất quan trọng để thu được bằng chứng kiểm toán
đáng tin cậy và khách quan. Ví dụ hỏi khách hàng về những quy định của kiểm
toán nội bộ hay hỏi nhân viên về những quy định này.
Quá trình phỏng vấn gồm 3 giai đoạn: Lập kế hoạch, thực hiện phỏng vấn,
kết luận.
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán viên phải xác định mục đích, nội
dung, đối tượng phỏng vấn, thời gian, địa điểm, phỏng vấn, những trọng điểm
cần phỏng vấn và thảo luận.

Vũ Hữu Tú

18

Lớp Kiểm Toán 51A


Giai đoạn thực hiện phỏng vấn, trong giai đoạn này kĩ thuật nêu câu
hỏi của kiểm toán viên là rất quan trọng. Các câu hỏi cần ngắn gọn, dễ hiểu, đúng
mục đích, tạo ra một tâm lí thoải mái cho ngưòi trả lời.
Giai đoạn kết luận, kiểm toán viên phải chú ý đến trình độ của người được
phỏng vấn để rót ra kết luận đúng đắn phục vụ tốt cho mục đích kiểm.
Tuy nhiên, bằng chứng kiểm toán thu được trong quá trình phỏng vấn
có độ tin cậy không cao vì có tính chủ quan của người trả lời, phương pháp này
thực hiện chủ yếu củng cố cho các phương pháp khác.
E, Phương pháp tính toán
Tính toán là việc kiểm tra tính chính xác về mặt toán học của số liệu trên
chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc
thực hiện các tính toán độc lập của kiểm toán viên.
Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần túy về mặt số học,
không chú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được sử dụng. Do đó kỹ thuật
này thường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác như kiểm tra tài liệu, kiểm
tra vật chất, phân tích… trong quá trình thu thập bằng chứng.
Ưu điểm của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao, xét
về mặt số học. Tuy nhiên, nhược điểm của kỹ thuật này là các phép tính và phân
bổ đôi khi khá phức tạp, tốn thời gian đặc biệt khi đơn vị được kiểm toán có quy
mô lớn, loại hình kinh doanh đa dạng, luồng tiền ra vào lớn…
F, Quy trình phân tích
Quy trình phân tích là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất
quan trọng, qua đó tìm ra các những xu hướng, biến động và tìm ra những mối
quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn
so với giá trị đã dự kiến.
Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu
lực gồm ba loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hướng,và phân tích tỷ suất.

Vũ Hữu Tú

19

Lớp Kiểm Toán 51A


Ưu điểm của thủ tục phân tích là tương đối đơn giản, có hiệu quả cao vì
tốn ít thời gian, chi phí cho kiểm toán thấp mà vẫn có thể cung cấp bằng chứng
về sự đồng bộ, chuẩn xác và có giá trị về mặt kế toán, giúp kiểm toán viên đánh
giá được tổng thể không bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể. Thủ tục phân tích do đó
được áp dụng trong tất cả các giai đoạn của quy trình kiểm toán và được xem là
rất hữu ích.
1.2.3.2 Giải pháp giảm thiểu rủi ro
A, Đối với phương pháp kiểm tra
Kiểm toán viên cần thu thập đầy đủ các chứng từ, tài liệu, sổ sách theo
yêu cầu của việc kiểm tra và lựa chọn quy trình kiểm tra phù hợp với mục tiêu
kiểm toán cụ thể cần đạt được: đi ngược với trình tự ghi sổ kế toán hay đúng theo
trình tự đó. Kiểm toán viên cần chú ý đến độ tin cậy của tài liệu chứng minh phụ
thuộc vào nguồn gốc của tài liệu. Nếu sự độc lập của tài liệu thu thập được với
đơn vị được kiểm toán càng cao thì độ tin cậy của tài liệu chứng minh càng cao.
B, Đối với phương pháp lấy xác nhận
Kiểm toán viên cần xác định dạng thư xác nhận thích hợp, các dạng thư
xác nhận khẳng định và điền vào chỗ trống (blank confirmation) nên được sử
dụng nhiều hơn là thư xác nhận dạng phủ định. Việc lấy xác nhận từ các bên thứ
ba độc lập và có uy tín như ngõn hàng cũng làm tăng thêm độ tin cậy của thông
tin so với xác nhận từ các nguồn khác. Một vấn đề hết sức quan trọng khác là
kiểm toán viên phải kiểm soát được quá trình gửi và nhận thư xác nhận. Nội
dung thư xác nhận phải do kiểm toán viên lập và viết thành văn bản. Thư xác
nhận phải do chính kiểm toán viên gửi đi cũng như được yêu cầu hồi õm về đúng
địa chỉ của kiểm toán viên. Có như vậy thì quá trình này mới đảm bảo tính khách
quan và độc lập với đơn vị được kiểm toán. Kiểm toán viên phải hết sức lưu ý
đến khả năng xảy ra thông đồng giữa doanh nghiệp và đối tượng xác minh.
C, Đối với phương pháp quan sát
Đây là phương pháp quan sát thực tế các công việc, tiến trình thực hiện các
công việc của đơn vị, do đó các bằng chứng thu được sẽ không thể hiện tính chắc

Vũ Hữu Tú

20

Lớp Kiểm Toán 51A


chắn ở các thời điểm khác ngoài thời điểm quan sát. Kiểm toán viên cần kết hợp
với các thủ tục kiểm toán khác.

D, Đối với phương pháp phỏng vấn
Kiểm toán viên cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc phỏng vấn, ở cả 3 giai
đoạn của quá trình phỏng vấn: giai đoạn lập kế hoạch, giai đoạn thực hiện phỏng
vấn và giai đoạn kết luận.
-

Giai đoạn lập kế hoạch: xác định mục đích, nội dung, đối tượng cần phỏng
vấn, thời gian địa điểm phỏng vấn, những trọng điểm cần phỏng vấn và thảo
luận, …

-

Giai đoạn thực hiện phỏng vấn: trước hết kiểm toán viên phải cho người được
phỏng vấn biết mình là ai và mục đích lý do của cuộc phỏng vấn … làm cho
đối tượng thoải mái trao đổi những trọng điểm đã xác định và trả lời câu hỏi
của kiểm toán viên không bị miễn cưỡng hoặc bắt buộc. Kỹ thuật nêu câu hỏi
của kiểm toán viên rất quan trọng, phải ngắn gọn, rõ nội dung và mục đích
cần đạt được.

-

Giai đoạn kết luận: kiểm toán viên cần chú ý đến tính khách quan và hiểu biết
của người được phỏng vấn để có được những kết luận đúng đắn, giúp giảm
bớt rủi ro phát hiện. Nếu những kết luận của phỏng vấn có tính chất quan
trọng thì kiểm toán viên cần ghi vào hồ sơ kiểm toán của mình.

Một điều nữa cần phải lưu ý là các cuộc phỏng vấn thường được thực hiện dưới
hình thức vấn đáp. Do đó kiểm toán viên cần sử dụng máy ghi âm để bằng chứng
thu được có thể chứng thực.
E, Đối với phương pháp tính toán
Kiểm toán viên cần tập trung vào vấn đề thực hiện một cách chính xác cơ học.
Sự chuẩn bị kỹ càng các đồ dùng, dụng cụ cần thiết sẽ góp phần tăng độ chính
xác cho kết quả. Chọn thời điểm kiểm kê hay các số dư cần tính toán lại một cách

Vũ Hữu Tú

21

Lớp Kiểm Toán 51A


thớch hợp giúp cho kiểm toán viên có thể phát hiện ra các sai phạm trọng yếu,
giảm được rủi ro phát hiện.
F, Đối với phương pháp phân tích
Các thủ tục phân tích được thực hiện ở cả ba giai đoạn khác nhau của cuộc
kiểm toán: trong giai đoạn lập kế hoạch để giúp kiểm toán viên quyết định những
bằng chứng cần thiết khác nhằm đạt được rủi ro kiểm toán mong muốn, trong
quá trình kiểm toán cùng với các trắc nghiệm độ tin cậy của công việc và trắc
nghiệm chi tiết số dư, và gần cuối cuộc kiểm toán như một cuộc khảo sát cuối
cùng về tớnh hợp lý. Việc thực hiện các thủ tục phân tích ngay trong giai đoạn
lập kế hoạch giúp cho kiểm toán viên có thể phát hiện ra các khả năng sai phạm
để từ đó tập trung tâm kiếm bằng chứng chứng minh trong giai đoạn thực hiện
kiểm toán, điều này làm cho rủi ro phát hiện giảm xuống. Chẳng hạn, khi kiểm
toán chu trình tiền lương và nhân viên, kiểm toán viên có thể tính toán và so sánh
tỷ lệ tiền lương trên doanh thu của năm nay và năm trước. Nếu có sự chênh lệch
lớn trong khi doanh thu thay đổi không đáng kể thì rừ ràng là có vấn đề và kiểm
toán viên cần tập trung làm trừ điểm này. Hay khi kiểm toán doanh thu, kiểm
toán viên có thể xác định tỷ lệ lói trên doanh thu và so sánh giữa năm nay với
năm trước. Nếu có sự biến động lớn thì rất có thể sẽ tồn tại sai sót trọng yếu khi
hạch toán doanh thu, …
1.2.4 Một số bằng chứng kiểm toán đặc biệt cần thu thập
Ngoài các kiểu mẫu bằng chứng kiểm toán cơ bản, trong một số trường hợp
đặc biệt, kiểm toán viên phải thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán khác:
Tư liệu hay ý kiến của các chuyên gia: Chuyên gia là các cá nhân hoặc các
hãng có kỹ năng kiến thức và kinh nghiệm về các lĩnh vực chuyên môn nào đó
ngoài ngạch kế toán và kiểm toán. Bằng chứng này sử dụng trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán
Giải trình của nhà quản lý: Bằng chứng này được sử dụng nhằm mục đích thừa
nhận trách nhiệm của ban giám đốc phải chịu trách nhiệm về sự tin cậy và tính
hợp pháp của các thông tinh trên BCTC qua hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ

Vũ Hữu Tú

22

Lớp Kiểm Toán 51A


thống kế toán. KTV xác minh và đưa ra ý kiến của mình về sự tin cậy và hợp lý
của các thông tin trên BCTC.
Sử dụng tài liệu của kiểm toán viên nội bộ, của kiểm toán viên khác: Bằng
chứng này được sử dụng nhằm mục đích giúp cho KTV xác định lịch trình, nội
dung, phạm vi của các thủ tục kểm toán.
Bằng chứng về các bên hữu quan: Mục đích sử dụng của bằng chứng này là
khi kiểm toán BCTC một đơn vị trong đó có gộp cả thông tin tài chính của đơn vị
cấp trên với một hay nhiều đơn vị cấp dưới và đơn vị kinh tế khác thì KTV sử
dụng tư liệu kiểm toán của KTV khác (là KTV chịu trách nhiệm kiểm toán
BCTC và ký báo cáo kiểm toán của các đơn vị được gộp vào BCTC của đơn vị
cấp trên) về các thông tin tài chính của các đơn vị đó.

Vũ Hữu Tú

23

Lớp Kiểm Toán 51A


CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO KIỂM TOÁN VÀ
BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP TẠI
VIỆT NAM
2.1 Khái quát mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán
Trong thực tế, do giới hạn về quản lý và về chi phí của một cuộc kiểm toán
mà rủi ro kiểm toán luôn luôn tồn tại cho dù kế hoạch kiểm toán và chương trình
kiểm toán được thiết kế chu đáo bởi các kiểm toán viên lành nghề. Nếu mức độ
rủi ro kiểm toán được đánh giá cao đối với các chu trình hay khoản mục khác
nhau trên báo cáo tài chính, điều này đòi hỏi kiểm toán viên phải thu thập nhiều
bằng chứng kiểm toán hơn cả về chất lượng và số lượng phục vụ cho việc đánh
giá các thông tin tài chính so với trường hợp rủi ro kiểm toán được đánh giá thấp.
Như vậy, rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch
với nhau và có thể được khái quát bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ quan hệ giữa rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán (Giáo
Mức rủi ro kiểm toán

trình lý thuyết kiểm toán)

Rủi ro đạt tới

Rủi ro mong muốn

Vũ Hữu Tú

24
O

Lớp Kiểm Toán 51A

Bằng chứng kiểm toán (chi phí)


Bằng chứng kiểm toán không những phụ thuộc vào mức độ rủi ro kiểm toán mà
còn phụ thuộc vào từng thành phần cấu thành nên rủi ro kiểm toán.Trên cơ sở
thông tin phản ánh mức độ của các thành phần trong mô hình rủi ro kiểm toán
(rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện) kiểm toán viên có thể từ đó
quyết định số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập
Bảng mô tả cách thức kiểm toán viên sử dụng thông tin để quyết định
số lượng bằng chứng kiểm toán phải thu thập (Auditing – An integrated
Approach)

Số

lượng

AR

IR

CR

DR

1

Cao

Thấp

Thấp

Cao

Thấp

2

Thấp

Thấp

Thấp

Trung bình

Trung bình

3

Thấp

Cao

Cao

Thấp

Cao

4

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

Trung bình

5

Cao

Thấp

Trung bình

Trung bình

Trung bình

chứng kiểm toán

Ví dụ nếu kiểm toán viên quyết định một mức rủi ro kiểm toán cao cho
một phần hành và kết luận rủi ro xuất hiện các sai phạm trên báo cáo tài chính
thấp, hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động hiệu quả thì một mức độ rủi ro phát
hiện cao là phù hợp, kết quả là một mức độ thấp của bằng chứng kiểm toán cần
thu thập là đủ.
2.2. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán và bằng chứng kiểm toán
2.2.1 Quan hệ giữa rủi ro tiềm tàng và bằng chứng kiểm toán
Rủi ro tiềm tàng là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân
các đối tượng kiểm toán, mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố
như tình hình kinh doanh, loại hình kinh doanh và cả năng lực nhân viên của đơn
vị….Kiểm toán viên không tạo ra rủi ro tiềm tàng, họ chỉ có thể đánh giá chúng.

Vũ Hữu Tú

25

bằng

Lớp Kiểm Toán 51A


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×