Tải bản đầy đủ

Lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả sút bóng cầu môn bằng mu trong bàn chân cho đội tuyển bóng đá nữ trường trung học phổ thông ngô gia tự từ sơn bắc ninh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGUYỄN VĂN NGHĨA

LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SÚT
BÓNG CẦU MÔN BẰNG MU TRONG BÀN CHÂN
CHO ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ NỮ TRƯỜNG THPT
NGÔ GIA TỰ - TỪ SƠN – BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI , 2018


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT

NGUYỄN VĂN NGHĨA

LỰA CHỌN BÀI TẬP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SÚT

BÓNG CẦU MÔN BẰNG MU TRONG BÀN CHÂN
CHO ĐỘI TUYỂN BÓNG ĐÁ NỮ TRƯỜNG THPT
NGÔ GIA TỰ - TỪ SƠN - BẮC NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT

Người hướng dẫn khoa học

THS. VŨ TUẤN ANH

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Nguyễn Văn Nghĩa
Sinh viên: K40-GDTC Trương ĐHSP HN2
Tôi xin cam đoan với Hội đồng khoa học đề tài “Lựa chọn bài tập
nâng cao hiệu quả sút bóng cầu môn bằng mu trong bàn chân cho đội
tuyển bóng đá nữ trường trung học phổ thông Ngô Gia Tự - Từ Sơn - Bắc
Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, đề tài không trùng với kết quả
nghiên cứu của tác giả khác. Các kết quả nghiên cứu này mang tính thời sự
cấp thiết đúng thực tế khách quan của trương THPT Ngô Gia Tự - Từ Sơn Bắc Ninh.
Tôi tự chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về công trình nghiên
cứu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày..... tháng..... năm 2018
Sinh viên

Nguyễn Văn Nghĩa


DANH MỤC VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Từ viết tắt

1.

ĐC

: Đối chứng

2.

ĐH TDTT

: Đại học thể dục thể thao

3.

ĐHSP

: Đại học sư phạm

4.

GDTC

: Giáo dục thể chất

5.

HLV

: Huấn luyện viên

6.

NĐC

: Nhóm đối chứng

7.

NTN

: Nhóm thực nghiệm

8.

NXB

: Nhà xuất bản

9.

NXB

: Nhà xuất bản

10.

STN

: Sau thực nghiệm

11.

TC/TW

: Chỉ thị / trung ương

12.

TDTT

: Thể dục thể thao

13.

TN

: Thực nghiệm

14.

TTN

: Trước thực nghiệm

15.

Th.S

: Thạc sĩ

16.

THPT

: Trung học phổ thông

17.

VĐV

: Vận động viên


DANH MỤC BIỂU BẢNG
Biểu bảng

Nội dung

Trang

Bảng 3.1

Thực trạng đội ngũ giáo viên trương THPT Ngô Gia Tự Từ Sơn - Bắc Ninh.

31

Bảng 3.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC

32

Kết quả kiểm tra sút bóng cầu môn bằng mu trong bàn
Bảng 3.3 chân của nữ đội tuyển bóng đá trường THPT Ngô Gia Tự
- Từ Sơn - Bắc Ninh.

33

Kết quả phỏng vấn lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả sút
bóng cầu môn bằng mu trong bàn chân cho đội tuyển
Bảng 3.4
bóng đá nữ trường THPT Ngô Gia Tự - Từ Sơn - Bắc
Ninh ( n= 20)

37

Bảng 3.5

Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá hiệu quả sút
bóng cầu môn bằng mu trong bàn chân(n=20)

41

Bảng 3.6

Kết quả kiểm tra trước trước thực nghiệm của hai nhóm
đối chứng và thực nghiệm(
=12 VĐV)

43

Bảng 3.7 Tiến trình thực nghiệm
Bảng 3.8

Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của hai nhóm đối chứng
và thực nghiệm ( = =12 VĐV)

Biểu đồ 1 Tại chỗ sút cầu môn (2x3m) sút 10 quả khoảng cách 9m

44
45
46

Đẩy bóng trước mặt sút cầu môn, sút 10 quả khoảng cách
16m50

47

Biểu đồ thể hiện thành tích sút bóng liên tục 5 quả vào cầu
Biểu đồ 3 môn của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm, khoảng
cách 16m50.

47

Bảng 3.9 So sánh ttính trước và sau thực nghiệm ( nA= nB = 12 VĐV)

48

Biểu đồ 2


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ............................... 5
1.1 Quan điểm chỉ đạo của đảng và nhà nước về gdtc trương học. .................. 5
1.2 Đặc điểm của môn bóng đá. ........................................................................ 8
1.3. Cơ sở lý luận về kỹ thuật bóng đá bằng mu trong bàn chân.................... 10
1.3.1. Đặc điểm kỹ thuật bóng đá bằng mu trong bàn chân............................ 10
1.3.2. Đặc điểm dạy học kỹ thuật đá bóng bằng mu trong bàn chân .............. 12
1.4. Những nguyên tắc về huấn luyện bóng đá ............................................... 14
1.4.1. Nguyên tắc tự giác tích cực................................................................... 14
1.4.2. Nguyên tắc dễ tiếp thu........................................................................... 15
1.4.3. Nguyên tắc trực quan ............................................................................ 15
1.4.4. Nguyên tắc kết hợp huấn luyện............................................................. 16
1.4.5. Nguyên tắc hệ thống và liên tục............................................................ 16
1.4.6. Nguyên tắc củng cố và nâng cao........................................................... 17
1.4.7. Nguyên tắc sử dụng hợp lý lượng vận động ......................................... 17
1.4.8. Nguyên tắc đối xử cá biệt...................................................................... 18
1.5. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh thpt ........................................... 19
1.5.1. Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh thpt .......................................... 19
1.5.2. Đặc điểm sinh lý lứa tuổi học sinh thpt ................................................ 20
1.6. Cơ sở lý luận xây dựng bài tập................................................................. 22
CHƯƠNG 2. NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP, TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
..26
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 26
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 26
2.2.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu. ........................................ 26
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn........................................................................ 27
2.2.3. Phương pháp quan sát sư phạm............................................................. 27
2.2.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm............................................................. 27


2.2.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm...................................................... 28
2.2.6. Phương pháp toán học thống kê............................................................ 28
2.3. Tổ chức nghiên cứu.................................................................................. 29
2.3.1. Thời gian nghiên cứu...............................................................................
29
2.3.2. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................
30
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu ...............................................................................
30
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................... 31
3.1. Đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất và năng lực sút bóng cầu
môn bằng mu trong bàn chân của đội tuyển bóng đá nữ trường THPT Ngô
Gia tự - Từ Sơn - Bắc Ninh............................................................................. 31
3.1.1. Thực trạng công tác GDTC trương THPT Ngô Gia tự - Từ Sơn - Bắc
Ninh. ................................................................................................................ 31
3.1.2. Đánh giá thực trạng năng lực sút bóng cầu môn của đội tuyển bóng đá
nữ trường THPT Ngô Gia tự - Từ Sơn - Bắc Ninh......................................... 34
3.1.3. Thực trạng việc sử dụng bài tập cho đội tuyển bóng đá nữ ttrương
THPT Ngô Gia tự - Từ Sơn - Bắc Ninh.......................................................... 35
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập sút bóng cầu môn
bằng mu trong bàn chân cho đội tuyển bóng đá nữ trường trường THPT Ngô
Gia tự - Từ Sơn - Bắc Ninh............................................................................. 36
3.2.1. Lựa chọn các bài tập nâng cao hiệu quả sút bóng cầu môn cho đội tuyển
bóng đá nữ ttrương THPT Ngô Gia tự - Từ Sơn - Bắc Ninh.......................... 36
3.2.2. Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao hiệu quả sút bóng
bằng mu trong bàn chân cho đội tuyển nữ trường THPT Ngô Gia tự - Từ Sơn
- Bắc Ninh. ...................................................................................................... 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển của đất nước, công tác TDTT có nhiều
bước tiến mới. Chúng ta phấn đấu thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và
phát triển phong trào TDTT trong những năm đầu thế kỷ XXI, đưa nền thể
thao nước nhà hoà nhập và đua tranh với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Chính vì vậy mà phong trào TDTT đã phát triển không ngừng, thu hút
nhiều đối tượng tham gia tập luyện.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định
những quan điểm cơ bản về chủ trương lớn để chỉ đạo công tác TDTT trong
sự nghiệp đổi mới. Một trong những quan điểm đó là: "Phát triển TDTT là
một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính sách xã hội, một biện
pháp tích cực giữ gìn và nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa
tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng và giao lưu quốc tế, phục vụ tích
cực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất
nước"[12].
GDTC trong trường học là một mặt giáo dục không thể thiếu được trong
sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân
trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” cho đất nước, để cho mỗi công dân,
nhất là thế hệ trẻ có điều kiện “Phát triển trí tuệ, cường tráng về thể chất ,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”. Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi
ngày càng cao của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
GDTC học đường thực sự có vị trí quan trọng trong việc đào tạo thế hệ
trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ vững và tăng cường an
ninh, quốc phòng. Muốn phát triển được phong trào TDTT của đất nước
không thể coi nhẹ vai trò của giáo dục thể chất trong trường học


2

GDTC góp phần cùng với thể thao thành tích cao, đảm bảo cho nền
TDTT nước ta phát triển cân đối và đồng bộ, nhằm thực hiện mục tiêu chiến
lược củng cố, xây dựng và phát triển thể dục thể thao Việt Nam từ nay đến
năm 2025, đưa nền thể dục thể thao nước ta hòa nhập và đua tranh với các
nước trong khu vực và trên thế giới.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế, xã hội trong những
năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nền TDTT nước ta đã
có những bước phát triển vượt bậc cả về chất và lượng. Mục tiêu của TDTT là
nâng cao sức khỏe, hoàn thiện thể chất, góp phần hình thành con ngươi mới
phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức, có sức khỏe và tâm lý vững vàng
để xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Ngoài ra TDTT còn là phương tiện để giao lưu, học hỏi, tăng cương tình
đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, các Quốc gia trên toàn thế giới, giúp con
người xích lại gần nhau hơn không phân biệt thể chế Chính trị, sắc tộc, tôn
giáo.... trong những năm gần đây lĩnh vực TDTT ngày càng khẳng định được
vị thế và nâng được tầm ảnh hưởng của mình cùng với các lĩnh vực khác để
quảng bá hình ảnh nước Việt Nam đã và đang hội nhập, phát triển có thể sánh
ngang với các nước bạn bè khắp châu lục, cũng như khẳng định được vị thế
trong lĩnh vực thể thao đối với đấu trường khu vực và thế giới.
Bóng đá là môn thể thao “Vua” được đông đảo quần chúng mến mộ và
tập luyện. Trong những năm gần đây, phong trào tập luyện môn bóng đá đã
không ngừng phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng ở mọi đối
tượng trong cả nước. Những trận đấu bóng đá ở trình độ cao đã thực sự cuốn
hút khán giả. Vì vậy bóng đá đã góp phần không nhỏ trong các hoạt động văn
hoá thể thao lành mạnh của quần chúng nhân dân.
Qua quan sát tập luyện và thi đấu của đội tuyển bóng đá nữ trường THPT
Ngô Gia Tự - Từ Sơn - Bắc Ninh, chúng tôi nhận thấy kỹ thuật sút bóng bằng


3

mu trong bàn chân được các cầu thủ sử dụng nhiều nhưng chưa đạt hiệu quả
cao vì đây là một kỹ thuật khó, nếu thực hiện tốt sẽ phát huy rất lớn khả năng
truyền bóng và sút bóng cầu môn. Tuy nhiên, để hình thành được kĩ năng, kĩ
xảo vận động là quá trình lâu dài, cần có phương pháp tập luyện và hệ thống
bài tập phù hợp.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu được biết đã có một số tác giả nghiên
cứu về bóng đá trong nhà trường phổ thông như: Nguyễn Thị Tâm, Nguyễn
Thị Hà, Nguyễn Ngọc Long, Lương Thế Long Khoa GDTC Trương ĐHSP
Hà Nội 2… Tuy nhiên, chưa có tác giả nào nghiên sút bóng cầu môn bằng
mu trong bàn chân cho đội tuyển bóng đã nữ Trương THPT Ngô Gia Tự - Từ
Sơn - Bắc Ninh.
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Lựa chọn bài tập nâng cao hiệu quả sút bóng cầu môn bằng mu trong
bàn chân cho đội tuyển bóng đá nữ Trường Ngô Gia Tự - Từ Sơn - Bắc
Ninh”.
*Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là lựa chọn một số bài tập nhằm nâng
cao hiệu quả sút bóng cầu môn bằng mu trong bàn chân cho đội tuyển bóng
đá nữ trường THPT Ngô Gia Tự - Từ Sơn - Bắc Ninh và khẳng định được
hiệu quả của các bài tập, từ đó tạo điều kiện cho đội tuyển tập luyện và thi
đấu đạt kết quả cao.
*Giả thiết khoa học: Nếu thực trạng khả năng quả sút bóng cầu môn bằng
mu trong bàn chân của đội tuyển bóng đá nữ trường THPT Ngô Gia Tự - Từ
Sơn - Bắc Ninh không tốt, thì cần có biện pháp cải thiện, nâng cao qua đó
phát huy hiệu quả công tác huấn luyện trong nhà trường.


4

Nếu lựa chọn hợp lý, khoa học các bài tập nâng cao hiệu quả sút bóng cầu
môn bằng mu trong bàn chân cho đối tượng nghiên cứu thì sẽ có hiệu quả
trong việc nâng cao thể thành tích cho đối tượng nghiên cứu đó.
Nếu xây dựng chương trình thực nghiệm khoa học, hợp lý với chương trình
học và thực tế thì sẽ có tác dụng nâng cao nâng cao hiệu quả sút bóng cầu
môn bằng mu trong bàn chân cho đối tượng nghiên cứu.


5

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về GDTC trường.
Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển TDTT vì sức
khỏe nhân dân, Bác kêu gọi toàn dân thường xuyên rèn luyện thân thể giữ gìn
sức khỏe và nâng cao thể lực. Bác Hồ tin yêu thế hệ trẻ, quan tâm và chăm
sóc đến sự phát triển thể chất của thế hệ trẻ, ngày về thăm Trường Trung cấp
TDTT Trung ương (nay là Trương Đại học TDTT Bắc Ninh ), Bác đã căn
dặn: "... Các cháu học TDTT không phải để đạt ông kiện tướng này, bà kiện
tướng nọ. Cái chính là người cán bộ phục vụ đắc lực cho nhân dân, đem hiểu
biết của mình ra hướng dẫn mọi người cùng tập luyện để nâng cao sức khỏe
đẩy lùi bệnh tật..." [10].
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đặt nền tảng xây dựng
sự nghiệp TD,TT của nước ta là: TD,TT là một công tác cách mạng vừa là
nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của
toàn dân, do dân và vì dân. Tiêu biểu cho tư tưởng của Bác là lời kêu gọi toàn
dân tập thể dục: "Giữ gìn dân chủ xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc
gì cũng cần có sức khỏe mới thành công, mỗi một người dân yếu ớt là làm
cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi người dân mạnh khỏe tức là góp phần cho
cả nước mạnh khỏe. Vậy, rèn luyện tập Thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận
của mỗi người dân yêu nước. Việc đó không tốn kém, khó khăn gì, gái trai,
già trẻ, ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít
phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ.
Như vậy thì sức khỏe. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào ta ai
cũng gắng tập thể dục. " [8].


6

Định hướng về công tác giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trong
những năm tới, Nghị quyết Trung ương II khóa VIII đã khẳng định: "Giáo dục
đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách
hàng đầu... Chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI... Muốn
xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn
diện, không chỉ phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức lối sống mà phải là
con người cường tráng về thể chất. Chăm lo cho con người về thể chất là trách
nhiệm của toàn xã hội của tất cả các ngành các đoàn thể, trong đó có giáo dục đào tạo, y tế TD, TT.
Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về phát triển sự nghiệp TD,
TT: "Phát triển TD, TT là bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con
người công tác TD, TT phải góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh làm phong phú đơi sống văn hóa tinh
thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của
các lực lượng vũ trang"
Trong các văn bản Nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng
nền TD, TT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, phát triển rộng rãi phong
trào TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao và tăng cường công tác GDTC
trong nhà trường các cấp với khẩu hiệu: "Khỏe để xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc” Cũng như khẳng định phát triển TD, TT là trách nhiệm của các cấp ủy
Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội.
Chỉ thị 36 CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nêu: "Mục tiêu cơ
bản lâu dài của công tác TD, TT là hình thành nền TD, TT phát triển và tiến
bộ, góp phần nâng cao sức khỏe thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần
của nhân dân... thực hiện nền giáo dục thể chất trong tất cả các trường học, làm
cho


7

việc tập luyện TD, TT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh sinh viên" [1].
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 có ghi:
"Quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trương học". Điều đó đã khẳng định
sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với TD, TT và GDTC trong
nhà trường, coi đó là nhiệm vụ cấp thiết của Đảng và toàn dân, để tạo điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển TD, TT nước nhà. Chỉ thị 133 của Thủ tướng
chính phủ đã chỉ rõ “Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc giáo
dục thể chất trong nhà trương. Cải tiến nội dung giảng dạy TD,TT nội khóa,
ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh ở các cấp
học, quy chế bắt buộc ở các trường, nhất là các trường đại học phải có sân bãi,
phòng tập TD, TT, có định biên hợp lý và có kế hoạch đào tạo đội ngũ giáo
viên TDTT đáp ứng nhu cầu ở tất cả cấp học" [7].
Luật giáo dục đã khẳng định: "Giáo dục là con đường chủ yếu và cơ bản để
chuẩn bị cho con người cho sự phát triển bền vững của đất nước trong
điều kiện kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là con người
có sức khỏe và được phát triển toàn diện, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc"[11].
Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng
mà sự nghiệp giáo dục - đào tạo, cũng như xác định đúng về vị trí GDTC
trong nhà trương các cấp phải được triển khai thực hiện đồng bộ với các mặt
giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến Đại học. Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công tác
GDTC trong nhà trương các cấp. Trong đó đã khẳng định: "Giáo dục thể chất
được thực hiện trong nhà trương từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo
những công dân phát triển toàn diện. GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục


8

tiêu giáo dục và đào tạo, nhằm giúp con ngươi phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức".
1.2. Đặc điểm của môn bóng đá.
Bóng đá là môn thể thao có tính tập thể. Trong quá trình thi đấu các cầu
thủ phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là khi có bóng thì tổ chức tấn công cầu
môn đối phương; khi mất bóng thì chuyển sang phòng thủ. Trong tấn công
cũng như phòng thủ, các cầu thủ cần khắc phục những hoạt động đối kháng,
cản trở của đối phương bằng cách linh hoạt chạy, dừng đột ngột, thay đổi
hướng và tốc độ động tác, đá bóng, giữ bóng, dẫn bóng…, tạo cho hành động
của mình phù hợp với tình huống xảy ra trên sân.
Bóng đá là môn thể thao đối kháng gián tiếp, các tình huống trên sân rất
đa dạng và phức tạp đòi hỏi phải có ý chí chiến đấu cao, sự phối hợp thông
minh của cả một tập thể. Sự phong phú đa dạng và hấp dẫn của bóng đá được
thể hiện ở 3 đăc điểm lớn sau: Tính tập thể, tính chiến đấu và tính phức tạp
[5].
* Bóng đá là môn thể thao có tính tập thể
Trận đấu bóng đá được tiến hành trên một sân rộng với 2 tập thể đông
người, Trong một đội bóng các cá nhân cầu thủ rất quan trọng, một đội bóng
hay không thể thiếu những cầu thủ xuất sắc. Tuy nhiên không có bất cứ một
cầu thủ nào đủ sức vượt qua một không gian rộng lớnvà sự cản phá quyết liệt
của đối phương để ghi bàn thắng. Điều đó có nghĩa là sức mạnh của đội bóng
được thể hiện trước hết ở tính tập thể. Điều này đòi hỏi các cầu thủ phải biết
chơi có tổ chức, biết phối hợp chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau trong tấn
công cũng như trong phòng ngự vì mục đích chung của toàn đội là giành
chiến thắng.


9

Với trình độ kỹ thuật, chiến thuật cao như ngày nay do vậy tính tập thể
trong thi đấu cũng đòi hỏi ngày càng cao, trong tấn công cũng như trong
phòng ngự đòi hỏi toàn đội phải tham gia.
Thực chất của việc nâng cao trình độ chiến thuật là nâng cao trình độ
hiệp đồng tổ chức tấn công và phòng thủ, nâng cao tính tập thể của đội bóng.
* Bóng đá là môn thể thao có tính chiến đấu cao
Trong thi đấu đội nào cũng muốn giành chiến thắng, vì vậy các đội
thường sử dụng mọi biện pháp trong khuôn khổ luật cho phép để tiến hành tấn
công cũng như phòng thủ. Có thể nói trận đấu bóng đá là cuộc đấu ý chí, đấu
trí, đấu lực, đấu về trình độ kỹ chiến thuật giữa hai đội. Cuộc đấu này được
tiến hành trong thời gian dài với sự đối kháng trực tiếp của các cầu thủ. Do đó
có thể nói tính chiến đấu thể hiện trong trận đấu rất cao, đội nào thể hiện được
sự vượt trội về mọi mặt mới có thể làm chủ trận đấu và giành chiến thắng.
Chính tính chiến đấu cao của bóng đá là một trong những yếu tố quan
trọng hấp dẫn khán giả ở mọi lứa tuổi [5].
* Bóng đá là môn thể thao phức tạp
Một đặc điểm rất đặc biệt của bóng đá là các cầu thủ không được dùng
tay chơi bóng (trừ thủ môn trong khu vực được phép) mà chủ yếu là dùng
chân và các bộ phận cơ thể khác để điều khiển trái bóng tròn. Hai yếu tố này
đã nói lên phần nào đặc tính phức tạp của bóng đá. Chân và các bộ phận khác
của cơ thể (đầu, ngực, vai) là các bộ phận ít linh hoạt, nhưng trong bóng đá
không chỉ thực hiện các chức năng vốn có của nó mà còn được dùng để thực
hiện nhiệm vụ vô cùng quan trọng là điều khiển trái bóng tròn, một vật thể rất
linh hoạt, với các yêu cầu rất khác nhau, đây là điều vô cùng phức tạp.
Như trên đã nói sự đối kháng trong thi đấu cũng là một yếu tố tạo nên
tính phức tạp. Trong quá trình thực hiện các hoạt động luôn bị đối phương cản
trở, tấn công.


10

Bóng đá là môn thể thao tình huống. Trong thi đấu vô vàn tình huống
xảy ra mà cầu thủ phải giải quyết tức thời, mà trong thực tế các tình huống đó
thường diễn ra rất đa dạng và không hề lặp lại. Đây là điều vô cùng khó khăn
nhưng đồng thời lại cũng vô cùng hấp dẫn của bóng đá.
Bóng đá ngày càng phát triển yêu cầu đối với cầu thủ ngày càng cao. Để
đáp ứng được tốt những yêu cầu đó thì trong mỗi cầu thủ phải biết vận dụng
một cách linh hoạt, sáng tạo và hợp lí các kỹ, chiến thuật cả trong tấn công lẫn
phòng thủ ở trình độ cao, trong nhịp độ cao của trận đấu [5].
1.3. Cơ sở lý luận về kỹ thuật đá bóng bằng mu trong bàn.
1.3.1. Đặc điểm kỹ thuật bóng đá bằng mu trong bàn chân
Là kiểu đá bóng cơ bản và thông dụng được sử dụng rất phổ biến vì
động tác thực hiện dễ, thuận lợi khi lăn mọi hướng, bóng bổng, bóng chết.
Kiểu đá này có ưu điểm tạo đường bóng đi căng và chính xác. Có tác dụng rất
lớn trong chuyền bóng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sút bóng cầu
môn và phá bóng.
1.3.1.1. Giai đoạn chạy đà:
Đương chạy chếch 450 so với hướng bóng đi. Khi chạy đà, tốc độ tăng
dần đều, bước ngắn, tần số cao để dễ điều chỉnh bước cuối cùng khi đặt chân
trụ. Bước cuối cùng khi chuẩn bị đặt chân trụ phải dài để giảm độ lao của cơ
thể về trước, tạo điều kiện thuận lợi cho giai đoạn tiếp theo. Do hướng chạy
đà chếch nên thực tế tư thế thân người hơi ngả vào phía trong, đương chạy đà
hơi vòng, biên độ động tác tay vung lớn, chạy đà phải thoải mái, tránh gò bó
căng thẳng.
1.3.1.2. Giai đoạn đặt chân trụ:
Giai đoạn này có tác dụng nhằm tạo thành điểm tựa vững chắc của
trọng tâm cơ thể. Động tác đặt chân trụ từ gót chân chuyển qua má ngoài rồi
mới tới mũi bàn chân, mũi bàn chân trụ phải thẳng với hướng định đá đi. Tư


11

thế thân người nghiêng về chân trụ phải thẳng so với hướng đá đi. Tư thế thân
người nghiêng về chân trụ và hơi ngả về sau, đầu gối chân trụ hơi khuỵu
xuống để giữ thăng bằng, trọng tâm cơ thể dồn vào chân trụ.
Vị trí chân trước đặt cách bóng chừng 20 - 25cm về phía bên và lùi
phía sau một chút (đương tiếp tuyến của bóng với mặt đất). Tất nhiên tùy
thuộc vào tầm vóc và thói quen của từng cầu thủ.
1.3.1.3. Giai đoạn vung chân lăng:
Khi vung chân về sau, đùi hơi mở ra do ảnh hưởng của các cơ duỗi,
dạng và xoay đùi ra ngoài, đương vung chân về sau hơi chếch về phía chân
trụ. Để giữ thăng bằng cho cơ thể, tay đối diện với chân lăng cũng đánh mạnh
về sau.
Sau khi chân lăng vung hết ra thì chuyển động ngược chiều về trước,
lúc này bàn chân duỗi hết và hơi bẻ ra chuẩn bị cho giai đoạn tiếp xúc bóng.
Động tác vung về trước làm cho đùi hơi khép lại và khi đùi gần tới phương
thẳng đứng thì đường chuyển động của chân gần như thẳng hàng với hướng
sút bóng (lúc đó bàn chân vẫn bẻ ra ngoài). Tay đối diện với chân đá và thân
người hơi gập xuống làm nhiệm vụ giữ thăng bằng, vừa hỗ trợ cho hoạt động
của cơ chân.
1.3.1.4. Giai đoạn tiếp xúc bóng:
Là giai đoạn quan trọng nhất quyết định toàn bộ kỹ thuật sút bóng bởi
vì điểm tiếp xúc quyết định tính bản chất của quả bóng được đá đi và quyết
định hình thức bay của bóng. Giai đoạn này quyết định độ chuẩn xác giúp
bóng đi đúng đích.
Vị trí tiếp xúc của chân với bóng là cạnh trong của các xương giữa bàn
chân tính từ ngón cái tới phía trong mắt cá chân. Do đương vung chân khi đá
mu trong tạo thành một mặt phẳng của đất bằng một góc nhọn nên mu trong
bàn chân tiếp xúc bóng cũng hơi chếch. Bàn chân tuy bẻ ra ngoài nhưng giữ ở


12

tư thế vững chắc, nhơ thế mà động tác đá vẫn mạnh và cổ chân không bị chấn
thương (do đá hỏng). Mặt khác, mặc dù đương vung chân chếch nhưng mu
trong bàn chân tiếp xúc đúng phía sau của quả bóng và lực đã thông qua tầm
đá về phía trước (đương vung chân thẳng hướng về trước) vì thế đường bóng
đi thẳng, không bị xoáy.
Những cầu thủ mới tập thường mắc khuyết điểm là không duỗi hết mu
bàn chân và tiếp xúc bóng lệch tâm bóng, vì thế bóng không đi đúng mục tiêu
và bị xoáy lệch hướng, đồng thời bị phân tán lực nên bóng đi yếu, không căng
được.
Đối với cầu thủ có trình độ kỹ thuật cao có thể vận dụng kỹ thuật này
để đá bóng vòng cung “hình quả chuối” vì cầu thủ chủ động tiếp xúc lệch tâm
bóng, miết từ phía ngón cái lướt vòng qua lòng bàn chân.
1.3.1.5. Giai đoạn kết thúc bóng:
Khi đá bóng đi thì tiếp tục đưa hông về phía trước , chân đá sau khi
vung về trước thì hạ xuống đất tiếp tục bước 1- 2 bước để giảm tốc độ chuyển
động của cơ thể. Hai tay dang rộng tự nhiên để giữ thăng bằng cho cơ thể.
Nếu như bóng vừa đá đi mà chân đã dừng đột ngột hoặc thu lại liền sẽ
ảnh hưởng đến đường bóng đi.
1.3.2. Đặc điểm dạy học kỹ thuật đá bóng bằng mu trong bàn chân
Đặc điểm cơ bản trong việc dạy học động tác là phải đảm bảo được mối
liên hệ tối ưu giữa các yếu tố ,từ đó việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo sẽ nhanh
hơn. Mặt khác trong yêu cầu kỹ thuật động tác cần làm tăng tính biến đổi
không ngừng, phù hợp với luật thích ứng - phát triển - lại thích ứng - lại phát
triển kể cả việc không ngừng thay đổi tình huống, mục đích giúp cho học sinh
nâng cao khả năng tiếp thu động tác kỹ thuật, thúc đẩy nhanh quá trình hình
thành kỹ năng kỹ xảo trong việc học kỹ thuật, linh trong tập luyện và thi đấu.
Để xác định các giai đoạn của quá trình giảng dạy, phải dựa trên quy
chế quy luật nhận thức và quy luật hình thành kỹ năng, kỹ xảo là mục đích


13

của giảng dạy. Vì nó là mức độ đạt được trong thực hiện động tác, qua từng
giai đoạn học tập kỹ năng, kỹ xảo có sự khác nhau về mức độ tiếp thu kỹ
thuật động tác.
Kỹ năng vận động thể hiện ở mức độ thấp hơn kỹ xảo tức là ở mức độ
nắm được mấu chốt và thực hiện kỹ thuật động tác. Nếu kỹ năng vận động
không được củng cố liên tục có thể sẽ bị phá vỡ. Nếu kỹ năng được lặp lại
nhiều lần thì động tác sẽ trở nên nhuần nhuyễn thuần thục, động tác sẽ dần
chuyển sang tự động hóa và kỹ năng đó sẽ trở thành kỹ xảo. Đặc điểm tiêu
biểu chính của kỹ xảo vận động thể hiện ở mức độ thực hiện động tác một
cách tự động ở mức độ vững chắc cao.
Một điểm quan trọng nữa là hiệu quả công tác giảng dạy nói chung và
giảng dạy kỹ thuật này nói riêng phụ thuộc vào mức độ thỏa mãn các tiền đề
sau:
- Sẵn sàng tiếp thu động tác: Trước khi giảng dạy một động tác nào đó
phải nắm được xem ngươi tập đã sẵn sàng tiếp thu chưa, nếu chưa chuẩn bị sơ
bộ có thể phát hiện được bằng các bài tập kiểm tra, các thông tin về kinh
nghiệm vận động bước đầu của ngươi tập, các bài tập chuẩn bị, đặc biệt là các
bài tập dẫn dắt, sự chuẩn bị thương biểu hiện ở 3 yếu tố:
+ Mức độ phát triển các tố chất thể lực
+ Khả năng vận động
+ Yếu tố tâm lý
Qua quá trình học động tác đá bóng bằng mu trong bàn chân có đặc
tính là: Quá trình dạy học động tác phải dựa trên giai đoạn tương ứng của quá
trình hình thành các kỹ năng, kỹ xảo. Quá trình tập luyện kỹ năng trở thành
kỹ xảo vận động ở mức độ tương đối hoàn thiện thì phải qua 3 giai đoạn tiêu
biểu khác nhau cả về nhiệm vụ sư phạm lẫn về phương pháp giảng dạy.


14

*Giai đoạn 1: Dạy học ban đầu về động tác. Nó tương ứng với giai
đoạn thực hiện kỹ thuật động tác ở mức độ chung. Các động tác hoạy động
còn vụng về, thô và hiệu quả thấp.
*Giai đoạn 2: Thể hiện tiêu biểu trong quá trình dạy học động tác là đi
sâu, chi tiết hóa, trọng tâm, nâng cao yêu cầu. Kết quả là khẳng năng vận
động được chính xác một phần kỹ thuật, kỹ năng được chuyển hóa, được
chuyển thành kỹ xảo.
*Giai đoạn 3: Củng cố hoàn thiện và nâng cao mọi kết quả đạt được ở
giai đoạn 2. Mục đích giúp cho kỹ xảo được vững chắc. Ở giai đoạn này việc
khắc phục một số nhược điểm nhỏ của ngươi tập rất cần thiết, điều quan trọng
là giáo viên phải chỉ ra cho họ được điểm yếu đó và có phương pháp sửa chữa
tối ưu nhất. Một yêu cầu quan trọng nữa là phải đảm bảo yêu cầu của các
nguyên tắc giảng dạy là từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp để sao cho
người tập có thể tiếp thu kỹ thuật một cách có hiệu quả và nhanh nhất.
Như vậy: Cơ sở lý luận của việc tăng nhanh khả năng tiếp thu kỹ thuật
đá bóng bằng mu trong bàn chân bao gồm những điểm cơ bản sau:
- Hiểu và nắm chắc nguyên lý kĩ thuật động tác đá bóng bằng mu trong
bàn chân.
- Phải căn cứ vào nguyên lý quy luật nhận thức và quy luật hình thành
kỹ năng, kỹ xảo vận động của con người.
- Phải có phương pháp giảng dạy tối ưu, đúng quy trình và đảm bảo
tuân thủ theo yêu cầu của nguyên tắc huấn luyện và giảng dạy.
1.4. Những nguyên tắc về huấn luyện bóng đá.
1.4.1. Nguyên tắc tự giác tích cực
Đây là nguyên tắc mang tính chủ quan, do đó nó có tác dụng quyết định
đến việc nâng cao kết quả tập luyện của ngươi tập. Tính tự giác tính cực chủ


15

yếu phụ thuộc vào lòng ham muốn, ý chí nghị lực của người tập, song nó còn
một số mặt khác tác động đến:
+ Khả năng nhận thức về mục đích, nhiệm vụ … của người tập luyện.
+ Ảnh hưởng của các khoa mục đối với đặc tính ngươi tập luyện.
+ Khả năng tiếp thu tri thức và ứng dụng của nó vào thực tế thi đấu.
Tất cả mọi người tập luyện, ngoài tính tự giác do lòng ham mê mà còn
phải làm cho mình có một bản lĩnh: Chủ động, lý trí, biết ghép mình vào kỹ
thuật, tự giác, chặt chẽ. Có như vậy mới vượt qua được những khó khăn gian
khổ trong tập luyện.
1.4.2. Nguyên tắc dễ tiếp thu
Muốn đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc này thì trong giảng dạy, huấn
luyện đòi hỏi người giáo viên, HLV phải dành nhiều thời gian cho việc chuẩn
bị giáo trình, giáo án. Bên cạnh đó giáo viên, HLV cần phải có những bài tập
phong phú cả về nội dung và cách thức tiến hành để phù hợp với từng đối
tượng tập luyện. Bài tập càng có tính hấp dẫn thì càng dễ tập và càng có hiệu
quả cao. Không những thế người giáo viên, HLV cũng cần phải chuẩn bị tốt
phương tiện và dụng cụ tập luyện. Lựa chọn dụng cụ tập luyện hợp lý cũng
góp phần tạo cho đối tượng tập luyện khả năng dễ tiếp thu.
Muốn thực hiện nguyên tắc dễ tiếp thu cũng cần phải phát huy tốt
nguyên tắc hệ thống, tức là đảm bảo tiến hành từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp.
1.4.3. Nguyên tắc trực quan
Là một trong những nguyên tắc giảng dạy, huấn luyện có hiệu quả cao
nhất, là phương pháp đơn giản dễ hiểu. Trong nguyên tắc này ở khâu thực
hành có thể chia ra làm 2 loại: Trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp.
+ Trực quan trực tiếp


16

Là phương pháp giới thiệu các bài tập, động tác thật cho ngươi tập
luyện “xem” và “nhìn” thấy toàn bộ như: HLV làm mẫu kỹ thuật động tác đá
bóng bằng lòng bàn chân cho VĐV xem.
+ Trực quan gián tiếp
Là phương pháp giới thiệu các bài tập, động tác không “thật” nhưng
đúng và thường là rất chính xác, mẫu mực. Trực quan gián tiếp có thể là toàn
bộ như phim và cũng có thể là không toàn bộ như xem tranh ảnh.
1.4.4. Nguyên tắc kết hợp huấn luyện
Là nguyên tắc kết hợp giữa toàn diện và nâng cao, thông thương được
sử dụng trong việc phát triển thể lực và cũng ở đây nó thường được biểu hiện
rõ nét nhất. Trong huấn luyện việc phát triển thể lực chuyên môn sẽ không thể
đạt kết quả cao nếu không lấy việc phát triển thể lực toàn diện thương xuyên
làm cơ sở. Việc phát triển thể lực và các yếu tố khác một cách toàn diện kết
hợp với nâng cao chuyên môn là điều bắt buộc trong bóng đá, nhưng cũng
phải xác định rõ thế nào toàn diện, thế nào là chuyên môn.
1.4.5. Nguyên tắc hệ thống và liên tục
Trong công tác giảng dạy và huấn luyện bóng đá, về phía truyền thụ
cũng như về phía tiếp thu, cần duy trì tính hệ thống và liên tục. Ngươi giáo
viên, HLV nếu không đảm bảo được tính hệ thống khoa học thì quá trình
huấn luyện sẽ bị gián đoạn làm cho người tập mất khả năng tích lũy liên tục.
Do đó, không thể nâng cao được hiệu suất tiếp thu dẫn đến kết quả kém, đôi
khi có thể phá hủy những gì trước đó đã đạt được.
Nguyên tắc hệ thống và liên tục còn đảm bảo cho phương pháp giảng
dạy được tiến hành theo trình tự từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ cơ bản đến nâng cao.


17

1.4.6. Nguyên tắc củng cố và nâng cao
Quá trình tiếp thu trong tập luyện bóng đá mà chủ yếu là tiếp thu các kỹ
thuật, các bài tập mới diễn ra như sau: Lúc đầu là mới lạ khó thực hiện,tiếp
đến quen dần và trở thành dễ dàng, rồi qua một thời gian củng cố liện tục mà
nó trở thành của riêng mình, trở thành thói quen (kỹ xảo động tác), đó là quá
trình củng cố và nâng cao.
Củng cố đòi hỏi sự lặp lại nhiều lần theo đặct tính tăng cương. Sự lặp
lại này có khi là nhiều ngày , hằng năm. Qúa trình lặp lại chính là sự vận động
của “lượng” dễ tới một mức độ nào đó tạo nên bước nhảy vọt từ “lượng” biến
thành “chất” bước sang khái niệm nâng cao. Trong bóng đá,nâng cao chủ yếu
được biểu hiện ở tính sử dụng, thi đấu, củng cố bao giơ cũng phải đi trước và
là cơ sở để nâng cao, đồng thơi nâng cao cũng sẽ là cái mốc cho việc hình
thành mức độ củng cố mới. Đó là hai phạm trù của sự phát triển liên tục
không ngừng trong họat động tập luyện TDTT.
1.4.7. Nguyên tắc sử dụng hợp lý lượng vận động
Hoạt động trong bóng đá dù ít hay nhiều đều phải thông qua một khối
lượng vận động nhất định thích hợp với từng đối tượng cụ thể.
Trong khái niệm về lượng vận động có hai yếu tố là: lượng vận động
thể lực và lượng vận động sinh lý.
- Lượng vận động thể lực là kết quả của một lần sử dụng một lượng vận
động nào đó. Nó có ý nghĩa về hiệu quả tức thơi.
- Lượng vận động sinh lý mang tính chất tích lũy tổng hợp có hệ thống
của nhiều lượng vận động thể lực. Nó chính là lượng vận động chuyên hóa.
Trong nguyên tắc hợp lý của lượng vận động có hai yếu tố chú ý:
*Thành phần của lượng vận động.
- Cương độ bài tập:


18

Lượng oxy tiêu thụ trong các cơ quan của cơ thể tỷ lệ lập phương với
sự tăng cương độ. Tức là nếu tăng cường vận động thì thơi gian tăng này là
rất ngắn. Trong các cách thức tăng cường độ vận động thì tăng cương độ vận
động là chóng gây mệt mỏi nhất.
- Thơi gian của bài tập:
Tỷ lệ nghịch với tốc độ vận động. Trong luyện tập bóng đá thông
thường một nội dung tập từ 20 giây đến 2 phút, phụ thuộc vào tốc độ của bài
tập. Nói chung không nên kéo dài quá giới hạn này.
- Thơi gian nghỉ giữa các bài tập:
Là nghỉ phục hồi có tính chất tạo điều kiện trả lại lượng oxy bị giảm
quá nhanh cho các cơ quan của cơ thể. Do vậy ở đây là nghỉ tích cực. Đặc
điểm thời gian phục hồi của cơ thể là lúc đầu nhanh sau chậm dần.
- Số lần lặp lại của bài tập:
Càng nhiều càng có khả năng tăng lượng vận động. Tuy nhiên khi sử
dụng phương pháp lặp lại cần chú ý tới tính “hấp dẫn” cần thiết của các bài
tập. Bài tập kém hấp dẫn sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả.
*Lượng vận động tối đa:
Thương khi tăng khối lượng vận động, lúc đầu kết quả nâng lên rõ rệt,
sau đó giảm dần và có trường hợp mất hẳn tác dụng, khi đó ngươi ta gọi đó là
giới hạn của lượng vận động. Cần luôn luôn kiểm tra và đánh giá giới hạn của
lượng vân động bằng nhận xét chuyên môn, bằng kiểm tra y học, sự chính xác
của lượng vận động tối đa sẽ có tác dụng trực tiếp tới thành tích tập luyện.
1.4.8. Nguyên tắc đối xử cá biệt
Nguyên tắc này đòi hỏi phải tính toán đến đặc điểm cá nhân VĐV, đặc
điểm sinh lý lứa tuổi, giới tính và trình độ tập luyện, thể lực và tâm lý…
Phải xác định được mức độ thích hợp cho các vận động viên khác nhau,
trước hết phải dựa vào yêu cầu chương trình có tính chất tiêu chuẩn cho từng


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×

×